ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết của đề tài Tài nguyên sinh học - một bộ phận của đa dạng sinh học có hoặc có thể có giá trị sử dụng cho con người - đã từng được khai thác tự do cho quá trình phát triển của loài người. Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã nhận thấy tài nguyên sinh học là có giới hạn, và chúng ta đang khai thác vượt quá những giới hạn này, do đó đang làm giảm tính đa dạng sinh học. Vì vậy, đã đến lúc phải có sự thay đổi triệt để trong mối quan hệ giữa con người và tài nguyên sinh học mà đời sống của con người phụ thuộc vào. Ba Bể vừa là một vườn quốc gia, rừng đặc dụng, vừa là khu du lịch sinh thái của Việt Nam, nằm ở tỉnh Bắc Kạn, với trung tâm là hồ Ba Bể.
Không chỉ được công nhận là khu bảo tồn tự nhiên từ năm 1977, Ba Bể còn được công nhận là Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Chính phủ với diện tích 7.226 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và hơn 300 ha diện tích mặt hồ. Những nghiên cứu khoa học khẳng định đây là khu vực giàu có về đa dạng sinh học, có nhiều nét đặc trưng của hệ sinh thái điển hình rừng thường xanh trên núi đá vôi và hồ trên núi, rừng thường xanh đất thấp. Vườn có tọa độ là 105°36′55″ kinh đông, 22°24′19″ vĩ bắc. Nó nằm trên địa bàn 6 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Vườn quốc gia này cách thị xã Bắc Kạn 50 km và Hà Nội 250 km về phía bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Vườn quốc gia Ba Bể là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với phong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học. Năm 2004, Ba Bể đã được công nhận là một di sản thiên nhiên của ASEAN. Đồng thời VQG Ba Bể còn lọt vào danh sách 12 địa bàn được ưu tiên bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam.
Hiện tại, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đa dạng sinh học bị ảnh hưởng như ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết; nuôi loài động vật mới, trồng loài cây mới, khai thác khoáng sản, khai thác lâm sản, phá rừng làm nương rẫy … Đặc biệt, đó là những tác động tiêu cực của một số người dân địa phương và các vùng lân cận đã và đang tàn phá khu rừng, những mối đe dọa không ngừng gia tăng làm cho nguy cơ mất đi một trong những hệ sinh thái rừng đặc thù và còn tính chất đa dạng sinh học cao là một thực tế khó tránh khỏi. Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu trường Đai học Nông lâm, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th. Trương Thành Nam - giảng viên khoa Quản lý tài nguyên, trường n 2 Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại một số điểm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn".
Mục tiêu , yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, những thông tin về sự đa dạng loài, mức độ đồng đều, mức độ phong phú của Vườn quốc gia Ba Bể. - Hiện trạng công tác quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể. - Xác định và làm rõ những nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Ba Bể.
- Đề xuất giải pháp tạo cân bằng hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững trên nguyên tắc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân nhưng vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái và đa dạng sinh học.Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng đa dạng thực vật của của Vườn quốc gia Ba Bể. - Đảm bảo tài liệu , số liệu đầy đủ khách quan. - Kết quả nghiên cứu các thông số về điều tra chính xác. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương và cơ quan quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu. - Là tài liệu phục vụ cho công tác quản lý môi trường ở cấp cơ sở.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và vai trò của công tác quản lý đối với Vườn quốc gia. - Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân tại khu vực. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Cơ sở khoa học - Khái niệm môi trường: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. - Hệ sinh thái: “Hệ sinh thái là hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhất định cùng tồn tại và phát triển có tác động qua lại với nhau” (Theo khoản 15, Ðiều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam). - Đa dạng sinh học: Trong công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and Spicer, 1998). Theo Công ước về Bảo tồn đa dạng sinh học đã thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro năm 1992, "Ða dạng sinh học" (ĐDSH) có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần.
Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học. - Vườn Quốc gia: Vườn Quốc gia là một diện tích trên đất liền hoặc trên biển, chưa hoặc mới bị tác động nhẹ do các hoạt động của con người, có các loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu hoặc có các cảnh quan đẹp có tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế. - Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau. - Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái.
Các văn bản pháp luật liên quan - Luật bảo vệ môi trường 2005. - Luật đa dạng sinh học năm 2008 quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học. - Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 1-4-2005). n 4 - Nghị định số 65/2010/NĐ- CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học 2008.
- Nghị định 80/2003/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. - Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 sửa đổi bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm.
- Quyết định 126/QĐ- TTG năm 2012 của thủ tướng chính phủ về thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng. - Thông tư 18/2004/TT- BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi trường của Bộ Tài Nguyên về việc bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước Việt Nam. - Thông tư 18/2010/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lí nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen. - Quyết định số 1896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lại xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020.
- Thông tư số 22/2011//TT- BTNMT, ngày 01/07/2011 Quy định tiêu chí xác định loài sinh vật ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lại xâm hại. - Sách Đỏ Việt Nam. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế Giới Đa dạng sinh học là sự phong phú và đa dạng của sự sống, có vai trò sống còn đối với Trái đất.
Đa dạng sinh học có nhiều giá trị to lớn, tập trung vào 3 nhóm: giá trị kinh tế, giá trị nhân văn và giá trị sinh thái. Giá trị kinh tế là cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm duy nhất cho con người. Theo tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, hàng năm ĐDSH cung cấp cho con người một lượng sản phẩm trị giá khoảng 33. Giá trị nhân văn của ĐDSH là tính phong phú, vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên, cung cấp giá trị thẩm mỹ.
Giá trị sinh thái là vai trò duy trì cân bằng sinh học, bảo vệ các nguồn tài nguyên, điều hoà khí hậu và phát triển bền vững. Khí hậu thay đổi dẫn tới môi trường sống thay đổi và các loài động thực vật cũng phải thay đổi chu kì sinh trưởng và các đặc điểm cơ thể hoặc thay đổi đường n 5 di cư để thích nghi với môi trường mới, làm mất ĐDSH. Theo một nghiên cứu mới đây về ĐDSH quốc tế, các nhà khoa học cảnh báo, hơn một phần ba loài động vật trên thế giới có nguy cơ tuyệt chủng và các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.1: Thực vật có số lượng loài còn nhiều trên Thế giới Thực vật Số lượng Tổng số Thực vật có hoa 281.821 Thực vật hạt trần 1.236 Tảo đỏ, Tảo lục 10.134 Các loài khác Số lượng Tổng số Địa y 17.