Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên sinh học là thành phần cốt lõi của đa dạng sinh học (ĐDSH), giữ vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên vượt quá giới hạn phục hồi tự nhiên đã và đang dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về loài và suy thoái các hệ sinh thái. Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) là khu rừng đặc dụng kết hợp du lịch sinh thái nổi bật của Việt Nam, được công nhận là Khu bảo tồn tự nhiên từ năm 1977 và nâng hạng thành Vườn quốc gia theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi đá vôi và vùng đất ngập nước hồ trên núi có tính ĐDSH cao, được công nhận là Vườn Di sản ASEAN năm 2003 (chính thức 2004), Khu Ramsar thứ 1938 của thế giới năm 2011 và Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012.
Mặc dù có giá trị sinh thái đặc biệt, VQG Ba Bể chịu sức ép lớn từ các yếu tố tự nhiên và đặc biệt là các hoạt động nhân sinh tiêu cực như khai thác gỗ quý, củi, lâm sản ngoài gỗ (LSNG), đốt nương làm rẫy, đánh bắt thủy sản trái phép và áp lực từ hoạt động du lịch gia tăng. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý, tác giả Hoàng Thị Diệu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Địa chính Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại một số điểm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn".
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, thành phần loài, mức độ đồng đều và phong phú của thảm thực vật, động vật tại VQG Ba Bể.
- Khảo sát hiện trạng công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ rừng của Ban quản lý VQG Ba Bể và chính quyền địa phương.
- Xác định, phân tích và làm rõ các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây suy thoái, suy giảm đa dạng sinh học tại khu vực.
- Đề xuất hệ thống giải pháp hài hòa giữa bảo tồn hệ sinh thái, bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng lõi (phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên rừng), cộng đồng dân cư vùng đệm và các sinh cảnh sống của các loài động, thực vật trong VQG Ba Bể.
- Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát tại 6 xã thuộc huyện Ba Bể: Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn).
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thu thập số liệu và thực tập tốt nghiệp được tiến hành từ ngày 06/01/2014 đến tháng 04/2014 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể kết hợp với thực địa tại VQG Ba Bể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý
Khóa luận vận dụng các khái niệm nền tảng về môi trường, hệ sinh thái (theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam), đa dạng sinh học (theo Gaston & Spicer 1998 và Công ước Đa dạng sinh học Rio de Janeiro 1992), đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái và tiêu chí phân định Vườn quốc gia. Nghiên cứu cũng tổng hợp các phương thức bảo tồn tại chỗ (In-situ), bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) và khái niệm bảo tồn nguồn gen động cho thực vật.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu định hướng được sử dụng gồm:
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (hiệu lực 2005).
- Các Nghị định: Nghị định số 65/2010/NĐ-CP, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 48/2002/NĐ-CP.
- Quyết định số 126/QĐ-TTg năm 2012 về thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số 1896/QĐ-TTg về kiểm soát sinh vật ngoại lai; Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng 2020.
- Các Thông tư: Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT, Thông tư số 18/2010/TT-BKHCN, Thông tư số 22/2011/TT-BTNMT và dữ liệu từ Sách Đỏ Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp giữa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu kiểm kê rừng của Viện Điều tra Quy hoạch rừng (năm 2011), kết quả phúc tra hiện trạng của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ (năm 2012), báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND các xã và hồ sơ tài nguyên của Ban quản lý VQG Ba Bể.
- Khảo sát thực địa theo tuyến: Thiết lập 6 tuyến điều tra (TĐT) đi qua các dạng địa hình, sinh cảnh và vùng rừng bị tác động:
- Tuyến 1 (vùng lõi): Cốc Tộc – Khau Qua – Nặm Dài – Đán Mẩy – Đầu Đẳng.
- Tuyến 2 (vùng lõi): Khuổi Pủng – Ngạn Thăm – Bản Cám – Hồ Ba Bể.
- Tuyến 3: Đầm Bản Vài – Khuổi Đuông – Khau Pưn.
- Tuyến 4: Bản Nản – Pác Nghè – Hin Đăm.
- Tuyến 5: Khuổi Su – Cốc Túm – Nà Thi – Pác Phuôi.
