Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vườn Quốc gia Ba Bể là khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng và vùng đất ngập nước nội địa thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Khu vực này được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ban đầu là 7.226 ha và hơn 300 ha diện tích mặt hồ. Vườn sở hữu hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng thường xanh đất thấp và hồ tự nhiên trên núi đá vôi lớn nhất Việt Nam. Vườn Quốc gia Ba Bể được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) xếp vào danh sách một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ, được công nhận là Vườn Di sản ASEAN vào năm 2003, Khu Ramsar thứ 1938 của thế giới vào năm 2011 và Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2012.

Tuy nhiên, áp lực dân sinh và các hoạt động phát triển kinh tế đang tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên của khu bảo tồn. Sự phát triển du lịch tự phát, thiếu ý thức bảo vệ môi trường của du khách và cư dân địa phương dẫn đến tình trạng rác thải bừa bãi trên các tuyến đường mòn và mặt nước hồ. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng thu gom, xử lý chất thải rắn và nước thải sinh hoạt tại chỗ hầu như chưa được đầu tư đồng bộ. Đặc biệt, lòng hồ Ba Bể đang đối mặt với hiện tượng bồi lắng nhanh bắt nguồn từ các hoạt động khai thác khoáng sản cát sỏi xung quanh lưu vực, tập quán phát nương làm rẫy trên đất dốc, chặt phá rừng và khai thác gỗ nghiến trái phép. Trước thực trạng đó, tác giả Dầu Thị Mai đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường nhằm khảo sát thực tế và đánh giá mức độ hiểu biết của cộng đồng dân cư địa phương về môi trường.

Văn bản xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Đánh giá nhận thức của người dân về một số vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và công tác bảo vệ môi trường tại vùng lõi của Vườn Quốc gia Ba Bể.
  2. Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa phương.

Về yêu cầu và phạm vi nghiên cứu:

  • Yêu cầu nghiên cứu: Thu thập thông tin, điều tra phân tích để xác định các nguồn và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng môi trường vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể; bảo đảm số liệu phản ánh trung thực, khách quan; đưa ra các kiến nghị có tính khả thi, phù hợp điều kiện thực tế.
  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết, nhận thức và hành vi của người dân về các vấn đề môi trường.
  • Phạm vi không gian: Vùng lõi của Vườn Quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tập trung tại các thôn, bản thuộc các xã Nam Mẫu, Khang Ninh và Quảng Khê).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 21 tháng 01 năm 2014 đến ngày 30 tháng 04 năm 2014, với địa điểm thực tập và thu thập hồ sơ quản lý tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên hệ thống khái niệm định chuẩn của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (được trích dẫn theo tài liệu nghiên cứu chuyên ngành), bao gồm các định nghĩa pháp lý và khoa học về: môi trường, thành phần môi trường, ô nhiễm môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, rác thải, sự cố môi trường, chất thải, quản lý chất thải và thông tin môi trường. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng định nghĩa triết học và ngôn ngữ học về "nhận thức" như một quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức con người, khái niệm Vườn Quốc gia và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu hợp vệ sinh ban hành kèm theo Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011 của Bộ Y tế (QCVN 01:2011/BYT).

