phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng với tên gọi từng chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách 7. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu a) Các tài liệu nghiên cứu về việc vận dụng kế toán quản trị trên thế giới Chenhall và Langfield -Smith (1998) đã giới thiệu 42 công cụ, để điều tra mức độ áp dụng công cụ KTQT truyền thống và hiện đại trong các l nh vực sản xuất tại Úc. Cuộc khảo sát đã nhận đƣợc phản hồi của 78 DN sản xuất. Các tác giả nhận thấy rằng hầu hết các công cụ đƣợc khảo sát đều đƣợc Luan van 4 áp dụng trong các công ty.
Tuy nhiên, mức độ áp dụng công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các phƣơng pháp mới đƣợc phát triển. Nhiều DN cho biết họ có xu hƣớng muốn tập trung vào các phƣơng pháp mới hơn trong tƣơng lai, đặc biệt là phƣơng pháp tính giá dựa trên hoạt động. Bằng nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tạo ra một phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu mới, bằng cách điều tra mức độ áp dụng rộng rãi các công cụ trong các DN sản xuất của Úc. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng tƣơng tự cách tiếp cận này để điều tra mức độ áp dụng nhƣ ấn Độ (Joshi, 2001), Anh (Abdel-Kader & Luther, 2006), Trung Quốc (Wu và cộng sự, 2007), Việt Nam (Doan, 2012); Indonesia (Wiwikchristina, 2013).
Joshi (2001) bổ sung thêm 3 công cụ vào danh sách và cũng khảo sát trong l nh vực sản xuất ở Ấn Độ. Sau khi tiến hành phân tích dữ liệu thu thập đƣợc từ 60 DN có quy mô vừa và lớn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với công cụ hiện đại đƣợc phát triển sau đó. Điểm đặc biệt là công cụ dự toán và hệ thống đánh giá hiệu quả đƣợc áp dụng rộng rãi hơn, trong khi mức độ áp dụng công cụ hiện đại phát triển gần đây lại thấp và tăng chậm hơn.
Hơn nữa, kết quả của ông tƣơng tự với một số kết quả của Chenhall và Langfield -Smith (1998), nhiều DN dự định sẽ tập trung vào công cụ truyền thống nhiều hơn là công cụ hiện đại trong tƣơng lai. Ahmad (2012) tiến hành khảo sát thực trạng vận dụng KTQT tại các DNVVN trong l nh vực sản xuất tại Malaysia. Ông sử dụng danh mục các công cụ KTQT đƣợc đƣa ra bởi Chenhall và Langfield - Smith (2009). Kết quả nghiên cứu từ việc thu thập dữ liệu của 160 DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT kỹ thuật truyền thống đƣợc sử dụng phổ biến hơn các công cụ kỹ thuật hiện đại và việc vận dụng KTQT đƣợc đánh giá cao trong hiệu quả quản trị DN.
Các công cụ KTQT liên quan đến tính giá, lập dự toán Luan van 5 và hệ thống đánh giá kết quả đƣợc sử dụng rộng rãi hơn hệ thống hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lƣợc. Việc vận dụng KTQT trong các DN vừa bị ảnh hƣởng bởi các nhân tố: quy mô, mức độ cạnh tranh của thị trƣờng, mức độ tham gia của ngƣời chủ DN/ quản lý DN, các kỹ thuật SX tiên tiến. Ngoài ra nghiên cứu này cũng chỉ ra việc vận dụng KTQT đóng vai trò hỗ trợ làm tăng hiệu quả và hiệu suất quản trị của DN. Abdel-Kader và Luther (2006) sử dụng một danh sách 38 công cụ KTQT để điều tra mức độ sử dụng trong 658 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm, nƣớc giải khát tại nƣớc Anh.
Các công cụ này đã đƣợc phân thành 5 nhóm, cụ thể: (1) Hệ thống chi phí, (2) dự toán, (3) đánh giá hiệu quả, (4) thông tin cho quá trình ra quyết định và (5) phân tích chiến lƣợc. Nhiều công cụ trong danh sách này là khác với danh sách sử dụng trong nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998). Nghiên cứu cũng có kết luận tƣơng tự của Chenhall và Langfield -Smith (1998), rằng công cụ KTQT truyền thống đƣợc sử dụng nhiều hơn, các công cụ KTQT hiện đại đƣợc cho là quan trọng nhƣng vẫn chƣa đƣợc sử dụng nhiều. Howard và Alan webb (2013) đã nghiên cứu việc áp dụng 19 công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền thống) ở các DNVVN của Canada.
Các công cụ này đƣợc chia thành 4 nhóm dựa trên chức năng gồm: Hệ thống tính giá, dự toán, báo cáo trung tâm trách nhiệm, phân tích hỗ trợ việc ra quyết định. Kết quả phỏng vấn sâu từ 11 nhà quản lý cho thấy, các DN chỉ sử dụng rất ít các công cụ đƣợc khảo sát. Các DN hoạt động trong l nh vực sản xuất có xu hƣớng sử dụng các công cụ của hệ thống tính giá và báo cáo trung tâm trách nhiệm nhiều hơn các DN hoạt động trong các l nh vực còn lại. Ngƣợc lại với kết quả các nghiên cứu nêu trên, Libby và Waterhouse (1996) tập trung vào hệ thống KTQT hơn là công cụ đƣợc điều tra trong các Luan van 6 công ty quy mô vừa ở Canada.