- Tuyến 6: Nà Pùng – Nà Cóc – Ẻo Nghiêm.
- Điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu phỏng vấn bán cấu trúc và tiến hành điều tra ngẫu nhiên $n = 60$ phiếu trên địa bàn 6 xã, cơ cấu mẫu điều tra được phân bổ cụ thể:
| STT |
Đối tượng điều tra |
Số lượng phiếu |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Người dân địa phương |
40 |
66,7 |
| 2 |
Du khách |
7 |
11,7 |
| 3 |
Cán bộ xã |
6 |
10,0 |
| 4 |
Cán bộ thuộc Ban quản lý Vườn |
5 |
8,3 |
| 5 |
Cán bộ tuần rừng / kiểm lâm |
2 |
3,3 |
| Tổng |
|
60 |
100,0 |
- Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu định lượng từ phiếu điều tra và số liệu thống kê thứ cấp được tổng hợp và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel 2003 và Microsoft Word 2003.
Nội dung chính theo từng phần
Phần 1: Đặt vấn đề
Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn tài nguyên sinh học trong bối cảnh các mối đe dọa ngày càng gia tăng. Tác giả nêu bật vị thế địa lý và giá trị sinh thái của VQG Ba Bể (tọa độ $105^\circ 36' 55''$ Đ, $22^\circ 24' 19''$ B), khái quát mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên môi trường cấp cơ sở.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp bức tranh tổng thể về ĐDSH và tình hình nghiên cứu bảo tồn trên thế giới và tại Việt Nam. Phân tích hiện trạng đe dọa tuyệt chủng của các loài theo IUCN (17.291 loài bị đe dọa), rà soát các nghiên cứu tiêu biểu tại Việt Nam trên hệ sinh thái núi đá vôi (nghiên cứu của Hoàng Kim Ngũ giai đoạn 1990–1998, Viện Điều tra Quy hoạch rừng 1965–1968, Hoàng Văn Thập 2007–2010 tại Cát Bà, Hoàng Văn Chuyên 2006 tại Pù Luông). Đánh giá khái quát hệ thực vật tỉnh Bắc Kạn (798 loài thuộc 541 chi, 169 họ) và hệ động vật (527 loài với 66 loài trong Sách Đỏ Việt Nam).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể địa bàn khảo sát tại 6 xã thuộc VQG Ba Bể, thời gian thực hiện (01/2014 – 04/2014) tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể. Mô tả chi tiết 6 tuyến điều tra thực địa, phương pháp chọn mẫu phân tầng phỏng vấn 60 đối tượng và quy trình xử lý dữ liệu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng tài nguyên đất - rừng và đánh giá định lượng 7 nguyên nhân nhân sinh dẫn đến suy thoái ĐDSH.
Kết quả và đóng góp
1. Hiện trạng tài nguyên đất đai và thảm thực vật
Theo số liệu kiểm kê và phúc tra, tổng diện tích tự nhiên của VQG Ba Bể là 10.048,0 ha, phân bổ theo các phân khu chức năng: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (4.488,3 ha), Phân khu Phục hồi sinh thái (5.519,7 ha) và Phân khu Hành chính - dịch vụ (40,0 ha).
