MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các nhà máy, các khu công nghiệp được mở rộng và phát triển nhanh chóng. Một mặt đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước, mặt khác tạo ra một lượng lớn chất thải bao gồm rác thải sinh hoạt, rác công nghiệp, rác y tế… Các chất thải nói trên nếu không được quản lý đúng đắn sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe con người. Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng và phổ biến dẫn đến suy thoái môi trường đất, nước, không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn chất thải rắn ngày càng gia tăng.
Việc quản lý chất thải rắn của các Bộ, các nghành, các địa phương hiện nay chưa đáp ứng được các đòi hỏi của tình hình thực tế. Vì vậy, nguy cơ ô nhiễm do rác đang là một vấn đề cấp bách đối với hầu hết các địa phương trong cả nước. Chợ Đồn là một huyện miền núi có tốc độ đô thị hóa tương đối nhanh, Huyện có 1 thị trấn và 21 xã, các khu chợ, nhà hàng, các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ đua nhau phát triển, lượng chất thải cũng từ đó mà tăng lên rất nhanh. Cùng với sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước huyện Chợ Đồn cũng đang phát triển mạnh mẽ, sự phát triển đó tạo nhiều công ăn việc làm, đời sống người dân được nâng cao.
Nhưng bên cạnh mặt tích cực đó chất lượng môi trường đang ngày một suy giảm, các biện pháp quản lý chất thải chưa được quan tâm đúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho 2 công tác thu gom và xử lý rác thải chưa cao, chưa có cán bộ môi trường giám sát thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt… Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của ban giám hiệu, các thầy cô giáo bộ môn trong khoa Môi Trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo ThS. Nguyễn Thị Huệ – giảng viên khoa Môi trường, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá nhận thức của người dân về công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Bằng Lũng – huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của thị trấn Bằng Lũng – huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn. - Đánh giá nhận thức của người dân về công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Bằng Lũng – huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRSH tại thị trấn Bằng Lũng – huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Thông qua những khía cạnh nghiên cứu việc thực hiện đề tài nhằm thu thập những thông tin định tính và định lượng nhận thức của người dân về công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đóng góp một phần nào đó cho hệ thống lí luận và phương pháp luận về nhận thức trong công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân đối với môi trường.
- Thông qua việc xử lý và phân tích dựa trên số liệu thu thập được cho thấy thực trạng việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân hiện nay. Từ đó phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt 3 tiêu cực của người dân trong việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Cho thấy được ý thức cộng đồng của người dân hiện nay qua việc hiểu biết và hành vi của người dân về công tác thu gom, xử lý và phân loại chất thải rắn sinh hoạt nói chung. - Thông qua các số liệu đã thu thập được giúp cho người dân nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có những chỉnh đốn kịp thời phù hợp hoàn cảnh đất nước hiện nay.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài mang tính chất thăm dò nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường thông qua việc thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày và qua công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt. - Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này sâu hơn và cho các sinh viên khoá sau. - Qua đề tài em cũng đề ra những biện pháp giúp địa phương tham khảo trong việc quản lý và hướng dẫn người dân trong việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. - Qua đó cũng đề xuất một số khuyến nghị để địa phương tạo điều kiện và cung cấp một số kiến thức về môi trường giúp cho người dân nâng cao nhận thức, có trách nhiệm với môi trường qua những hành động cụ thể.
4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Tổng quan về chất thải rắn (CTR) Theo điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 nghị định về quản lý chất thải và phế liệu [9]: + Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. + Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.
+ Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế. + Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau. + Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển. + Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải.
+ Đồng xử lý chất thải là việc kết hợp một quá trình sản xuất sẵn có để tái chế, xử lý, thu hồi năng lượng từ chất thải trong đó chất thải được sử dụng làm nguyên vật liệu, nhiên liệu thay thế hoặc được xử lý. Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác nhau. Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những 5 nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây: - Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: + Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hộ gia đình. + Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại: Là những chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí. - Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: Theo cách này người ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa… - Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: Chất thải độc hại, chất thải đặc biệt. Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả. Khái niệm chất thải rắn (CTR) Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Nguồn phát sinh chất thải rắn Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động: - Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ và thương mại - Cơ quan, trường học - Bệnh viện 6 - Hoạt động xử lý rác thải - Nơi vui chơi giải trí - Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp - Nhà dân, khu dân cư - Dịch vụ, thương mại, xe, nhà gas - Giao thông, xây dựng Nhà dân, khu dân Cơ quan, trường Nơi vui chơi, cư học giải trí Dịch vụ, thương Bệnh viện, cơ mại, xe, nhà ga Chất thải rắn sở y tế Giao thông, xây Nông nghiệp, Khu công dựng hoạt động xử lý nghiệp, nhà rác thải máy, xí nghiệp Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh.
Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần 7 chất thải rắn sinh hoạt là điều hết sức cần thiết. Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế. Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm… chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng… chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp… Bảng 2.1: Thành phần của CTRSH Thành phần Nguồn gốc Ví dụ 1. Các chất cháy được a.
Giấy Các vật liệu làm từ giấy và bột Các túi giấy, mành bìa, giấy vệ sinh b.