Tác giả sử dụng danh sách 23 hệ thống KTQT cũng đƣợc chia 5 nhóm cụ thể: Lập kế hoạch, kiểm soát, chi phí, chỉ đạo và ra quyết định. Kết quả dựa trên kết quả khảo sát thu thập đƣợc từ 24 công ty, chỉ ra rằng 31% DN đƣợc khảo sát thay đổi hệ thống KTQT trong suốt thời gian nghiên cứu (1991-1993). Hơn nữa, các DN hoạt động trong môi trƣờng cạnh tranh mạnh mẽ có xu hƣớng sử dụng số lƣợng lớn hệ thống KTQT. William và Seaman (2001) phát triển thêm nghiên cứu của Libby và Waterhouse (1996) để dự đoán những thay đổi của hệ thống KTQT ở Singapore.
Dựa trên dữ liệu thu thập từ 93 DN, tác giả thấy rằng những thay đổi đã di n ra thƣờng xuyên nhất trong hệ thống đó là ra quyết định (27%), lập kế hoạch (25%), kiểm soát (23%) và không thƣờng xuyên trong các hệ thống là chỉ đạo (15%), chi phí (10%). b) Các nghiên cứu việc vận dụng kế toán quản trị tại Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam thì các công cụ KTQT truyền thống đƣợc áp dụng nhiều hơn các công cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sản xuất, tính giá theo phƣơng pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dụng khá cao so với các công cụ liên quan đến chức năng chiến lƣợc, đánh giá thành quả. Nghiên cứu đƣa ra thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích ròng của việc vận dụng KTQT có điểm số trung bình là 3.62, kết quả cũng chỉ ra rằng công cụ KTQT truyền thống đƣợc cho là mang lại lợi ích hơn so với KTQT hiện đại. Theo kết quả nghiên cứu, các nhận tố tác động đến việc vận dụng KTQT ở trên bao gồm các nhân tố nhƣ hình thức sở hữu của DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hƣớng thị trƣờng, l nh vực hoạt động, và nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý.
Khi tiến hành khảo sát trên 220 DN Việt Nam, tác giả cho rằng yếu tố cạnh tranh càng cao, phân cấp quản lý càng lớn thì càng lớn thì càng khiến cho các DN Luan van 7 có xu hƣớng sử dụng càng nhiều các công cụ của KTQT chiến lƣợc, và khi doanh nghiệp càng sử dụng nhiều các công cụ KTQT chiến lƣợc thì thành quả về cả hai mặt tài chính - phi tài chính đạt đƣợc càng cao. Đoàn Ngọc Phi Anh và Vƣơng Thị Nga (2016) khi tiến hành nghiên cứu 100 DNVVN ở khu vực Tây Nguyên đã đƣa ra kết luận rằng việc sử dụng công cụ KTQT tại các DN này còn rất hạn chế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng các công cụ KTQT truyền thống nhiều hơn các công cụ KTQT hiện đại tại các DN ở khu vực này. Công cụ dự toán có tỷ lệ sử dụng cao nhất; đặc biệt là dự toán về lợi nhuận, doanh thu và dự toán vốn bằng tiền (công cụ này đƣợc sử dụng nhiều nhất, tỷ lệ trên 90% DN đƣợc khảo sát); tiếp đến là dự toán tính giá theo phƣơng pháp toàn bộ và dự toán báo cáo tài chính (tỷ lệ trên 80% số DN đƣợc khảo sát); các công cụ phân tích chênh lệch so với dự toán, phân tích mối quan hệ CVP, dự toán sản xuất đƣợc sử dụng khá nhiều (khoảng trên 60% DN tiến hành khảo sát); số công cụ đƣợc sử dụng ít trong nhóm này là lợi nhuận sản phẩm, phân tích lợi nhuận bộ phận, tính giá theo phƣơng pháp trực tiếp (dƣới 10% DN tiến hành khảo sát).
Hiện nay tại Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về mức độ vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp. Các nghiên cứu này đƣợc tiến hành thực hiện ở những địa phƣơng khác nhau nhƣ Tây Nguyên, Đà Nẵng. Mỗi cách thức tiến hành và kết quả nghiên cứu đƣơng nhiên sẽ khác nhau. Riêng đối với khu vực tỉnh Quảng Trị, cho đến nay chƣa có nghiên cứu nào về việc vận dụng KTQT cũng nhƣ mức độ tác động của các công cụ KTQT đối với DN.
Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng nhất là trong giai đoạn những doanh nghiệp này muốn mở rộng thị trƣờng không những trong nƣớc mà còn trên thế giới. Để đạt đƣợc mục tiêu nhƣ vậy, các nhà quản trị DN tại Quảng Trị cần phải quan tâm đúng hƣớng đến vấn đề áp dụng KTQT trong quá trình hoạt động. Đây chính là khoảng trống để nghiên cứu này đƣợc tiến hành. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái n ệm và sự p át tr ển ủ ế toán quản trị: Vào năm 1981, Viện KTQT Hoa Kỳ đƣa ra khái niệm đầu tiên của mình về KTQT dựa trên sự phản ánh về nhu cầu thay đổi của DN đối với thông tin kế toán; theo đó “KTQT là một quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, diễn giải và truyền đạt các thông tin tài chính bởi các nhà quản lý nhằm mục đích hoạch định, đo lường và kiểm soát một tổ chức đó được sử dụng một cách phù hợp và có trách nhiệm. KTQT cũng bao gồm việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các nhóm đối tượng không thuộc nhà quản lý như cổ đông, chủ nợ, các cơ quan thuế…”( Viện KTQT Hoa Kỳ,1981,tr.