| STT |
Loại đất / Trạng thái rừng |
Bảo vệ nghiêm ngặt (ha) |
Phục hồi sinh thái (ha) |
Hành chính, dịch vụ (ha) |
Tổng diện tích (ha) |
| I |
Đất lâm nghiệp |
3.862,3 |
5.140,1 |
23,6 |
9.026,0 |
| 1 |
Rừng tự nhiên |
3.344,7 |
4.346,9 |
16,2 |
7.648,9 |
|
- Rừng trung bình |
2.569,8 |
1.834,1 |
13,2 |
4.417,1 |
|
- Rừng trên núi đá |
2.514,6 |
1.888,2 |
1,8 |
4.404,6 |
|
- Rừng phục hồi |
54,3 |
471,7 |
- |
526,0 |
|
- Rừng nghèo |
16,8 |
79,8 |
1,2 |
97,8 |
|
- Rừng tre nứa / Hỗn giao |
2,3 |
114,5 |
- |
116,8 |
| 2 |
Rừng trồng |
2,6 |
25,5 |
- |
28,1 |
| 3 |
Đất chưa có rừng |
515,0 |
778,8 |
7,4 |
1.301,2 |
|
- Nương rẫy không cố định |
458,7 |
261,4 |
5,6 |
725,7 |
|
- Đất trống có cây rải rác (IC) |
34,6 |
295,7 |
1,8 |
332,1 |
|
- Núi đá trọc |
21,7 |
161,4 |
- |
183,1 |
|
- Trạng thái IA, IB |
- |
60,3 |
- |
60,3 |
| II |
Đất ngoài lâm nghiệp |
626,0 |
379,6 |
16,4 |
1.022,0 |
|
- Đất sản xuất nông nghiệp (ruộng, soi bãi) |
301,2 |
179,5 |
- |
480,7 |
|
- Đất mặt nước (hồ Ba Bể 311 ha, sông suối) |
265,0 |
145,1 |
- |
410,1 |
|
- Đất ở và các loại đất khác |
59,8 |
55,0 |
16,4 |
131,2 |
| Tổng |
Tổng diện tích tự nhiên |
4.488,3 |
5.519,7 |
40,0 |
10.048,0 |
Diện tích đất có rừng đạt 7.724,8 ha (độ che phủ 75,6%), trong đó rừng tự nhiên chiếm 99,6%. Thảm thực vật bao gồm các kiểu rừng chính: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp $<700$ m (4.484,6 ha); Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi (2.186,2 ha); Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp $>700$ m (909,1 ha). Hệ thực vật ghi nhận 660 loài, có 25 loài quý hiếm và đặc hữu (chiếm 3,79%). Hệ thủy sinh vật tại hồ Ba Bể ghi nhận 105 loài cá nước ngọt, trong đó có loài đặc hữu cá cóc bụng hoa.
2. Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
Tổng dân số toàn vùng đạt trên 23.000 người, trong đó dân số sống trực tiếp trong vùng lõi khoảng 3.000 người (gồm 9 thôn thuộc xã Nam Mẫu, 3 thôn xã Khang Ninh, 3 thôn xã Quảng Khê). Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số: Tày (67,05%), Dao (21,5%), H'Mông, Nùng, Kinh. Lực lượng lao động có 12.600 người (chiếm 52,1% dân số), trong đó lao động nông - lâm nghiệp chiếm 93,2% và đa số chưa qua đào tạo. Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng là 30%, riêng xã Nam Mẫu lên tới 49,05%. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người tại vùng lõi chỉ đạt 0,13 ha/người (chỉ 0,05 ha/người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
3. Phân tích các yếu tố gây suy giảm đa dạng sinh học
Kết quả điều tra xã hội học từ 60 phiếu xác định 7 nguyên nhân chính bắt nguồn từ con người:
| STT |
Nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH |
Số phiếu đồng tình |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Khai thác lâm sản (gỗ, củi) quá mức |
53 |
88,0 |
| 2 |
Đói nghèo và nhận thức của người dân chưa cao |
47 |
78,0 |
| 3 |
Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG) |
42 |
70,0 |
| 4 |
Hệ thống chính sách, cơ chế quản lý chưa chặt chẽ |
33 |
55,0 |
| 5 |
Tập quán canh tác nương rẫy, du canh du cư |
15 |
25,0 |
| 6 |
Tác động từ hoạt động du lịch |
14 |
23,0 |
| 7 |
Hoạt động đánh bắt cá trái phép trên sông, hồ |
9 |
15,0 |
- Khai thác gỗ và củi: Gỗ được khai thác cho 4 mục đích chính: làm nhà sàn/chuồng trại (99%), củi đun (95%), bán ra thị trường lấy tiền (40%), công trình công cộng (10%). Để làm một ngôi nhà sàn truyền thống cần khoảng 40 $\text{m}^3$ gỗ tròn. Các loài gỗ bị khai thác nhiều nhất gồm: Nghiến (45%), Lát hoa (28%), Trai lý (12%), Lim (10%), Đinh (5%). Giá gỗ Nghiến tròn dao động 6–8 triệu đồng/$\text{m}^3$, gỗ Nghiến xẻ đạt 10 triệu đồng/$\text{m}^3$, gỗ Trai lý khoảng 8 triệu đồng/$\text{m}^3$. Khai thác củi phục vụ đun nấu chiếm 93%, bình quân mỗi hộ tiêu thụ khoảng 0,5–1 stere củi/tháng.
