CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong quá trình thực hiện luận văn, một số tài liệu có liên quan được sử dụng để phục vụ nghiên cứu đề tài như sau: - Nghiên cứu khoa học của Trần Đình Khôi Nguyên (2010), “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ”, đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5(40). Bài viết phác thảo mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Để xây dựng mô hình các nhân tố, nghiên cứu này dựa trên các cơ sở, đó là tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu của các nước, từ đó định lượng, xem xét cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn thực hiện trao đổi với các chuyên gia kế toán, kiểm toán, làm cơ sở để tiến hành điều tra thử.
Quá trình điều tra thử được tiến hành từ hai nhóm – đó là kế toán viên ở doanh nghiệp và cán bộ quản lý thuế. Kết quả cho thấy một số điểm quan trọng như : trình độ kế toán của nhân viên cùng với sự tác động của hệ thống luật pháp đã ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực. Kế toán chỉ mới quan tâm đến mục đích kê khai thuế, không phân biệt giữa mục đích kế toán và mục đích thuế; sự thay đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp từ cơ quan thuế cũng được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán; 71% ý kiến của chuyên viên thuế cho rằng việc không giám sát, kiểm tra của cơ quan chức năng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin tài chính; chi phí cho công việc kế toán vẫn chưa được đánh giá cao trong việc ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính và việc vận dụng chuẩn mực, chế độ kế toán. Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thanh Hải (2015),“ Định hướng xác lập và áp dụng khung pháp lý về kế toán cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”.
Luận án đánh giá thực trạng vận dụng các văn bản pháp lý kế toán tại các DNNVV ở Việt Nam, khảo sát nhu cầu thông tin và đánh giá của các đối tượng sử dụng về nội dung và chất lượng thông tin kế toán do DNNVV cung cấp để định hướng xác lập khung pháp lý, đồng thời luận án còn nhận diện mô hình các nhân tố tác động 123doc 5 đến việc áp dụng các văn bản pháp lý và làm rõ mức độ tác động của các nhân tố này. Tác giả đã tiến hành lược khảo các công trình đã công bố liên quan đến luận án, sau đó tiến hành khảo sát ý kiến chuyên gia, phỏng vấn thử để hình thành bảng khảo sát chính thức. Từ kết quả thu thập qua bảng khảo sát, mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các văn bản pháp lý vào thực tiễn công tác kế toán tại các DNNVV gồm 8 nhân tố : cơ sở hạ tầng kế toán, bản thân hệ thống văn bản, mối quan hệ lợi ích – chi phí, người làm kế toán, tính bắt buộc tuân thủ, quy mô doanh nghiệp, quan điểm nhà quản lý – chủ Doanh nghiệp, áp lực cung cấp thông tin. Tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, phân tích kết quả khảo sát nhằm xác định rõ các nhân tố ảnh hưởng.
Kết quả cho thấy cơ sở hạ tầng kế toán là nhân tố quan trọng nhất, tác động mạnh nhất đến việc vận dụng các văn bản pháp lý kế toán tại các DNNVV, tiếp sau đó là nhân tố tính bắt buộc tuân thủ các quy định này. Các nhân tố như người làm kế toán, mối quan hệ lợi ích-chi phí, bản thân hệ thống văn bản pháp lý có ảnh hưởng nhưng ở mức thấp hơn. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để vận dụng các văn bản pháp lý về kế toán một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các văn bản pháp lý trong luận án được tác giả nhắc đến chủ yếu là Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Nghiên cứu của Hồ Phan Minh Đức và cộng sự “ Tình hình vận dụng chế độ kế toán của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa thiên huế”, đăng trên tạp chí khoa học, ĐH Huế, số 62(2010). Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tình hình vận dụng chế độ kế toán tại các doanh nghiệp ở Huế. Tác giả tiến hành điều tra thông qua bảng câu hỏi kết hợp kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn. Trong 32 doanh nghiệp được điều tra trên địa bàn tỉnh, có 87,1% doanh nghiệp nhận biết được mình đang thực hiện chế độ kế toán nào.
