Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số tại Việt Nam, vấn đề suy thoái và ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày càng phức tạp. Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và chính sách pháp lý, việc nâng cao nhận thức cộng đồng đóng vai trò then chốt trong công tác bảo vệ môi trường bền vững.
Xã Đạo Trù là một xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, có địa hình tương đối phức tạp với độ cao trung bình từ 100 đến 350 m so với mực nước biển. Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 7.450,84 ha với 3.375 hộ và 14.443 nhân khẩu phân bố tại 13 thôn, trong đó đồng bào dân tộc Sán Dìu chiếm 87,27% và dân tộc Kinh chiếm 12,73%. Hoạt động kinh tế chủ yếu của người dân là sản xuất nông nghiệp (chiếm 74% cơ cấu kinh tế). Những năm gần đây, áp lực từ phát triển kinh tế nông nghiệp, gia tăng dân số và tập quán canh tác truyền thống đã khiến môi trường đất, nước và không khí tại địa phương đứng trước nguy cơ suy thoái. Trong khi đó, trình độ dân trí của người dân còn ở mức trung bình, sự hiểu biết về các quy định pháp luật và ý thức bảo vệ môi trường sinh thái còn nhiều hạn chế.
Trước bối cảnh thực tiễn đó, đề tài "Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Đạo Trù – huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc" được tác giả Chu Quang Cháu thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Dương Ngọc Thành (Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) nhằm phản ánh thực trạng nhận thức môi trường của cộng đồng dân cư địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Xác định mức độ hiểu biết của người dân về môi trường, từ đó đề xuất những giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại xã Đạo Trù.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá nhận thức của người dân về các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam.
- Đánh giá ý thức và hành vi thực tế của người dân đối với công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã.
Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết, nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về môi trường và các quy định pháp luật môi trường liên quan.
- Phạm vi không gian: Địa bàn 13 thôn thuộc xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp và khảo sát thực địa được thu thập và thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014; số liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội được tổng hợp cho năm 2013.
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Khóa luận giúp củng cố kỹ năng phân tích, tổng hợp số liệu điều tra xã hội học môi trường; đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng cho chính quyền xã Đạo Trù và huyện Tam Đảo trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền, quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước và quản lý chất thải nông thôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành môi trường, bao gồm:
- Hệ thống khái niệm chuyên ngành: Các định nghĩa nền tảng được trích xuất từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (khoản 1 Điều 3), bao gồm khái niệm môi trường, thành phần môi trường, ô nhiễm môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, sự cố môi trường, chất thải, quản lý chất thải, phế liệu, quản lý môi trường và phát triển bền vững.
- Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – Điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh do Bộ Y tế ban hành ngày 24/6/2011 (QCVN 01:2011/BYT); phân loại chất thải rắn theo hướng dẫn của Hiệp hội Quốc tế về Trọng lượng và Đo lường (ISWM).
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan: Khóa luận kế thừa kết quả từ chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng SEMLA (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu; khảo sát nhận thức biến đổi khí hậu của TS. Lê Văn Khoa tại TP. Hồ Chí Minh; nghiên cứu phân loại rác thải sinh hoạt của Trường Đại học Bình Dương tại phường Phú Thọ (TP. Thủ Dầu Một); nghiên cứu kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) về vệ sinh môi trường của Hoàng Thái Sơn tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên); và mô hình truyền thông môi trường nông thôn tại xã Thiện Thuật (huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành qua các bước:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, số liệu thống kê địa lý, khí hậu, thủy văn, hiện trạng sử dụng đất, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, dân số và giáo dục năm 2013 từ UBND huyện Tam Đảo và UBND xã Đạo Trù; tổng hợp tư liệu từ sách, báo và báo cáo của UNEP, IPCC.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Thiết kế bảng hỏi điều tra xã hội học cấu trúc sẵn.
- Chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên (bốc thăm) tại 13 thôn của xã Đạo Trù với quy mô mẫu là $N = 65$ hộ gia đình, bao quát đa dạng độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp.