- Khai thác dược liệu, LSNG: Các loài cây thuốc bị khai thác nhiều nhất là Giảo cổ lam (70%), Tầm gửi nghiến (63%), Chuối hột (56%), Khúc khắc đỏ (12%).
- Bất cập quản lý: 83% ý kiến cho rằng chính sách/pháp luật chưa chặt chẽ; 72% đánh giá công tác tuyên truyền còn yếu; 67% cho rằng năng lực quản lý còn hạn chế; 34% phản ánh thiếu cán bộ kiểm lâm. Trong 6 tháng đầu năm 2013, Hạt Kiểm lâm VQG Ba Bể đã lập biên bản 32 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (gồm 6 vụ khai thác trái phép, 16 vụ vận chuyển, 7 vụ cất giữ, 3 vụ đưa cưa lốc vào rừng).
- Tập quán canh tác: 48% ý kiến nhận định phương thức đốt nương làm rẫy ảnh hưởng nhiều đến ĐDSH do làm thoái hóa đất sau 3–4 mùa vụ, gây nguy cơ cháy rừng và phân mảnh sinh cảnh sống của động vật quý hiếm (Cu li lớn, Gấu ngựa, Gấu chó, Cầy vằn bắc).
- Hoạt động du lịch: Lượng khách tăng nhanh (năm 2012 đạt khoảng 30.000 lượt; năm 2013 đạt gần 35.000 lượt, trong đó 20–25% là khách quốc tế). Khoảng gần 100 thuyền máy hoạt động trên lòng hồ gây ra tiếng ồn và ô nhiễm rò rỉ dầu mỡ (58% ý kiến), xả thải sinh hoạt (34%), bẻ cành/dẫm đạp thảm thực vật (42%) và nguy cơ xói lở bờ hồ (21%).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Dung lượng mẫu khảo sát điều tra xã hội học còn khiêm tốn ($n = 60$ phiếu) do hạn chế về thời gian thực địa (04 tháng) và điều kiện địa hình đi lại khó khăn giữa các thôn bản vùng cao. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào dữ liệu điều tra thực vật và khảo sát ý kiến xã hội học, chưa thực hiện đo đạc chuyên sâu về biến động cá thể các quần thể động vật hoang dã hay xét nghiệm hóa lý chất lượng môi trường nước hồ theo mùa.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng điều tra định lượng về hiện trạng các loài động vật quý hiếm và sinh vật ngoại lai xâm hại; quan trắc định kỳ chất lượng môi trường nước hồ Ba Bể dưới tác động của thuyền máy du lịch và nước thải sinh hoạt; đồng thời nghiên cứu thử nghiệm các mô hình sinh kế thay thế (như mô hình nuôi cá lồng tại chân thác Đầu Đẳng, trồng cây dược liệu dưới tán rừng) nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa chính Môi trường, Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Khoa học Môi trường và Phát triển Nông thôn thực hiện các đề tài về đánh giá tác động nhân sinh lên khu bảo tồn thiên nhiên.
- Ban quản lý VQG Ba Bể và Hạt Kiểm lâm Ba Bể trong việc xây dựng phương án tuần tra rừng, kiểm soát các điểm nóng khai thác lâm sản (như Buốc Lốm, Bản Cám, Nà Niểm, Bản Nản, Khâu Qua, Nặm Dài).
- Cơ quan quản lý tài nguyên môi trường cấp huyện, xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc tham khảo để xây dựng chính sách chia sẻ lợi ích vùng đệm, giao khoán bảo vệ rừng và quy hoạch du lịch sinh thái bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu diện tích đất và các phân khu chức năng tại Vườn quốc gia Ba Bể được xác định như thế nào?