Có 6,4% doanh nghiệp không biết mình đang thực hiện chế độ kế toán nào, mặc dù trong báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp thì CĐKT áp dụng là QĐ 15/2006 QĐ-BTC. Như vậy có thể thấy bản thân nhân viên kế toán không nắm vững chế độ kế toán áp dụng trong đơn vị mình. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy một số quy định bắt buộc của chế độ kế toán về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, báo 123doc 6 cáo tài chính chưa được doanh nghiệp tuân thủ triệt để. Một số lỗi trọng yếu trong việc vận dụng chế độ kế toán được phát hiện.
Những vấn đề này xuất phát từ trình độ chuyên môn của kế toán và những thay đổi của chế độ kế toán. Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến việc vận dụng chế độ kế toán tại các DNNVV không nhiều. Hầu hết các nghiên cứu quốc tế công bố liên quan đến vấn đề này chỉ tập trung phân tích các nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế hoặc sự lựa chọn chính sách kế toán. Nghiên cứu của Szilveszter FEKETE Yau M.DAMAGUM Răzvan Mustata Dumitru Matis Ioan Popa (2010) “Explaining accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods”.
Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các DNNVV. Nghiên cứu được thực hiện tại các công ty ở Rumany. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát, sau đó dùng kỹ thuật phân tích tác động của các nhân tố. Kết quả cho thấy, nhân tố “information”, nghĩa là việc cung cấp thông tin kế toán, các báo cáo kế toán cho các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến việc lựa chọn chính sách kế toán.
Tiếp theo là nhân tố thuế, tác giả cho rằng các khoảng chi phí về thuế thật sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn các chính sách kế toán. Ngoài ra còn có nhân tố đặc điểm, quy mô doanh nghiệp, nhưng đây là nhân tố tác động ít nhất. Các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào nghiên cứu tổng quát khung pháp lý về kế toán cho DNNVV mà chưa đi sâu về nghiên cứu nội dung cụ thể thuộc về CĐKT áp dụng cho DNNVV. Một số các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CĐKT được thực hiện tại khu vực miền trung như Huế, Đà Nẵng…, vai trò của các DNNVV tại TP.HCM cũng rất quan trọng, các nghiên cứu về đề tài này tại các DNNVV tại TP.HCM hầu như chưa có.
Những nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho đề tài nghiên cứu của tác giả. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số vấn đề chung về DNNVV 2. Định nghĩa về DNNVV : Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về DNNVV được đưa ra dựa vào nhiều tiêu chí.
Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Enderle (2004) cho rằng khái niệm DNNVV tùy thuộc vào môi trường kinh tế, sự thay đổi của thị trường. Tùy vào hoàn cảnh và đặc điểm ở mỗi quốc gia mà DNNVV được định nghĩa khác nhau. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau.
Trong nhiều tiêu thức để phân loại thì có ba tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước, đó là quy mô vốn, tổng số doanh thu hàng năm và số lượng lao động. Theo tiêu chí của Nhóm ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn từ 20 tỷ trở xuống, doanh nghiệp nhỏ có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ. Theo quy định của Ủy ban châu Âu thì DNNVV là doanh nghiệp có ít hơn 250 lao động, doanh thu nhỏ hơn 50.000 EUR/năm và tổng tài sản trên Bảng Cân Đối kế toán không quá 43 triệu EUR. Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định 56/2009 DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của Doanh nghiệp ) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau : 123doc 8 Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động nguồn vốn động vốn động Nông lâm 10 người 20 tỷ trở Từ 10 đến Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và trở xuống xuống 200 người đến 100 tỷ đến 300 thủy sản người Công 10 người 20 tỷ trở Từ 10 đến Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và trở xuống xuống 200 người đến 100 tỷ đến 300 xây dựng người Thương 10 người 10 tỷ trở Từ 10 đến Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 mại và dịch trở xuống xuống 200 người đến 100 tỷ đến 300 vụ người Bảng 2.1 Phân loại quy mô doanh nghiệp 2.
Vai trò của DNNVV Các DNNVV là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và ngày càng gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển. Các DNNVV thường phân bố rải rác ở nhiều vùng địa lý nên chúng có thể tạo cơ hội, giải quyết việc làm cho nhiều đối tượng lao động. DNNVV năng động, có khả năng thích nghi, dễ thay đổi công nghệ, hiệu quả đầu tư tương đối cao, dễ quản lý.