- Kết hợp khảo sát thực địa hiện trạng các điểm xả thải, nguồn nước, công trình vệ sinh và phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách địa chính - môi trường của xã (bác Chu Quang Đức, 52 tuổi, thôn Vĩnh Ninh).
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và so sánh tương quan giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính với mức độ nhận thức môi trường thông qua phần mềm bảng tính.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, nêu rõ vị trí địa lý của huyện Tam Đảo và xã Đạo Trù. Xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu (thời gian từ 01/2014 đến 04/2014 tại 13 thôn) cùng ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các định nghĩa cơ bản về môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 và quy chuẩn QCVN 01:2011/BYT. Đồng thời, tác giả tổng hợp các vấn đề môi trường toàn cầu (suy thoái rừng làm tăng 6 tỷ tấn $\text{CO}_2$/năm, suy giảm đa dạng sinh học theo báo cáo UNEP 2010, cạn kiệt nguồn nước ngọt chiếm 0,01%, khủng hoảng năng lượng hóa thạch, hiện tượng nóng lên toàn cầu theo báo cáo IPCC tăng $0,7^\circ\text{C}$ và dự báo tăng từ $1,8^\circ\text{C}$ đến $6,4^\circ\text{C}$ vào năm 2100) và thực trạng môi trường Việt Nam (độ che phủ rừng, thoái hóa đất nông nghiệp, ô nhiễm nước mặt, tỷ lệ nước sạch nông thôn chỉ đạt 30-40%). Tác giả phân tích các nghiên cứu nhận thức cộng đồng đã thực hiện tại các địa phương để làm cơ sở so sánh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Nêu chi tiết đối tượng nghiên cứu (sự hiểu biết về môi trường của người dân), địa bàn (xã Đạo Trù) và thời gian thực hiện (01/2014 - 04/2014). Xác định 4 nội dung nghiên cứu chính: điều kiện cơ bản của xã, hiện trạng môi trường, mức độ hiểu biết của người dân và đánh giá/đề xuất giải pháp. Mô tả chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp điều tra bảng hỏi sơ cấp trên 65 hộ gia đình ngẫu nhiên tại 13 thôn kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ địa phương, cùng kỹ thuật xử lý số liệu thống kê.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích toàn diện các kết quả khảo sát thu được qua 6 tiểu mục chính:
1. Đặc điểm cơ bản của xã Đạo Trù
- Điều kiện tự nhiên: Xã có diện tích tự nhiên 7.450,84 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 84,83% tương ứng 6.324,98 ha; đất lâm nghiệp chiếm 8,25% diện tích đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp 14,92%; đất chưa sử dụng 0,24%). Nhiệt độ trung bình năm là $22,5^\circ\text{C}$, lượng mưa bình quân 1.418 mm/năm (90% tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10). Nguồn nước mặt phụ thuộc vào đập Vĩnh Ninh, hồ chứa nước Đồng Mỏ và hệ thống khe suối.
- Kinh tế - xã hội: Năm 2013, tổng sản lượng cây có hạt đạt 3.243 tấn, đàn trâu có 1.007 con, đàn bò 1.150 con, đàn lợn 9.000 con, gia cầm 97.000 con. Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,5 triệu đồng/năm. Hệ thống điện đạt 100% hộ sử dụng với 4 trạm biến áp; hệ thống giáo dục gồm 7 trường với 3.012 học sinh.
2. Hiện trạng môi trường tại xã Đạo Trù
- Đặc điểm mẫu điều tra ($N = 65$): Nam giới chiếm 76,92% (50 người), nữ giới chiếm 23,08% (15 người). Về học vấn: THCS chiếm 33,84%, biết đọc biết viết chiếm 26,15%, tiểu học chiếm 21,53%, THPT chiếm 13,85%, đại học/sau đại học chiếm 3,08% và mù chữ chiếm 1,54%. Về nghề nghiệp: nông nghiệp chiếm 76,92%, buôn bán - dịch vụ chiếm 12,30%, nghề tự do chiếm 6,15%, cán bộ công chức chiếm 1,54%, hưu trí/già yếu chiếm 3,07%.