Về mặt thực tiễn, tác giả tổng thuật các vấn đề môi trường cấp bách trên thế giới (công bố của GS.TS Võ Quý và UNEP năm 2010 về suy thoái 40% diện tích rừng qua 300 năm, phát thải 6 tỷ tấn CO2 mỗi năm do mất rừng nhiệt đới, khủng hoảng cạn kiệt tài nguyên nước ngọt khả dụng chỉ chiếm 0,01%, nguy cơ cạn kiệt năng lượng hóa thạch trong 40 đến 120 năm, kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC với mức tăng nhiệt độ 1,8°C đến 6,4°C vào năm 2100). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp số liệu về suy giảm độ che phủ rừng từ 43% năm 1943 xuống 28,4% năm 1990 (đạt 36,7% năm 2004 nhưng 70% là rừng nghèo), áp lực chuyển đổi đất nông nghiệp bình quân 72.000 ha mỗi năm, cùng tình trạng vệ sinh môi trường nông thôn với tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh toàn quốc thời điểm đó chỉ đạt 28% - 30%. Đồng thời, khóa luận phân tích các nghiên cứu nhận thức môi trường đã công bố: chương trình SELMA của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu; khảo sát nhận thức biến đổi khí hậu của TS. Lê Văn Khoa; nghiên cứu phân loại rác tại phường Phú Thọ, thị xã Thủ Dầu Một; nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về vệ sinh môi trường của Hoàng Thái Sơn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (chỉ 3,4% người dân đạt mức kiến thức tốt) và mô hình tuyên truyền tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tiếp cận, tổng hợp dữ liệu quy hoạch, báo cáo kiểm kê rừng, niên giám thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Ủy ban nhân dân các xã trong khu vực.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc in sẵn kết hợp khảo sát, quan sát thực địa. Cỡ mẫu khảo sát gồm 50 hộ gia đình sinh sống trực tiếp tại các thôn bản thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm (%), lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ hình cột, biểu đồ tròn để so sánh, phân tích các chỉ tiêu nhận thức và hiện trạng xả thải.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Nội dung phần này phân tích tính cấp thiết của đề tài trên cơ sở đối chiếu giá trị sinh thái đặc biệt của Vườn Quốc gia Ba Bể với những nguy cơ suy thoái môi trường do con người tạo ra. Khóa luận chỉ rõ hồ Ba Bể đang chịu hiện tượng bồi lắng nhanh và ô nhiễm cục bộ ven bờ do các hoạt động du lịch không kiểm soát, tập quán khai thác tài nguyên và thói quen xả thải tự do của cư dân địa phương. Phần mở đầu cũng xác định 2 mục tiêu nghiên cứu, 3 yêu cầu phương pháp luận, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này cấu trúc thành hai mảng cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn. Tác giả trích dẫn các văn bản pháp luật, tài liệu chuyên khảo về bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và quản lý chất thải. Phần thực tiễn phân tích chi tiết các báo cáo môi trường toàn cầu của UNEP, IPCC và hiện trạng suy thoái tài nguyên rừng, đất, nước tại Việt Nam. Đặc biệt, tác giả tổng thuật kết quả các công trình điều tra nhận thức cộng đồng trước đó: chương trình SELMA ghi nhận trên 80% cán bộ tại Hà Giang hiểu sai về trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; khảo sát tại Bình Dương chỉ ra 44,9% hộ dân thực hiện phân loại rác trước xử lý; khảo sát KAP tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ thực hành vệ sinh môi trường tốt chỉ đạt 12,5%.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định địa bàn nghiên cứu cụ thể tại các thôn vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, thời gian thực hiện kéo dài hơn 3 tháng (từ 21/01/2014 đến 30/04/2014). Nội dung nghiên cứu được chia làm 5 hợp phần: khảo sát đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội Vườn Quốc gia Ba Bể; mô tả cơ cấu mẫu điều tra; đánh giá hiện trạng môi trường vùng lõi (nước sinh hoạt, nước thải, rác thải, công trình vệ sinh, tác động sinh thái); tìm hiểu nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường; tổng hợp đánh giá và đề xuất giải pháp. Quy trình điều tra sơ cấp được chuẩn hóa thông qua bộ phiếu phỏng vấn trực tiếp 50 chủ hộ đại diện kết hợp quan sát hiện trường xả thải.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh chi tiết kết quả nghiên cứu thực địa và tổng hợp tư liệu quản lý:

  • Điều kiện tự nhiên và đa dạng sinh học: Vườn Quốc gia Ba Bể có tọa độ từ 22°06’12” đến 22°08’14” vĩ độ Bắc và 105°09’07” đến 105°12’22” kinh độ Đông, tổng diện tích tự nhiên 10.048 ha. Địa hình gồm 5 kiểu: núi thấp (chiếm 43,7%), địa hình Kast (23,6%), núi trung bình (23%), thung lũng hồ (6,5%) và vùng đồi (3,2%). Diện tích mặt nước đạt gần 500 ha, bao gồm hồ Ba Bể (trên 311 ha) và hệ thống sông Chợ Lèng (lưu vực 194 km2), suối Bó Lù (137 km2), suối Tả Han (89 km2) chảy ra sông Năng. Diện tích đất có rừng là 7.724,8 ha (độ che phủ 75,6%), trong đó rừng tự nhiên chiếm 7.648,9 ha (99,6% đất có rừng); đất chưa có rừng còn 1.301,2 ha (với 725,7 ha nương rẫy không cố định). Vườn có 26 loài thực vật bậc cao quý hiếm (16 loài Sách Đỏ Việt Nam 2007 như Nghiến, Sến mật, Chò chỉ, Lim xanh; loài đặc hữu Trúc dây - Ampelocalamus sp.) và 41 loài động vật thuộc Sách Đỏ Việt Nam 2007 (Voọc đen má trắng, Báo lửa, Gấu ngựa, Rùa đầu to, Rắn hổ chúa...).
  • Điều kiện kinh tế - xã hội vùng lõi: Vùng lõi có 15 thôn bản với hơn 3.000 dân (xã Nam Mẫu có 9 thôn, Khang Ninh có 3 thôn, Quảng Khê có 3 thôn). Người Tày và Dao chiếm gần 90% dân số; tỷ lệ lao động nông - lâm nghiệp chiếm 93,2%; tỷ lệ hộ nghèo xã Nam Mẫu lên tới 49,05%. Bình quân lương thực vùng cao chỉ đạt 150 - 180 kg/người/năm (so với 520 kg/người/năm toàn vùng).
  • Đặc điểm mẫu 50 hộ khảo sát: Nam giới chiếm 66% (33 người), nữ giới chiếm 34% (17 người). Về độ tuổi, 96% người tham gia trong độ tuổi lao động (nhóm 20-29 tuổi chiếm 22%, 30-39 tuổi chiếm 28%, 40-49 tuổi chiếm 40%, 50-59 tuổi chiếm 6%, từ 60 tuổi trở lên chiếm 4%). Về nghề nghiệp, làm nông nghiệp chiếm 44%, kinh doanh buôn bán và dịch vụ chiếm 26%, cán bộ công chức chiếm 12%, nghề tự do chiếm 8%, hưu trí chiếm 6%, học sinh sinh viên chiếm 4%.
  • Hiện trạng hạ tầng môi trường và nhận thức cư dân:
    • Nước sinh hoạt: 62% số hộ dùng nước tự chảy từ khe suối trên rừng bắc ống về; 20% dùng giếng đào; 10% dùng giếng khoan; 8% dùng nước hồ. Có 88% số hộ cho rằng nguồn nước không có vấn đề, dù nguồn nước tự nhiên bị đục vào mùa mưa và nhiễm vôi; 88% số hộ không sử dụng bất kỳ thiết bị lọc nào mà dùng trực tiếp, chỉ 6% số hộ (3 hộ) có bình lọc nước gia đình.
    • Thoát nước thải: 92% số hộ hoàn toàn không có hệ thống cống rãnh thoát nước; 8% có cống lộ thiên; không có hộ nào có cống đậy nắp. Nơi xả nước thải sinh hoạt: 58% hộ xả thẳng xuống sông, suối, hồ; 26% hộ để nước ngấm tự do xuống đất.
    • Quản lý rác thải: 60% số hộ vứt rác tùy tiện ra môi trường xung quanh hoặc tự gom đốt; 40% số hộ được thu gom theo hợp đồng định kỳ 2 lần/tháng (chỉ áp dụng tại 3 thôn làm du lịch: Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc thuộc xã Nam Mẫu do Hội Phụ nữ thực hiện). Không có hộ nào có hố rác đạt chuẩn hay bãi rác tập trung.
    • Công trình vệ sinh: 52% số hộ sử dụng hố xí đất; 30% sử dụng nhà vệ sinh hai ngăn nhưng không đạt chuẩn quy định (ủ chưa đủ 6 tháng đã đem bón cây); 14% có nhà tiêu tự hoại (hộ khá giả, kinh doanh nhà nghỉ, homestay); 4% số hộ hoàn toàn không có nhà vệ sinh. Điểm tiếp nhận nước thải nhà tiêu: 76% ngấm trực tiếp xuống đất, 14% vào bể tự hoại, 6% xả ra sông suối và 4% xả thẳng xuống mặt hồ Ba Bể.
    • Hoạt động tác động tiêu cực: 11/20 hộ được điều tra tại Khang Ninh và Quảng Khê thừa nhận có hoạt động khai thác cát sỏi (tiêu biểu là Hợp tác xã Sông Năng khai thác thương mại, trực tiếp làm tăng lượng bùn cát bồi lắng lòng hồ); hoạt động đánh bắt cá ven hồ của cư dân xã Nam Mẫu vi phạm kích thước mắt lưới quy định (dùng lưới có mắt nhỏ hơn 3x3 cm); phá nương trên sườn núi dốc và lén lút khai thác gỗ nghiến.

