Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phường Hồng Gai là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa và chính trị của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nằm ở vị trí tiếp giáp vịnh Hạ Long, địa bàn phường tập trung nhiều cơ quan công quyền, công trình thể thao, văn hóa cùng các cơ sở dịch vụ, thương mại và du lịch. Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa, mật độ dân cư và lưu lượng phương tiện giao thông trên địa bàn gia tăng nhanh chóng, tạo ra áp lực lớn đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, đặc biệt là hệ thống cấp thoát nước và mạng lưới thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Bên cạnh các vấn đề về hạ tầng kỹ thuật, nhận thức và ý thức chấp hành các quy định về vệ sinh môi trường của một bộ phận người dân còn những hạn chế nhất định, tình trạng xả rác bừa bãi và chưa phân loại rác tại nguồn vẫn còn tồn tại.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định mức độ hiểu biết của người dân về môi trường, từ đó đề xuất những giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống.

  • Mục tiêu cụ thể:

    1. Đánh giá nhận thức của người dân về các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
    2. Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam.
    3. Đánh giá ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn phường.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức, sự hiểu biết và thái độ, thực hành của người dân về môi trường.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (bao gồm 23 tổ dân phố).
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập số liệu thực địa được tiến hành từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và cơ sở pháp lý

Khóa luận hệ thống hóa các khái niệm nền tảng trong khoa học quản lý môi trường:

  • Môi trường: Hệ thống các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
  • Thành phần môi trường, Ô nhiễm môi trường, Hoạt động bảo vệ môi trường, Phát triển bền vững, Sự cố môi trường, Chất thải, Rác thải, Quản lý chất thải, Quản lý môi trường, Thông tin môi trường.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng trong đề tài gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, thay thế Luật Bảo vệ Môi trường năm 2003).
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2011/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 24/06/2011 về Điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh đối với nhà tiêu.
  • Các quy định pháp lý liên quan đến xử lý vi phạm hành chính và tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự.
  • Các báo cáo, tài liệu khoa học của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC - Báo cáo đánh giá lần thứ tư), Dự án hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường (SEMLA).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê kinh tế - xã hội, địa lý tự nhiên và báo cáo quản lý môi trường từ Ủy ban nhân dân phường Hồng Gai, tài liệu chuyên ngành, sách báo và các cổng thông tin liên quan.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế bộ câu hỏi điều tra xã hội học và tiến hành phỏng vấn trực tiếp kết hợp khảo sát thực địa. Thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ phụ trách môi trường của phường và công nhân thu gom rác (ông Trần Mạnh Long).
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng kỹ thuật bốc thăm ngẫu nhiên với quy mô mẫu điều tra là $N = 50$ hộ gia đình phân bố tại 23 tổ dân phố trên địa bàn phường.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và tổng hợp thành các bảng biểu, đồ thị so sánh.

Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa

Tiêu chí phân loại Nhóm phân loại Số lượng ($N=50$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 25 50,0
Nữ 25 50,0
Độ tuổi Dưới 20 tuổi 7 14,0
Từ 20 đến 29 tuổi 4 8,0
Từ 30 đến 39 tuổi 11 22,0
Từ 40 đến 49 tuổi 10 20,0
Từ 50 đến 59 tuổi 8 16,0
Từ 60 tuổi trở lên 10 20,0
Trình độ học vấn Biết đọc, biết viết 4 8,0
Tiểu học 6 12,0
Trung học cơ sở 5 10,0
Trung học phổ thông 18 36,0
Trung cấp / Cao đẳng 12 24,0
Đại học / Trên đại học 5 10,0
Nghề nghiệp Nông nghiệp 0 0,0
Buôn bán, dịch vụ 12 24,0
Nghề tự do 8 16,0
Học sinh, sinh viên 7 14,0
Cán bộ, công nhân viên chức 15 30,0
Hưu trí, già yếu, không làm việc 8 16,0

