Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ thuộc địa phận xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang sở hữu tổng diện tích tự nhiên 7.153 ha, nằm trọn trong ba lưu vực chính gồm Khe Rỗ, Khe Đin và Khe Nước. Địa hình khu vực có độ cao tăng dần từ đông bắc lên tây nam với đỉnh cao nhất đạt 650 m, tạo nên tính phân hóa sâu sắc về khí hậu, thổ nhưỡng và hệ thực vật rừng nhiệt đới. Tuy nhiên, dưới tác động của các hoạt động dân sinh trong quá khứ như canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản kiệt quệ, diện tích rừng nguyên sinh gần như không còn mà thay thế bằng các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi. Việc thiếu hụt các dữ liệu định lượng cụ thể về cấu trúc và khả năng tích lũy sinh khối đã tạo ra rào cản lớn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và thẩm định tiềm năng hấp thụ carbon của khu vực.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng cấu trúc tầng tán, xác định chỉ số quan trọng sinh thái, phân tích quy luật phân bố số loài và số cây theo cấp đường kính và chiều cao, đồng thời định lượng sinh khối tươi, sinh khối khô trên mặt đất của các quần xã thực vật tiêu biểu. Nghiên cứu tập trung vào hai trạng thái thảm thực vật phục hồi tự nhiên chủ yếu: sau nương rẫy và sau khai thác kiệt trong khung thời gian từ năm 2012 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng với hơn 10 phương trình tương quan sinh khối và bảng tra cứu sinh khối cá thể, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý bảo vệ 7.153 ha rừng đầu nguồn, phục hồi sinh thái bền vững và chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết diễn thế sinh thái thứ sinh rừng nhiệt đới của Richards (1956), Baur (1962) và Odum (1971), kết hợp với hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978). Đồng thời, đề tài ứng dụng khung hướng dẫn đánh giá bể carbon rừng của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2001, 2003) và các mô hình sinh trắc học cá thể cây rừng do Cannell (1982) tổng kết.

Trong khuôn khổ nghiên cứu, năm khái niệm khoa học trọng tâm được chuẩn hóa và vận dụng xuyên suốt:

  1. Cấu trúc không gian rừng: Quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần thực vật theo phương thẳng đứng (phân tầng tán) và phương nằm ngang (phân bố mật độ cá thể).
  2. Chỉ số quan trọng sinh thái (Important Value Index - IVI): Thước đo tổng hợp phản ánh mức độ ưu thế sinh thái của một loài cây trong quần xã thông qua mật độ tương đối, tần số tương đối và độ tàn che tương đối.
  3. Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener: Đại lượng toán học định lượng độ phong phú loài và độ đồng đều về số lượng cá thể giữa các loài trong lâm phần.
  4. Sinh khối trên mặt đất (Aboveground Biomass - AGB): Tổng khối lượng vật chất hữu cơ sống của toàn bộ cây gỗ gồm thân, cành, lá tính trên một đơn vị diện tích.
  5. Bể tích lũy carbon sinh khối: Trữ lượng carbon hữu cơ được cố định trong mô thực vật, thường chiếm tỷ trọng tương đương 47% đến 50% tổng lượng sinh khối khô.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa điều tra ngoại nghiệp tại hiện trường và phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn định lượng tại hai trạng thái rừng phục hồi, kết hợp chặt hạ và giải tích chi tiết 45 cây mẫu tiêu chuẩn (n = 45 cây) thuộc các nhóm loài ưu thế sinh thái. Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc phân tầng điển hình có tính đến dải biến thiên của cấp đường kính ngang ngực (DBH dao động từ 6 cm đến trên 40 cm) và cấp chiều cao vút ngọn (H từ 5 m đến trên 20 m).

Lý do lựa chọn phương pháp giải tích sinh khối trực tiếp kết hợp mô hình hóa tương quan allometric xuất phát từ yêu cầu kiểm định độ chính xác cao trong điều kiện rừng tự nhiên hỗn loài. Dữ liệu cân đo trọng lượng tươi của từng bộ phận thân, cành, lá ngoài thực địa được lấy mẫu phụ để sấy khô kiệt ở nhiệt độ 105 độ C trong phòng thí nghiệm nhằm xác định tỷ lệ chất khô tuyệt đối. Các thuật toán hồi quy đơn biến và đa biến trên phần mềm thống kê được ứng dụng để thiết lập mối quan hệ toán học giữa sinh khối với đường kính và chiều cao, đảm bảo hệ số xác định luôn đạt trên 0,85. Toàn bộ tiến trình thu thập số liệu thực địa và phân tích được tiến hành tập trung trong giai đoạn 2012 - 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cấu trúc tổ thành và độ đa dạng loài, nghiên cứu xác định các loài cây có chỉ số quan trọng IVI lớn hơn 5% đóng vai trò quyết định diện mạo của lâm phần. Ở trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt, chỉ số đa dạng Shannon-Wiener của tầng cây gỗ đạt mức xấp xỉ 2,85, cao hơn khoảng 24% so với trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy (đạt khoảng 2,30), phản ánh sự đa dạng về vi lập địa và mức độ ổn định sinh thái tốt hơn.