Phần 5: Kết luận

Khóa luận tổng kết toàn bộ các kết quả khảo sát, khẳng định thực trạng hạ tầng môi trường tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể đang ở mức rất thô sơ, tiềm ẩn rủi ro ô nhiễm nguồn nước và suy thoái cảnh quan du lịch sinh thái. Đồng thời, văn bản chỉ rõ khoảng cách lớn giữa nhận thức khái quát về môi trường với hành vi thực hành bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa bức tranh thực tế về điều kiện vệ sinh môi trường và tập quán xả thải của 50 hộ gia đình tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể qua các số liệu thống kê cụ thể:

Tiêu chí khảo sát Phân loại chi tiết Tỷ lệ hộ gia đình (%)
Nguồn nước sinh hoạt Nước khe suối dẫn tự nhiên
Giếng đào thủ công
Giếng khoan
Nước hồ Ba Bể
62,0%
20,0%
10,0%
8,0%
Hiện trạng cống thoát nước Không có cống thải
Cống lộ thiên
Cống có nắp đậy
92,0%
8,0%
0,0%
Nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt Thải trực tiếp xuống hồ, suối
Ngấm tự nhiên xuống đất
Nơi khác
58,0%
26,0%
16,0%
Hình thức xử lý rác thải Đổ tùy tiện ra môi trường / tự đốt
Thu gom theo hợp đồng (Hội Phụ nữ)
60,0%
40,0%
Loại hình nhà vệ sinh Nhà vệ sinh hố xí đất
Nhà vệ sinh hai ngăn (chưa đạt chuẩn)
Nhà vệ sinh tự hoại
Không có nhà vệ sinh
52,0%
30,0%
14,0%
4,0%
Nơi tiếp nhận chất thải nhà vệ sinh Ngấm trực tiếp xuống đất
Bể tự hoại xử lý
Thải ra sông, suối
Thải trực tiếp xuống hồ
76,0%
14,0%
6,0%
4,0%

Từ kết quả khảo sát, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Lồng ghép nội dung Luật Bảo vệ môi trường và quy chế bảo tồn rừng đặc dụng vào các buổi họp thôn, sinh hoạt đoàn thể (phụ nữ, thanh niên); nâng cao nhận thức về nguy cơ bệnh tật do nguồn nước nhiễm khuẩn và tập quán dùng phân tươi.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật và cơ sở hạ tầng: Chính quyền địa phương cần đầu tư hệ thống rãnh thoát nước chung cho các cụm dân cư ven hồ; hỗ trợ kinh phí và hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nghèo xây dựng nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn QCVN 01:2011/BYT; trang bị thêm thùng rác tại các tuyến điểm du lịch và duy trì xe chuyên trách vận chuyển rác đi xử lý định kỳ.
  • Nhóm giải pháp quản lý tài nguyên và sinh kế: Siết chặt công tác thanh tra hoạt động khai thác cát sỏi ven sông Năng của Hợp tác xã Sông Năng; kiểm tra việc chấp hành quy định kích thước mắt lưới đánh bắt cá (tối thiểu 3x3 cm); quy hoạch vùng nương rẫy cố định thay vì để đồng bào mở rộng nương du canh trên đất dốc; phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồng (homestay) có sự tham gia của người dân vùng cao để tạo việc làm bền vững, giảm thiểu áp lực khai thác rừng đặc dụng.

Về đóng góp chuyên môn, khóa luận cung cấp bộ dữ liệu vi mô độc lập về thực trạng môi trường sống của các hộ gia đình sinh sống ngay bên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Ba Bể tại thời điểm năm 2014, làm rõ mối liên hệ giữa điều kiện kinh tế nghèo nàn với những hạn chế trong thực hành vệ sinh môi trường tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của sinh viên:

  • Dung lượng mẫu khảo sát còn nhỏ (N = 50 hộ gia đình), chỉ phản ánh một phần nhỏ trong tổng số hơn 3.000 cư dân sinh sống tại 15 thôn bản vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể.
  • Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và quan sát ngoại quan; chưa tiến hành lấy mẫu kiểm nghiệm hóa lý, vi sinh đối với nguồn nước khe suối và nước hồ để đối chứng chính xác với nhận định chủ quan của người dân.
  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2014), chưa theo dõi được biến động môi trường và lượng rác thải vào mùa cao điểm du lịch hè.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Mở rộng quy mô điều tra xã hội học trên toàn bộ các thôn bản của 3 xã vùng lõi và các xã vùng đệm để có số liệu đại diện toàn diện hơn.
  • Kết hợp khảo sát nhận thức với việc phân tích chất lượng các thành phần môi trường (nước mặt, nước ngầm, trầm tích đáy hồ) tại các điểm tập trung dịch vụ du lịch homestay.
  • Đánh giá sâu hơn về hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình sinh kế thay thế (nuôi cá lồng thác Đầu Đẳng, trồng cây bản địa trên nương thoái hóa) nhằm giảm áp lực xâm hại tài nguyên rừng đặc dụng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Lâm nghiệp, Xã hội học: Tham khảo phương pháp thiết kế bảng hỏi điều tra cộng đồng (KAP), quy trình thu thập số liệu sơ cấp tại vùng sâu vùng xa, và kỹ năng kết hợp dữ liệu thống kê quản lý nhà nước với quan sát thực địa.
  • Cán bộ quản lý Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể: Sử dụng các số liệu kiểm kê hiện trạng sử dụng đất (Bảng hiện trạng phân khu năm 2012), danh mục 26 loài thực vật và 41 loài động vật quý hiếm, cùng tỷ lệ xả thải sinh hoạt để xây dựng đề án quy hoạch hạ tầng cấp thoát nước, xử lý chất thải rắn tại các điểm du lịch cộng đồng ven hồ Ba Bể.
  • Chính quyền các xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê: Tham khảo thực trạng công trình vệ sinh (52% hố xí đất, 92% không cống thải) để lồng ghép các chỉ tiêu vệ sinh môi trường nông thôn vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Dự án giảm nghèo bền vững 30a.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận diện tích và cơ cấu phân khu chức năng của Vườn Quốc gia Ba Bể như thế nào? Theo kết quả rà soát của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng năm 2011 và phúc tra năm 2012 được tác giả trích dẫn, tổng diện tích tự nhiên của vườn là 10.048 ha, bao gồm 3 phân khu chức năng: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (4.488,3 ha), Phân khu Phục hồi sinh thái (5.519,7 ha) và Phân khu Hành chính - dịch vụ (40,0 ha). Độ che phủ của rừng đạt 75,6% (diện tích có rừng là 7.724,8 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 99,6%).

2. Người dân vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể lấy nước ăn uống, sinh hoạt từ những nguồn nào? Khảo sát 50 hộ gia đình cho thấy: 62% số hộ dẫn nước tự nhiên từ các khe suối trên núi đá vôi bằng ống dẫn; 20% dùng nước giếng đào thủ công; 10% sử dụng giếng khoan; và 8% dùng trực tiếp nước hồ Ba Bể. Toàn bộ 100% số hộ được phỏng vấn không có hệ thống cấp nước máy tập trung.

3. Tỷ lệ hộ gia đình tại vùng lõi có nhà vệ sinh đạt quy chuẩn kỹ thuật y tế là bao nhiêu? Căn cứ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu hợp vệ sinh (QCVN 01:2011/BYT), chỉ có 14% số hộ đạt chuẩn (sử dụng nhà vệ sinh tự hoại, tập trung ở các hộ khá giả làm nhà nghỉ, dịch vụ). Còn lại 52% số hộ dùng hố xí đất, 30% dùng nhà tiêu hai ngăn chưa hợp vệ sinh (ủ phân chưa đủ 6 tháng đã đem sử dụng) và 4% số hộ hoàn toàn không có nhà vệ sinh.

4. Rác thải sinh hoạt tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể được thu gom và xử lý bằng hình thức nào? Có 60% số hộ xử lý bằng hình thức vứt rác tùy tiện ra môi trường xung quanh hoặc thu gom lại để tự đốt; 40% số hộ còn lại (tập trung tại 3 thôn Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc thuộc xã Nam Mẫu) được Hội Phụ nữ xã tổ chức thu gom định kỳ 2 lần mỗi tháng theo hợp đồng dịch vụ. Toàn vùng không có hố rác tự hoại riêng của hộ gia đình hay bãi rác trung chuyển tập trung.

5. Hoạt động kinh tế nào của cư dân địa phương được chỉ rõ là nguy cơ trực tiếp gây bồi lắng lòng hồ Ba Bể? Khóa luận chỉ rõ hoạt động khai thác cát sỏi ven sông Năng và các con suối đổ vào hồ (với 11/20 hộ điều tra tại xã Khang Ninh và Quảng Khê tham gia khai thác, tiêu biểu là hoạt động quy mô của Hợp tác xã Sông Năng) kết hợp cùng tập quán canh tác trên 725,7 ha nương rẫy không cố định trên sườn núi dốc là nguyên nhân chính dẫn đến xói mòn đất và bồi lắng lòng hồ Ba Bể.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dầu Thị Mai đã phản ánh trung thực thực trạng cơ sở hạ tầng môi trường và nhận thức sinh thái của cộng đồng cư dân vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể vào năm 2014. Kết quả nghiên cứu chứng minh sự mâu thuẫn sâu sắc giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của một khu Ramsar quốc tế với điều kiện sinh hoạt thiếu thốn và thói quen xả thải tự do của cư dân bản địa. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm có giá trị thực tiễn, đóng vai trò tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị môi trường và định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại địa phương.