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị thế đô thị trung tâm của phường Hồng Gai thuộc thành phố Hạ Long, các tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đối với môi trường tự nhiên, mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài trong công tác quản lý tài nguyên - môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các vấn đề môi trường toàn cầu (suy giảm diện tích và chất lượng rừng, suy giảm đa dạng sinh học với giá trị dịch vụ hệ sinh thái ước tính 21–72 tỷ USD/năm so với GDP toàn cầu năm 2008 là 58.000 tỷ USD, cạn kiệt tài nguyên nước ngọt khi nước ngọt sử dụng được chỉ chiếm 0,01% tổng lượng nước, cạn kiệt năng lượng hóa thạch, hiện tượng nóng lên toàn cầu theo kịch bản IPCC làm tăng nhiệt độ 1,8°C đến 6,4°C vào năm 2100 và gia tăng dân số). Phân tích hiện trạng môi trường Việt Nam (độ che phủ rừng tăng đạt 37% diện tích năm 2004 nhưng 70% là rừng nghèo; diện tích đất canh tác bình quân đầu người xếp thứ 159/200 quốc gia; áp lực suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước và chất thải đô thị). Tổng hợp các nghiên cứu về nhận thức môi trường: nghiên cứu của dự án SEMLA tại Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu; khảo sát nhận thức biến đổi khí hậu tại TP. Hồ Chí Minh; nghiên cứu quản lý rác thải sinh hoạt tại phường Phú Thọ (Thủ Dầu Một, Bình Dương); nghiên cứu KAP (Kiến thức - Thái độ - Thực hành) về vệ sinh môi trường của Hoàng Thái Sơn tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) và mô hình truyền thông vệ sinh môi trường nông thôn tại xã Thiện Thuật (Bình Gia, Lạng Sơn).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là nhận thức môi trường của cộng đồng dân cư phường Hồng Gai; thời gian nghiên cứu (tháng 01/2014 – 04/2014); nội dung nghiên cứu gồm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường, mức độ hiểu biết của người dân về môi trường và đề xuất giải pháp. Quy định quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên $N = 50$, kết hợp phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu chuyên gia/cán bộ và kỹ thuật thống kê mô tả.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương tập trung vào 4 nhóm kết quả chính:

1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu

Phường Hồng Gai có diện tích tự nhiên 1,672 $\text{km}^2$, dân số năm 2009 là 9.013 người (2.121 hộ gia đình, mật độ 5.390 người/$\text{km}^2$). Địa hình đồi núi đá vôi độ cao trung bình 8–9m so với mực nước biển, dốc từ Bắc xuống Nam và Đông Bắc xuống Tây Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển với nhiệt độ trung bình năm 20–21°C, lượng mưa trung bình 1.764 mm/năm (85% tập trung vào tháng 6–9), độ ẩm trung bình 82%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng thương mại, dịch vụ, du lịch; giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2009 đạt trên 600 tỷ đồng; thu ngân sách năm 2009 đạt 13 tỷ đồng. Hạ tầng kỹ thuật gồm các trục giao thông chính: đường Lê Thánh Tông (1,8 km thảm nhựa), đường Cách mạng tháng Tám (1,7 km bê tông hóa), đường Trần Quốc Nghiễn (1,8 km thảm nhựa); 100% hộ gia đình sử dụng điện lưới quốc gia; phủ sóng mạng không dây VNPT toàn phường từ tháng 6/2013; có 1 trạm y tế phục vụ 28.659 lượt khám bệnh giai đoạn 2005–2009.

2. Hiện trạng môi trường tại phường Hồng Gai

  • Cấp nước sinh hoạt: 96% hộ gia đình (48/50 hộ) sử dụng nước máy sinh hoạt; 4% hộ gia đình (2/50 hộ) sử dụng kết hợp nước máy và nước giếng khoan (khoảng cách từ giếng khoan đến nhà vệ sinh khoảng 20m). Về chất lượng nước, 96% hộ đánh giá nước không có màu/mùi lạ; 4% hộ phản ánh nước giếng khoan có hiện tượng đục và màu lạ. Trữ lượng nước cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu.
  • Thoát nước thải: 88% hộ (44/50 hộ) sử dụng cống thải có nắp đậy, 8% (4/50 hộ) sử dụng cống lộ thiên và 4% (2/50 hộ) không có cống dẫn. Nguồn tiếp nhận: 96% hộ xả thải vào hệ thống cống chung đô thị, 4% hộ xả nước thải ngấm trực tiếp vào đất.
  • Phát sinh và thu gom rác thải: 70% hộ phát sinh lượng rác dưới 5 kg/ngày, 20% phát sinh 5–10 kg/ngày, 10% phát sinh 10–20 kg/ngày. 74% hộ có thực hành tái sử dụng rác thải (vỏ chai nhựa, túi nilon, vật liệu cháy). Về hình thức đổ rác: 70% hộ thực hiện qua hợp đồng dịch vụ thu gom, 18% có hố rác riêng, 8% đổ tại bãi rác tập trung của khu dân cư, 4% đổ rác tùy tiện không đúng nơi quy định. Đánh giá chất lượng thu gom: 86% đánh giá tốt, 6% rất tốt, 4% chưa tốt và 4% khó trả lời.
  • Công trình vệ sinh và sức khỏe cộng đồng: 100% hộ gia đình (50/50 hộ) sử dụng nhà tiêu tự hoại và xả nước thải vào bể tự hoại đạt Quy chuẩn QCVN 01:2011/BYT. Địa bàn chưa từng xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng; 56% người tham gia khảo sát cho biết người thân trong gia đình từng mắc bệnh hô hấp thông thường (cảm, cúm). Đánh giá tổng thể hiện trạng môi trường địa phương: 10% rất tốt, 70% tốt, 20% bình thường.