- Sử dụng nước sinh hoạt: 0% hộ có nước máy; 50,76% sử dụng nước mặt từ ao, sông, suối; 44,61% dùng nước giếng đào (độ sâu 8-15 m); 4,61% dùng nước giếng khoan. 56,92% hộ đánh giá nước không có mùi vị lạ, trong khi 43,08% ghi nhận nước có mùi (21,54%), có vị (10,77%) hoặc có màu (10,77%), chủ yếu do nhiễm đá vôi tự nhiên và không có hệ thống lọc xử lý.
- Hiện trạng xả nước thải: 41,54% hộ không có cống thải; 43,08% dùng cống lộ thiên; chỉ 13,85% có cống nắp đậy. 70,77% nguồn nước thải xả thẳng ra ao hồ tự nhiên, 16,92% ngấm tự do xuống đất, chỉ 6,15% qua bể tự hoại và 0% có cống thu gom chung.
- Hiện trạng rác thải: Lượng phát sinh trung bình dưới 5 kg/hộ/ngày. 95,38% hộ có tận dụng, tái sử dụng rác hữu cơ (làm thức ăn chăn nuôi, ủ phân, đun nấu) và phế liệu. Tuy nhiên, về thu gom: 83,07% hộ vứt rác tùy tiện ra môi trường, 16,93% có hố rác riêng tại vườn, 0% có bãi rác tập trung hay dịch vụ thu gom theo hợp đồng.
- Công trình vệ sinh: Tỷ lệ nhà tiêu đạt tiêu chuẩn theo QCVN 01:2011/BYT chỉ đạt 7,69% (nhà vệ sinh tự hoại). 75,38% sử dụng nhà tiêu 2 ngăn và 16,92% dùng nhà tiêu đào đất (tổng nhóm chưa hợp vệ sinh là 92,31%, người dân thường lấy phân ủ chưa đủ 6 tháng để bón cây). Nguồn tiếp nhận chất thải vệ sinh gồm sông suối (33,85%), ao làng (30,77%), ngấm xuống đất (29,23%).
| Tiêu chí khảo sát |
Phân loại |
Tỷ lệ (%) |
| Nguồn nước sinh hoạt |
Nước khe suối, ao, sông Giếng đào (8-15 m) Giếng khoan Nước máy |
50,76% 44,61% 4,61% 0,00% |
| Loại cống thoát nước thải |
Cống lộ thiên Không có cống Cống có nắp đậy Khác |
43,08% 41,54% 13,85% 1,53% |
| Hình thức thải bỏ rác sinh hoạt |
Đổ tùy tiện ra môi trường xung quanh Hố rác riêng trong vườn Bãi rác chung / Dịch vụ thu gom |
83,07% 16,93% 0,00% |
| Kiểu nhà vệ sinh hộ gia đình |
Nhà vệ sinh hai ngăn Nhà vệ sinh đào đất Nhà vệ sinh tự hoại (đạt chuẩn QCVN) |
75,38% 16,92% 7,69% |
3. Hiểu biết của người dân về môi trường
- Các khái niệm cơ bản: Nhận thức đúng về khái niệm "Môi trường là gì?" đạt 27,69% (72,31% không biết); "Ô nhiễm môi trường là gì?" đạt 26,15% (73,85% không biết); "Phân biệt rác vô cơ và rác hữu cơ" đạt 24,61% (75,39% không biết). Khả năng hiểu đúng tỷ lệ thuận với trình độ học vấn (trong số người hiểu đúng về ô nhiễm, người có trình độ THCS chiếm 58,82%, THPT chiếm 29,41%, đại học chiếm 11,76%).