Thứ hai, quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính tuân theo đường cong giảm tiệm tiến dạng phân bố giảm bậc, tương thích với hàm Weibull. Tỷ lệ số cây tập trung ở các cấp đường kính nhỏ (DBH dưới 15 cm) chiếm tới 72% đến 78% tổng số cá thể trong lâm phần, minh chứng cho tiềm năng tái sinh tự nhiên rất mạnh mẽ của cả hai trạng thái thảm thực vật.

Thứ ba, sự phân bố sinh khối giữa các bộ phận cây gỗ có tính quy luật rõ rệt. Thân cây chiếm tỷ trọng áp đảo từ 66% đến 72% tổng sinh khối trên mặt đất, tiếp đến là cành cây chiếm từ 18% đến 22%, và lá cây chiếm từ 8% đến 12%. Tỷ lệ sinh khối khô trung bình đạt khoảng 49% đến 52% so với sinh khối tươi ban đầu.

Thứ tư, trữ lượng sinh khối trên mặt đất của quần xã phục hồi sau khai thác kiệt đạt giá trị trung bình ước tính cao hơn từ 30% đến 38% so với trạng thái phục hồi sau nương rẫy, khẳng định tốc độ tích lũy sinh khối và khả năng hấp thụ carbon phụ thuộc mật thiết vào lịch sử tác động và mức độ thoái hóa đất ban đầu.

Thảo luận kết quả

Sự sai khác rõ nét về cấu trúc tầng tán và sinh khối giữa hai trạng thái bắt nguồn từ cơ chế xáo trộn hệ sinh thái. Đất sau nương rẫy bị đốt dọn cục bộ và canh tác liên tục làm suy giảm nghiêm trọng tầng mùn hữu cơ và ngân hàng hạt giống tự nhiên, khiến diễn thế phục hồi chủ yếu dựa vào một số loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh. Ngược lại, trạng thái sau khai thác kiệt vẫn bảo tồn được tầng đất mặt tơi xốp, hệ vi sinh vật và khả năng tái sinh chồi từ gốc cây cũ, tạo điều kiện cho nhiều loài cây bản địa tái thiết nhanh hơn.

Khi so sánh với các công bố của Brown (2003) và nghiên cứu tại vùng Đông Nam Á, trữ lượng sinh khối cây rừng tại Khe Rỗ nằm trong dải phân bố đặc trưng của rừng thứ sinh nhiệt đới ẩm, với khả năng cố định carbon ước tính dao động trong khoảng 45 đến 95 tấn carbon/ha.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu cấu trúc và động thái sinh khối được hệ thống hóa qua hệ thống bảng biểu chỉ số IVI, bảng phân bố tần số cấp kính và biểu đồ hồi quy allometric. Mối liên hệ hàm số giữa sinh khối từng bộ phận với đường kính DBH và chiều cao H được biểu diễn dưới dạng đường cong phi tuyến, giúp người đọc dễ dàng đối chiếu mức độ tăng trưởng sinh khối khi kích thước cây mở rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt và xúc tiến tái sinh tự nhiên: Áp dụng ngay các biện pháp cấm chặt phá, hạn chế chăn thả gia súc và phòng cháy rừng tại 7.153 ha thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ; đặt mục tiêu tăng độ tàn che của thảm thực vật thêm 6% đến 8% trong giai đoạn 2024 - 2027; do Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ chủ trì phối hợp cùng chính quyền xã An Lạc thực hiện.

  2. Chuẩn hóa quy trình kiểm kê carbon bằng phương trình hồi quy: Đưa bộ phương trình allometric và bảng tra sinh khối cá thể được xây dựng từ luận văn vào cẩm nang theo dõi lâm nghiệp định kỳ 2 năm một lần; mục tiêu giảm 45% chi phí và thời gian điều tra thực địa so với phương pháp chặt hạ truyền thống; do Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang phối hợp cùng các viện nghiên cứu lâm nghiệp triển khai.

  3. Xây dựng đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với chứng chỉ carbon (REDD+): Xây dựng hồ sơ thương mại hóa khả năng hấp thụ khí nhà kính của khu bảo tồn, hướng tới mục tiêu tích lũy và chuyển nhượng từ 250.000 đến 350.000 tấn CO2 tương đương trong lộ trình 5 năm tới; giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang làm đầu mối kết nối các tổ chức tài chính carbon.

  4. Nâng cao sinh kế và tuyên truyền chuyển đổi canh tác bền vững: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật lâm sản ngoài gỗ và hỗ trợ mô hình nông lâm kết hợp cho 100% hộ dân sống ở vùng đệm; cam kết giảm 95% tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trong vòng 12 tháng; do Ủy ban nhân dân huyện Sơn Động phối hợp với Hạt Kiểm lâm địa bàn giám sát thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Sinh thái học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật chuẩn xác về phương pháp luận giải tích sinh khối, kỹ thuật thiết lập mô hình hồi quy sinh trắc và bộ chỉ số cấu trúc rừng thực tế.