3. Hiểu biết và nhận thức của người dân về môi trường

  • Khái niệm môi trường và ô nhiễm: 94% người được hỏi nắm được khái niệm môi trường; 98% hiểu đúng hoặc gần đúng khái niệm ô nhiễm môi trường. Nhóm chưa nắm được (chiếm 2–6%) thuộc nhóm trình độ học vấn biết đọc, biết viết.
  • Nhận thức về biểu hiện ô nhiễm và mối liên hệ sức khỏe: 96% người dân nhận biết được các biểu hiện của ô nhiễm môi trường (100% đối tượng có học vấn từ THCS trở lên nhận biết đầy đủ). Về mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe: 100% đối tượng nữ nhận thức được, trong khi ở nam giới tỷ lệ này là 92% (8% nam giới cho rằng ô nhiễm ở nơi khác không ảnh hưởng đến gia đình mình).
  • Nhận thức và thực hành phân loại rác thải: 34% đánh giá việc phân loại rác là rất quan trọng, 38% đánh giá quan trọng, 10% đánh giá không quan trọng và 18% không biết. Tuy nhiên, 100% hộ gia đình được khảo sát (50/50 hộ) không thực hiện phân loại rác tại nguồn trước khi thải bỏ, do trở ngại về mặt thời gian và diện tích lưu chứa. Nhận thức phân biệt rác dễ/khó phân hủy đạt 88%, nhận thức về chất thải nguy hại đạt 48%.
  • Hiểu biết pháp luật bảo vệ môi trường: 58% người dân (29/50 người) có hiểu biết về Luật Bảo vệ Môi trường (nhóm cán bộ, công chức đạt 86,67%; nhóm buôn bán đạt 75%; nhóm hưu trí chỉ đạt 12,5%). Có 30/50 người biết Bộ luật Hình sự quy định về tội phạm môi trường; 9/50 người biết mức phạt tiền tối đa đối với vi phạm hành chính; 23/50 người (46%) biết thẩm quyền xử phạt; 29/50 người (58%) biết thẩm quyền giải quyết khiếu nại; 31/50 người (62%) biết quy định cam kết bảo vệ môi trường của hộ kinh doanh; 48/50 người (96%) xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn dân.
  • Công tác thông tin và hoạt động phong trào: Nguồn tiếp nhận thông tin môi trường chủ yếu từ chính quyền cơ sở (66%), phong trào tuyên truyền cổ động (64%), sách báo (60%), truyền hình/đài phát thanh quốc gia (44%), bạn bè (28%) và loa truyền thanh địa phương (20%). Có 48/50 hộ gia đình cho biết định kỳ 1 quý/lần nhận được thông tin tuyên truyền vệ sinh môi trường và trực tiếp tham gia các hoạt động tổng vệ sinh môi trường khu dân cư (hưởng ứng ngày 1/5, ngày Môi trường Thế giới 5/6, Giờ Trái Đất).

4. Đánh giá chung và đề xuất giải pháp

Đánh giá tổng thể cho thấy người dân phường Hồng Gai đã bắt đầu quan tâm đến môi trường nhưng mức độ chuyển hóa từ nhận thức thành hành vi cụ thể (đặc biệt là phân loại rác) còn rất thấp. Công tác tuyên truyền của chính quyền còn mang tính lồng ghép trong các cuộc họp tổ dân phố, thiếu các chương trình tập huấn chuyên đề chuyên sâu do hạn chế về nhân lực chuyên môn.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu và nêu các kiến nghị nhằm tăng cường công tác giáo dục truyền thông, đầu tư hoàn thiện mạng lưới cống thoát nước đô thị và cải thiện trang thiết bị, chế độ đãi ngộ cho lực lượng công nhân vệ sinh môi trường trên địa bàn.