Theo số liệu phúc tra năm 2012, VQG Ba Bể có tổng diện tích tự nhiên là 10.048,0 ha, gồm 3 phân khu: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (4.488,3 ha), Phân khu Phục hồi sinh thái (5.519,7 ha) và Phân khu Hành chính - dịch vụ (40,0 ha). Diện tích đất lâm nghiệp là 9.026,0 ha (trong đó rừng tự nhiên đạt 7.648,9 ha; rừng trồng 28,1 ha; đất chưa có rừng 1.301,2 ha) và đất ngoài lâm nghiệp là 1.022,0 ha (gồm 410,1 ha đất mặt nước và 480,7 ha đất sản xuất nông nghiệp).
2. Các loài gỗ và cây dược liệu nào chịu áp lực khai thác lớn nhất tại VQG Ba Bể?
Về gỗ, các loài bị khai thác chủ yếu là Nghiến (chiếm 45% tỷ lệ khai thác), Lát hoa (28%), Trai lý (12%), Lim (10%) và Đinh (5%), với giá bán gỗ Nghiến xẻ lên tới 10 triệu đồng/$\text{m}^3$. Về cây dược liệu ngoài gỗ, các loài bị thu hái nhiều nhất là Giảo cổ lam (70% số phiếu ghi nhận), Tầm gửi nghiến (63%), Chuối hột (56%) và Khúc khắc đỏ (12%).
3. Tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến hệ sinh thái VQG Ba Bể gồm những gì?
Hoạt động của gần 100 xuồng/thuyền máy chở khách trên hồ Ba Bể tạo ra tiếng ồn làm xua đuổi các loài động vật hoang dã, rò rỉ xăng dầu và xả nước thải gây ô nhiễm môi trường nước (58% ý kiến phản ánh). Ngoài ra, tình trạng du khách bẻ cành, thu hái thực vật (42%) và nguy cơ xói lở, sụt lún bờ hồ do tạo sóng (21%) cũng đe dọa sinh cảnh thủy vực và rừng quanh hồ.
4. Khóa luận đã sử dụng những tuyến điều tra thực địa nào để thu thập dữ liệu?
Tác giả đã lập 6 tuyến điều tra thực địa qua các vùng sinh thái, trong đó có 2 tuyến nằm sâu trong vùng lõi: Tuyến 1 (Cốc Tộc – Khau Qua – Nặm Dài – Đán Mẩy – Đầu Đẳng) và Tuyến 2 (Khuổi Pủng – Ngạn Thăm – Bản Cám – Hồ Ba Bể); cùng 4 tuyến vùng đệm và giáp ranh gồm Tuyến 3 (Đầm Bản Vài – Khuổi Đuông – Khau Pưn), Tuyến 4 (Bản Nản – Pác Nghè – Hin Đăm), Tuyến 5 (Khuổi Su – Cốc Túm – Nà Thi – Pác Phuôi) và Tuyến 6 (Nà Pùng – Nà Cóc – Ẻo Nghiêm).
5. Tại sao tình trạng đói nghèo và thiếu đất sản xuất là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến suy giảm tài nguyên rừng tại đây?
Toàn vùng có 93,2% lao động làm nghề nông - lâm nghiệp nhưng diện tích đất canh tác nông nghiệp rất ít (bình quân vùng lõi chỉ 0,13 ha/người, đất có sổ đỏ chỉ 0,05 ha/người), tỷ lệ hộ nghèo lên tới 30% (riêng xã Nam Mẫu đạt 49,05%). Năng suất cây trồng thấp và thiếu vốn khiến người dân phải duy trì tập quán phát nương làm rẫy và vào rừng khai thác gỗ, củi, bẫy bắt thú và hái dược liệu để bán kiếm thêm thu nhập trang trải đời sống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Diệu đã phản ánh bức tranh toàn diện về hiện trạng tài nguyên đất đai, thảm thực vật và các yếu tố nhân sinh tác động đến đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Ba Bể. Nghiên cứu đã lượng hóa được 7 nhóm nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng, chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa bài toán sinh kế của cộng đồng dân cư vùng lõi (người Tày, Dao) với công tác bảo tồn sinh thái. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa có giá trị, đóng góp thiết thực cho công tác quy hoạch, quản lý rừng đặc dụng và định hướng phát triển bền vững khu Ramsar Ba Bể.