CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam về các nội dung có liên quan đến các vấn đề của luận án. Mục tiêu của chương một nhằm thu thập các luận giải quan trọng và tạo nền tảng để đề tài có thể kế thừa về cơ sở lý luận cũng như kết quả của các nghiên cứu trước đây. Từ đó, tác giả luận án nhận xét và tìm ra khe hổng nghiên cứu nhằm định hướng cho luận án.
Tác giả luận án tiếp cận với các nghiên cứu nước ngoài thuộc danh mục Scopus, Web of Science (ISI) và các luận án tiến sĩ cùng lĩnh vực thông qua các công cụ như Google Scholar, Science Direct, Emerald,…. Để có được các tài liệu này, công cụ tìm kiếm Google Scholar được sử dụng để tìm từ khóa, sau đó vào các trang web của Scopus (https://www.com), ISI (http://mjl.com) để kiểm tra các tạp chí mà bài báo được đăng có thuộc danh mục Scopus, ISI hay ABDC không và lựa chọn các bài nghiên cứu phù hợp hợp đưa vào phần tổng quan. Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả luận án cũng sử dụng công cụ Google Scholar để tìm kiếm các từ khóa có liên quan đến nội dung luận án. Sau đó lựa chọn các luận án, các bài báo hoặc các bài hội thảo trên các tạp chí và Hội thảo uy tín để đọc, tìm hiểu và đưa vào phần tổng quan.
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công Mô hình ban đầu về thay đổi kế toán ở khu vực công dựa trên lý thuyết dự phòng của Lũder (1992) được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện thông qua các nghiên cứu thực nghiệm bởi Lũder (1994, 2002). Đây là một trong những mô hình tốt nhất về cải cách kế toán khu vực công, mô hình giải thích quá trình đổi mới kế toán về các biến theo ngữ cảnh sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người sử dụng khi khai báo các thông tin tài chính của chính phủ. Một sự kết hợp của các điều kiện thuận lợi theo ngữ cảnh và thái độ/hành vi sẽ tạo điều kiện cho một sự thay đổi thành công.
Mô hình này đã được các nhà nghiên cứu khác kế thừa để thực hiện so sánh giữa các quốc gia có cùng bối cảnh với 20 nhau để xác định các động lực chính để các quốc gia này thực hiện đổi mới. Hầu hết các nghiên cứu về tình hình cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công đều tập trung đề xuất một mô hình để giải thích sự đổi mới trong công tác kế toán nhằm tạo ra một hệ thống thông tin chất lượng và đáng tin cậy hơn thông qua mô hình dự phòng của Lũder. Kế thừa nghiên cứu của Lũder (1992 và 1994) và thông qua phương pháp nghiên cứu định tính thì các dòng nghiên cứu sau đây lần lượt phát hiện ra các nhân tố làm hạn chế quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở các quốc gia trên thế giới. Thứ nhất, nghiên cứu của Jaruga và Nowak (1996) không chỉ xem xét về hành vi và thái độ của các tác nhân chính trong quá trình đổi mới mà nó còn xem xét cả một quá trình thực hiện kế toán chính phủ theo cở dồn tích.
Nghiên cứu đã đề cập đến sáu rào cản trong quá trình chuyển đổi trong đó có 2 yếu tố là kế thừa trong mô hình của Lũder (1992) là hệ thống pháp lý và quyền tài phán, ngoài ra thì nghiên cứu này còn có bốn yếu tố khác là hệ thống các giá trị, phương thức tư duy, nội dung trách nhiệm và hệ thống giáo dục. Thứ hai, trong mô hình dự phòng khuếch tán của Godfrey và cộng sự (2001) đã tuyên bố các rào cản tương tự như Jaruga và Nowak (1996) và bổ sung thêm một yếu tố là sự biến dạng của viện trợ. Thứ ba, Christensen (2001) đã coi việc thiếu kỹ năng kế toán trong khu vực công và tình trạng hồ sơ tài sản không đầy đủ là rào cản thực hiện được tác giả tìm ra trong quá trình nghiên cứu về các rào cản trong quá trình chuyển đổi kế toán. Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào trong số này nghiên cứu các rào cản chuyển đổi của kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công một cách chi tiết dù về mặt lý thuyết hay thực nghiệm.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều gặp những hạn chế đó là không có những bằng chứng thực nghiệm để minh chứng dẫn đến độ tin cậy của nghiên cứu không cao (Broadbent và Guthrie, 2008). Từ những hạn chế đã nêu và để tăng tính tin cậy, các nghiên cứu sau này hầu như đều theo hướng thực nghiệm, trong đó bao gồm các nghiên cứu phân tích một số yếu tố tác động tích cực và tiêu cực đến quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và đang phát triển. Mở màn cho dòng nghiên cứu này, các nghiên cứu của Ouda (2003, 2004, 2005b và 2008) đã xây dựng nên mô hình các nhân tố tác động đến sự thành công của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích 21 trong khu vực công ở các nước phát triển và các nước đang phát triển trong Ouda (2004), đồng thời tác giả cũng mở rộng nghiên cứu về các rào cản trong quá trình chuyển tiếp sang kế toán dồn tích nhằm phát triển những hiểu biết tốt hơn về cách thức áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (Ouda, 2003 và 2005b) và chỉ ra các yếu tố làm cản trở sự thành công trong việc đổi mới ở các nước phát triển và các nước đang phát triển (Ouda, 2008). Cụ thể, bằng cách đo lường hiệu suất, hiệu quả và giá trị của đồng tiền cũng như sự hài lòng của người sử dụng ở các nước New Zealand, Anh và Úc qua phương pháp định tính, Ouda (2004) cho thấy rằng các yếu tố như quản lý sự thay đổi, chiến lược tuyên truyền, sự hỗ trợ về mặt chính trị của các cơ quan hành pháp, lập pháp cũng như mặt học thuật của các hiệp hội trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, ngoài ra các tổ chức có sự sẵn sàng trong việc đổi mới, tư vấn và phối hợp cùng với các cơ quan chính quyền địa phương và trung ương,…là các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp trong thực hiện đổi mới kế toán nói chung và sang cơ sở dồn tích nói riêng.