- Ý thức tham gia hoạt động môi trường: 69,23% người dân khẳng định sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường khi được phát động; 30,77% sẽ tham gia nếu có thời gian rảnh; 0% từ chối tham gia.
| Nội dung câu hỏi kiểm tra kiến thức |
Số người trả lời đúng |
Tỷ lệ đúng (%) |
Số người không biết |
Tỷ lệ không biết (%) |
| Khái niệm môi trường là gì? |
18 |
27,69% |
47 |
72,31% |
| Khái niệm ô nhiễm môi trường là gì? |
17 |
26,15% |
48 |
73,85% |
| Phân biệt rác vô cơ và rác hữu cơ |
16 |
24,61% |
49 |
75,39% |
4. Nhận thức trong phân loại, thu gom và xử lý rác thải
- Đánh giá tầm quan trọng: 55,38% đánh giá việc phân loại rác là "rất quan trọng", 33,85% đánh giá "quan trọng", 3,07% cho là "không quan trọng" và 7,69% "không biết". Nhóm đối tượng nữ giới có 100% đánh giá ở mức quan trọng và rất quan trọng, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 85,71%.
- Hành vi thực tế: Mặc dù 89,23% nhận thức được tầm quan trọng, nhưng trên thực tế có đến 73,85% hộ gia đình không thực hiện phân loại rác trước khi thải bỏ; chỉ 26,15% hộ thực hiện phân loại sơ bộ nhằm tận dụng phế phẩm chăn nuôi.
- Đánh giá dịch vụ thu gom của xã: 46,15% đánh giá công tác thu gom xử lý hiện tại là "chưa tốt", 33,85% "khó trả lời", 15,38% đánh giá "tốt" và 4,61% đánh giá "rất tốt" (nhóm không hài lòng và chưa rõ chiếm 80,00%).
5. Hiểu biết về Luật Bảo vệ môi trường và văn bản pháp luật
- 53,85% người dân có nghe biết về sự tồn tại của Luật Bảo vệ môi trường (tập trung ở nhóm cán bộ, công chức và hưu trí đạt 100%, nông nghiệp đạt 50,98%), trong khi 46,15% hoàn toàn không biết.
- Khi được hỏi sâu về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc quy trình gửi đơn thư khiếu nại tố cáo về môi trường, đa số người dân đều không nắm được.
| Nhóm nghề nghiệp |
Số lượng biết Luật |
Tỷ lệ biết (%) |
Số lượng không biết |
Tỷ lệ không biết (%) |
| Nông nghiệp ($n = 51$) |
26 |
50,98% |
25 |
49,02% |
| Buôn bán, dịch vụ ($n = 8$) |
4 |
50,00% |
4 |
50,00% |
| Nghề tự do ($n = 3$) |
2 |
66,67% |
1 |
33,33% |
| Cán bộ, công chức ($n = 1$) |
1 |
100,00% |
0 |
0,00% |
| Hưu trí, không làm việc ($n = 2$) |
2 |
100,00% |
0 |
0,00% |
| Tổng cộng ($N = 65$) |
35 |
53,85% |
30 |
46,15% |
6. Hoạt động truyền thông và nguồn tiếp nhận thông tin
- Kênh tiếp nhận thông tin môi trường: Đài truyền hình và tivi là kênh phổ biến nhất chiếm 32,30%; bạn bè và người xung quanh chiếm 21,54%; hệ thống đài truyền thanh xã chiếm 16,92%; sách báo chiếm 12,30%; phong trào cổ động chiếm 9,23%; thông tin trực tiếp từ chính quyền cơ sở chiếm 7,69%.
- Thực tế công tác địa phương: Các hoạt động môi trường của xã diễn ra gián tiếp, quy mô nhỏ (khoảng 2 lần/năm lồng ghép vào Ngày Nước thế giới, chiến dịch Giờ Trái Đất hoặc phun thuốc phòng dịch chăn nuôi). Xã chưa có các lớp tập huấn chuyên đề về môi trường cho nhân dân do hạn chế về kinh phí và thiếu nhân lực chuyên môn.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các phát hiện chính về khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế của người dân xã Đạo Trù. Kiến nghị cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên trách huyện Tam Đảo thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền, đầu tư hạ tầng thoát nước và tổ chức thu gom chất thải.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các phát hiện định lượng cụ thể về thực trạng môi trường nông thôn miền núi tại xã Đạo Trù:
- Tồn tại hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cung cấp nước sạch tập trung chưa được đầu tư (0% hộ dùng nước máy); 92,31% hộ sử dụng nhà tiêu chưa đạt chuẩn QCVN 01:2011/BYT; 83,07% hộ xả rác tự do; 70,77% nước thải sinh hoạt xả trực tiếp vào nguồn nước mặt ao hồ, suối tự nhiên và đập Vĩnh Ninh.