Kết quả và đóng góp

Tổng hợp các kết quả định lượng chính

Bảng tổng hợp các chỉ số nhận thức và thực trạng môi trường tại phường Hồng Gai (N=50)
Nhóm chỉ tiêu đánh giá Chỉ số cụ thể trích xuất từ dữ liệu điều tra Tỷ lệ (%)
Hạ tầng cấp - thoát nước Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy sinh hoạt 96,0%
Tỷ lệ hộ sử dụng cống thải có nắp đậy kiên cố 88,0%
Tỷ lệ hộ xả nước thải vào cống thoát nước chung 96,0%
Tỷ lệ hộ xả nước thải sinh hoạt ngấm xuống đất 4,0%
Quản lý chất thải & VSMT Tỷ lệ hộ phát sinh rác thải sinh hoạt dưới 5 kg/ngày 70,0%
Tỷ lệ rác thải được thu gom qua hợp đồng dịch vụ 70,0%
Tỷ lệ hộ dân có thói quen tái sử dụng đồ thải bỏ 74,0%
Tỷ lệ hộ sử dụng nhà tiêu tự hoại (QCVN 01:2011/BYT) 100,0%
Tỷ lệ hộ thực tế không phân loại rác tại nguồn 100,0%
Nhận thức & Pháp luật MT Tỷ lệ người dân nắm được khái niệm ô nhiễm môi trường 98,0%
Tỷ lệ người dân nhận biết được biểu hiện ô nhiễm 96,0%
Tỷ lệ người dân hiểu biết chung về Luật BVMT 58,0%
Tỷ lệ người dân biết Bộ luật Hình sự có tội phạm MT 60,0%
Tỷ lệ người dân biết thẩm quyền xử phạt VPHC về MT 46,0%
Tỷ lệ người dân xác định BVMT là trách nhiệm toàn dân 96,0%

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Công tác tuyên truyền, giáo dục: Đổi mới phương thức truyền thông, tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề định kỳ thay vì chỉ lồng ghép trong các cuộc họp chi bộ hoặc tổ dân phố; đưa nội dung phân loại rác thải tại nguồn thành tiêu chí thi đua gia đình văn hóa.
  • Công tác quản lý và hoàn thiện hạ tầng: Chính quyền phường cần phối hợp hoàn thiện các đoạn cống hở, rà soát 4% hộ chưa có hệ thống thoát nước chuẩn; bố trí thêm thùng rác công cộng phân loại tại các trục đường chính (Lê Thánh Tông, Cách mạng tháng Tám, Trần Quốc Nghiễn).
  • Hỗ trợ lực lượng vệ sinh môi trường: Trang bị thêm bảo hộ lao động và phương tiện thu gom cơ giới/bán cơ giới cho công nhân thu gom rác, điều chỉnh khung giờ thu gom rác hợp lý và tăng cường giám sát, xử phạt hành chính đối với các trường hợp vứt rác không đúng giờ quy định.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng về thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi môi trường của người dân tại một phường trung tâm đô thị ven biển (phường Hồng Gai, TP. Hạ Long) trong giai đoạn 2014.
  • Chỉ ra khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế: Đa số người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc xử lý và phân loại rác thải, nhưng tỷ lệ thực hành phân loại rác tại nguồn đạt 0% do rào cản về hạ tầng thu gom đồng bộ và thói quen sinh hoạt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Quy mô mẫu khảo sát còn nhỏ ($N = 50$ hộ gia đình trên tổng số 2.121 hộ của 23 tổ dân phố), dẫn đến tính đại diện về mặt thống kê có thể chưa bao quát hết sự biến thiên nhận thức của toàn thể cư dân đô thị.
    • Thời gian điều tra thực địa tương đối ngắn (4 tháng, từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014).
    • Phương pháp xử lý dữ liệu chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm đơn biến, chưa áp dụng các mô hình hồi quy đa biến hay kiểm định thống kê suy diễn để đo lường mức độ tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội đến hành vi môi trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát lên quy mô cấp quận/huyện hoặc toàn thành phố Hạ Long, so sánh đối chứng giữa các phường trung tâm và các xã/phường ven đô.
    • Nghiên cứu sâu về các mô hình can thiệp xã hội học (thí điểm mô hình phân loại rác tại nguồn cấp tổ dân phố) và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật sau can thiệp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng tài liệu:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên môi trường, Khoa học môi trường, Xã hội học đô thị.
    • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã/phường, cán bộ công tác tại các cơ quan quản lý đô thị và đoàn thể địa phương phụ trách công tác truyền thông vệ sinh môi trường.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể:
    • Khung câu hỏi khảo sát thực địa về nhận thức môi trường, phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học môi trường kết hợp phỏng vấn sâu nhân viên vệ sinh đô thị.
    • Dữ liệu hiện trạng môi trường cơ sở (nguồn nước, cống rãnh, phát sinh chất thải rắn, mô hình nhà vệ sinh tự hoại) tại đô thị Hạ Long năm 2014.
    • Cách thức trình bày và phân tích dữ liệu nhận thức môi trường theo các nhóm biến nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nhóm nghề nghiệp).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của các hộ gia đình trên địa bàn phường Hồng Gai trong nghiên cứu là bao nhiêu? Trong số 50 hộ gia đình được khảo sát, 100% hộ dân cho biết họ hoàn toàn không thực hiện phân loại rác thải trước khi vứt bỏ, mặc dù có 34% đánh giá việc phân loại là rất quan trọng và 38% đánh giá là quan trọng. Lý do chính được người dân đưa ra là tốn diện tích lưu trữ và mất thời gian.

2. Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt và chất lượng nước tại phường Hồng Gai được ghi nhận như thế nào? Có 96% hộ gia đình (48/50 hộ) sử dụng nước máy sinh hoạt và đánh giá nước không có mùi, vị hay màu sắc lạ. 4% hộ gia đình (2/50 hộ) sử dụng song song nước máy với nước giếng khoan và phản ánh nguồn nước giếng khoan bị đục và có màu lạ. 100% hộ khẳng định trữ lượng nước đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.

3. Sự hiểu biết về Luật Bảo vệ Môi trường phân hóa như thế nào theo nghề nghiệp của người được khảo sát? Tỷ lệ hiểu biết về Luật Bảo vệ Môi trường đạt cao nhất ở nhóm Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước (86,67%) và nhóm Buôn bán, dịch vụ (75,0%). Ngược lại, nhóm Hưu trí/người già yếu có tỷ lệ không biết luật cao nhất (87,5%), trong khi nhóm Học sinh/sinh viên có 28,5% biết, 43,0% không biết và 28,5% không đưa ra câu trả lời.

4. Tình hình đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật đối với công trình vệ sinh tại địa phương ra sao? 100% hộ gia đình tham gia điều tra (50/50 hộ) sử dụng nhà tiêu tự hoại và xả chất thải vào bể tự hoại khép kín, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2011/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 24/06/2011.

5. Nguồn tiếp nhận thông tin môi trường nào phổ biến nhất đối với người dân phường Hồng Gai? Kênh thông tin từ chính quyền cơ sở đạt tỷ lệ tiếp nhận cao nhất với 66% (33/50 người), tiếp theo là các phong trào tuyên truyền cổ động (64%), sách báo (60%), đài truyền hình/phát thanh trung ương (44%), bạn bè/người xung quanh (28%) và loa truyền thanh địa phương (20%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Văn Tài đã phản ánh bức tranh thực trạng về hạ tầng vệ sinh môi trường và mức độ nhận thức của người dân phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long vào thời điểm năm 2014. Kết quả khảo sát $N=50$ hộ gia đình chỉ ra rằng trong khi các chỉ tiêu hạ tầng cơ bản (tỷ lệ sử dụng nước máy 96%, nhà tiêu tự hoại 100%, cống có nắp đậy 88%) đạt mức cao, thì mức độ hiểu biết sâu về pháp luật môi trường và ý thức thực hành phân loại rác tại nguồn của người dân vẫn còn nhiều hạn chế. Công trình là tài liệu tham khảo thực tiễn hữu ích cho công tác quản lý tài nguyên môi trường và thiết kế các chương trình truyền thông cộng đồng tại các đô thị ven biển.