Hai nghiên cứu của Ouda (2003) và Ouda (2005b) cùng sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê, mô tả đã chỉ ra những rào cản trong quá trình chuyển tiếp sang cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và đang phát triển được chia thành các rào cản thực tế (bao gồm rào cản về pháp lý, chi phí thiết kế và lắp đặt hệ thống kế toán mới, thiếu chuẩn mực kế toán chính phủ, thiếu nhân viên kế toán có trình độ, chống lại sự thay đổi và sự vắng mặt của một hệ thống khuyến khích đúng đắn, văn hóa quản lý quan liêu, thiếu thống nhất nội bộ, thiếu áp lực bên ngoài, thiếu cam kết chính trị, thiếu thông tin về quá trình cải cách, thiếu năng lực công nghệ thông tin và thiếu hụt nguồn tài chính) và các rào cản khái niệm (bao gồm thiếu động cơ lợi nhuận, tăng tỷ lệ lạm phát gây khó khăn trong việc định giá tài sản và nợ của chính phủ, sự mơ hồ về một số nguyên tắc và quy định kế toán theo cơ sở dồn tích,…). Ngoài ra, kế thừa hàng loạt các nghiên cứu của Lũder (1992, 1994), Pallot (1996), Ball (1994, 2000), Jaruga và Nowak (1996), Guthrie (1998), Godfrey và cộng sự (2001), Christensen (2001) và Ouda (2003, 2005), Ouda (2008) thực hiện phỏng vấn có cấu trúc dựa trên các câu hỏi mở đối với các cơ quan, ban ngành như Bộ tài chính, tổ chức kiểm toán trung ương,…sau đó tác giả áp dụng kỹ 22 thuật thống kê, thực hiện khảo sát với 300 người bao gồm kế toán viên, quản lý tài chính, kiểm toán viên, giám đốc điều hành, học giả,…Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố làm cản trở quá trình thực hiện cải cách kế toán, cụ thể là việc chuyển đổi sang kế toán theo cơ sở dồn tích ở Hà Lan (đại diện cho các nước đã phát triển) chính là đặc điểm nhân sự, yếu tố chính trị, rào cản giao tiếp, rào cản pháp lý và văn hóa quản lý quan liêu. Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra trở ngại của việc chuyển đổi này có liên quan đến quản lý văn hóa quan liêu hơn là thiếu động cơ lợi nhuận. Đối với Ai Cập (đại diện cho các nước đang phát triển), rào cản chính là các nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích, thiếu chuẩn mực kế toán, yếu tố chính trị, nguồn lực tài chính, đặc điểm tổ chức, vấn đề kế toán cụ thể và đặc điểm nhân sự.
Tóm lại, các nghiên cứu của Ouda (2003, 2004, 2005b và 2008) đều nghiên cứu theo hướng định lượng để có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố tác động đến sự thành công, các rào cản trong quá trình chuyển tiếp và quá trình thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và đang phát triển nên các nghiên cứu này đều có độ tin cậy khá cao. Có thể nói rằng, xu hướng nghiên cứu về kế toán theo cơ sở dồn tích hầu hết đều được các nhà nghiên cứu thực hiện tại các nước đang phát triển. Chan (2005) đã cho rằng để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội, các nước đang phát triển cần phải cải cách kế toán của chính phủ, giá trị xã hội của cải cách kế toán của chính phủ nằm ở sự đóng góp của chúng vào các mục tiêu phát triển, bao gồm cả xóa đói giảm nghèo. Bằng phương pháp thống kê, mô tả, Chan (2005) đã nhấn mạnh vào việc để đảm bảo tính toàn vẹn tài chính thì các nước này nên áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, điều này có thể làm cho IPSAS hữu ích hơn trong cải cách kế toán của chính phủ.
Tuy nhiên, các vấn đề còn tồn tại ở các nước đang phát triển như gian lận, tham nhũng, hệ thống chính trị phi dân chủ phần nào hạn chế các đổi mới của đất nước.