- Sự phân hóa nhận thức: Mức độ hiểu biết các khái niệm chuyên ngành và kiến thức pháp luật môi trường còn thấp (tỷ lệ trả lời đúng các khái niệm chỉ từ 24,61% đến 27,69%; 46,15% không biết Luật Bảo vệ môi trường). Mức độ nhận thức tỷ lệ thuận rõ rệt với trình độ học vấn.
- Mâu thuẫn giữa nhận thức và thực hành: Mặc dù 89,23% người dân đánh giá việc phân loại rác là quan trọng và 69,23% sẵn sàng tham gia hoạt động vệ sinh chung, nhưng thực tế có tới 73,85% hộ không thực hiện phân loại rác tại nguồn do thiếu hệ thống hạ tầng và dịch vụ thu gom hỗ trợ.
Các giải pháp được tác giả đề xuất:
- Nhóm giải pháp truyền thông, giáo dục: Đổi mới phương thức tuyên truyền qua đài truyền thanh xã; tăng tần suất phát thanh các bản tin chuyên đề môi trường; lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào quy ước, hương ước thôn làng và các buổi sinh hoạt chi bộ, họp thôn; tổ chức các phong trào định kỳ khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm đường làng ngõ xóm.
- Nhóm giải pháp quản lý và hạ tầng: Xây dựng quy hoạch bãi rác tập trung của xã; thành lập tổ hoặc hợp tác xã vệ sinh môi trường thực hiện thu gom rác định kỳ theo hợp đồng dịch vụ; đầu tư kiên cố hóa hệ thống rãnh thoát nước thải có nắp đậy trong khu dân cư; vận động nhân dân xây dựng hố rác có nắp tại gia đình và chuyển đổi sang nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh; tập huấn kỹ thuật ủ phân vi sinh đủ thời gian an toàn sinh học.
- Nâng cao năng lực cán bộ: Bố trí và đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ phụ trách địa chính - môi trường cấp xã.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ số liệu thực nghiệm nguyên bản về xã Đạo Trù năm 2014, làm rõ đặc thù nhận thức môi trường của cộng đồng dân tộc thiểu số (Sán Dìu chiếm đa số) ở vùng đệm ven chân núi Tam Đảo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:
- Quy mô mẫu nghiên cứu: Khảo sát được thực hiện trên mẫu $N = 65$ hộ gia đình tại 13 thôn (trung bình 5 hộ/thôn) so với tổng số 3.375 hộ toàn xã, do đó tính đại diện ở cấp độ từng thôn còn ở mức tương đối.
- Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường: Việc đánh giá chất lượng nguồn nước và môi trường sinh thái chủ yếu dựa trên cảm quan, nhận xét chủ quan của người dân và khảo sát thực địa bằng mắt thường, chưa có số liệu phân tích hóa lý, vi sinh trong phòng thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ dân số từng thôn và theo cơ cấu dân tộc (Sán Dìu - Kinh).
- Kết hợp điều tra xã hội học với việc lấy mẫu quan trắc phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước mặt (đập Vĩnh Ninh, hồ Đồng Mỏ), nước ngầm và đất canh tác.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các mô hình thí điểm phân loại rác tại nguồn và tổ hợp tác thu gom rác tự quản tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Xã hội học Nông thôn tham khảo về phương pháp xây dựng bảng hỏi điều tra nhận thức cộng đồng (KAP), kỹ năng phân tích thống kê xã hội học môi trường và cách trình bày báo cáo tốt nghiệp.