  2. Cán bộ quản lý tại các Ban Quản lý rừng đặc dụng, Khu bảo tồn thiên nhiên: Vận dụng bảng tra cứu sinh khối và phương pháp phân tầng cấu trúc để đánh giá hiện trạng rừng, lập phương án quản lý rừng bền vững và xây dựng báo cáo diễn thế định kỳ.

  3. Chuyên gia tư vấn môi trường và chuyên viên phát triển dự án tín chỉ carbon: Sử dụng trực tiếp các hệ số chuyển đổi sinh khối tươi sang sinh khối khô và tỷ lệ tích lũy carbon làm dữ liệu đầu vào tin cậy để thẩm định hạn ngạch giảm phát thải khí nhà kính.

  4. Cơ quan quản lý nhà nước về Lâm nghiệp và Tài nguyên Môi trường cấp tỉnh/huyện: Tham khảo căn cứ khoa học để quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, phân bổ ngân sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và xây dựng chính sách hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc xác định sinh khối trên mặt đất tại Khe Rỗ lại giữ vai trò cốt lõi trong nghiên cứu biến đổi khí hậu?

Sinh khối trên mặt đất là bể chứa carbon lớn nhất của hệ sinh thái rừng nhiệt đới, trực tiếp phản ánh khả năng hấp thụ khí CO2 từ khí quyển. Tại Khe Rỗ, việc định lượng chính xác sinh khối khô của 7.153 ha rừng giúp chuyển đổi trực tiếp sang trữ lượng carbon với tỷ lệ tích lũy trung bình 47% đến 50%, tạo cơ sở khoa học để tính toán mức giảm phát thải nhà kính thực tế.

Sự khác biệt cơ bản về cấu trúc giữa rừng phục hồi sau nương rẫy và sau khai thác kiệt là gì?

Rừng sau khai thác kiệt sở hữu tầng tán phức tạp hơn, chỉ số đa dạng loài Shannon cao hơn (đạt 2,85 so với 2,30 của rừng sau nương rẫy) và sinh khối tích lũy cao hơn từ 30% đến 38%. Nguyên nhân là do đất sau nương rẫy bị xói mòn và mất chất hữu cơ nhiều hơn, trong khi đất sau khai thác kiệt vẫn bảo tồn tốt hạt giống và chồi tái sinh bản địa.

Các phương trình hồi quy sinh khối allometric trong luận văn được xây dựng dựa trên những biến số nào?

Các phương trình allometric sử dụng hai biến số điều tra lâm học cơ bản là đường kính ngang ngực DBH và chiều cao vút ngọn H. Dựa trên mẫu giải tích 45 cây tiêu chuẩn, mô hình tương quan dạng lũy thừa và đa biến mang lại hệ số xác định cao, cho phép ước tính nhanh sinh khối cây đứng mà không cần chặt phá cây.

Tỷ lệ phân chia sinh khối giữa các bộ phận thân, cành, lá của cây gỗ diễn ra như thế nào?

Kết quả định lượng cho thấy thân cây luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 66% đến 72% tổng sinh khối trên mặt đất, cành cây chiếm từ 18% đến 22%, và lá cây chiếm từ 8% đến 12%. Khi đường kính thân cây tăng lên, tỷ trọng sinh khối thân có xu hướng tăng dần trong khi tỷ trọng sinh khối lá giảm tương đối.

Bảng tra sinh khối cá thể trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tế gì?

Bảng tra cho phép cán bộ kiểm lâm và điều tra viên xác định ngay lập tức trọng lượng tươi và khô của cá thể cây gỗ chỉ qua việc đo đếm đường kính và chiều cao ngoài thực địa. Công cụ này giúp tiết kiệm trên 40% công sức điều tra và loại bỏ hoàn toàn việc phải khai thác hủy diệt cây mẫu trong các khu bảo tồn thiên nhiên.

Kết luận

  • Đã xác định toàn diện cấu trúc thành phần loài và chỉ số giá trị quan trọng IVI của các quần xã thực vật tại Khu bảo tồn Khe Rỗ với diện tích 7.153 ha.
  • Chứng minh tính ưu việt về độ đa dạng sinh học và trữ lượng sinh khối của thảm thực vật phục hồi sau khai thác kiệt so với thảm phục hồi sau nương rẫy (chênh lệch sinh khối từ 30% đến 38%).
  • Giải tích chính xác quy luật phân bố sinh khối với thân cây chiếm ưu thế tuyệt đối (66% đến 72%), tỷ lệ sinh khối khô đạt xấp xỉ 50% sinh khối tươi.
  • Xây dựng thành công hệ thống phương trình hồi quy allometric có độ tin cậy cao và bảng tra cứu sinh khối cá thể phục vụ công tác điều tra không xâm lấn.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và tham gia cơ chế chi trả carbon rừng.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến năm 2026, các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng số hóa dữ liệu, mở rộng nghiên cứu sinh khối dưới mặt đất (hệ rễ) và xúc tiến các dự án đầu tư tín chỉ carbon rừng. Hãy liên hệ và tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu tại Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên để tiếp cận đầy đủ hệ thống dữ liệu sinh thái học giá trị này.