- Cán bộ quản lý địa phương: UBND xã Đạo Trù và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Đảo có thể sử dụng các số liệu thực trạng về tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh, điểm xả thải và kênh truyền thông tiếp cận để xây dựng các tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiện trạng cung cấp và chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đạo Trù được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Toàn xã Đạo Trù không có hệ thống nước máy (0%). Người dân sử dụng nguồn nước mặt từ ao, sông, suối (50,76%), nước giếng đào sâu từ 8 đến 15 m (44,61%) và nước giếng khoan (4,61%). Về chất lượng cảm quan, 56,92% hộ nhận định nước bình thường, trong khi 43,08% hộ cho biết nguồn nước có vấn đề về mùi (21,54%), vị (10,77%) hoặc màu sắc (10,77%), một phần do đặc điểm địa chất nhiễm đá vôi và thói quen không sử dụng hệ thống lọc trước khi dùng.
2. Tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh tại địa phương đạt bao nhiêu theo QCVN 01:2011/BYT?
Theo kết quả điều tra, chỉ có 7,69% hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại (loại hình đạt chuẩn vệ sinh theo QCVN 01:2011/BYT). Có tới 75,38% hộ sử dụng nhà tiêu hai ngăn và 16,92% sử dụng nhà tiêu đào đất (tổng tỷ lệ chưa đạt chuẩn là 92,31%). Nhiều hộ có tập quán lấy phân ủ chưa đủ thời gian quy định (6 tháng) để bón cho cây trồng, gây nguy cơ phát tán mầm bệnh.
3. Thực trạng xả thải và thu gom rác sinh hoạt tại xã Đạo Trù diễn ra như thế nào?
Về nước thải: 41,54% hộ không có cống dẫn, 43,08% dùng cống lộ thiên; 70,77% lượng nước thải xả thẳng ra ao hồ và 16,92% ngấm tự do xuống đất. Về rác thải: xã chưa có bãi rác tập trung hay dịch vụ thu gom chuyên trách (0%), có tới 83,07% hộ vứt rác tùy tiện ra môi trường xung quanh và 16,93% tự đào hố rác trong khuôn viên gia đình, mặc dù lượng phát sinh ước tính dưới 5 kg/hộ/ngày và 95,38% hộ có tái sử dụng phụ phẩm hữu cơ cho chăn nuôi.
4. Mức độ nhận thức của người dân về các khái niệm môi trường và Luật Bảo vệ môi trường ra sao?
Nhận thức về các khái niệm môi trường cơ bản còn hạn chế: chỉ 27,69% trả lời đúng khái niệm môi trường, 26,15% hiểu đúng về ô nhiễm môi trường và 24,61% phân biệt được rác vô cơ/hữu cơ. Về mặt pháp lý, 53,85% người dân có nghe biết về Luật Bảo vệ môi trường (trong đó nhóm cán bộ công chức và hưu trí đạt 100%, nông dân đạt 50,98%), nhưng đa số người dân không nắm được các quy định cụ thể về thẩm quyền xử phạt hay thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo vi phạm môi trường.
5. Người dân xã Đạo Trù tiếp nhận thông tin bảo vệ môi trường chủ yếu qua những phương tiện nào?
Đài truyền hình/tivi là kênh tiếp nhận thông tin môi trường phổ biến nhất với 32,30% ý kiến lựa chọn; tiếp theo là kênh trao đổi qua bạn bè, người xung quanh (21,54%); đài truyền thanh địa phương (16,92%); sách báo (12,30%); các phong trào tuyên truyền cổ động (9,23%) và thông tin trực tiếp từ chính quyền cơ sở (7,69%). Các hoạt động truyền thông chuyên đề của xã còn thưa thớt, chủ yếu lồng ghép khoảng 2 lần/năm vào các đợt phát động phong trào chung hoặc phòng chống dịch bệnh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Chu Quang Cháu đã phản ánh bức tranh thực trạng về hạ tầng vệ sinh và nhận thức môi trường của cộng đồng dân cư tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc vào năm 2014. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng kỹ thuật thu gom rác thải, xử lý nước thải và nhà tiêu hợp chuẩn, cùng với khoảng cách lớn giữa nhận thức về tầm quan trọng của môi trường và hành vi thực hành phân loại, xả thải tại nguồn của người dân. Các số liệu thực chứng và nhóm giải pháp tuyên truyền, đầu tư hạ tầng được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích phục vụ công tác quản lý môi trường nông thôn miền núi tại địa phương.