Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật đóng vai trò nền tảng trong sự phát triển của xã hội loài người. Bước vào đầu thế kỷ XXI, các áp lực từ gia tăng dân số, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hệ quả từ các cuộc chiến tranh trong thế kỷ trước đã khiến chất lượng môi trường sống suy giảm, tài nguyên sinh học bị khai thác vượt quá ngưỡng chịu đựng tự nhiên.
Tỉnh Bắc Kạn là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao ở vùng Đông Bắc Việt Nam với hai khu bảo tồn trọng điểm gồm Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kim Hỷ. Tuy nhiên, hiện trạng đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh đang chịu sức ép lớn từ hoạt động khai thác khoáng sản trái phép. Các điểm nóng khai thác khoáng sản diễn biến phức tạp tại huyện Na Rỳ (các xã Lương Thượng, Kim Hỷ, Lạng San, Kim Lư, Lương Thành) và huyện Ngân Sơn (các xã Thượng Ân, Thượng Quan, Thuần Mang, Bằng Vân), gây xáo trộn và phá hủy sinh cảnh cư trú của các loài động vật hoang dã. Đứng trước thực trạng đó, đề tài "Điều tra, thống kê đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn" được tác giả Lê Ngọc Thường thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng và cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác quản lý.
Căn cứ theo văn bản khóa luận, mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:
- Đánh giá thành phần loài, sự phân bố của các loài theo sinh cảnh, theo mùa.
- Có được danh mục đầy đủ nhất về các loài động vật, thực vật bậc cao, côn trùng, các loài quý hiếm, các loài có ích, các loài đặc hữu phân bố tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất các biện pháp khả thi nhằm hạn chế sự suy giảm đa dạng sinh học tại đây.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài sinh vật phân bố tại khu bảo tồn và công tác thống kê đa dạng sinh học tại khu bảo tồn.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ diện tích Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; địa bàn điều tra thực địa chi tiết tập trung tại thôn Nà Mằm, xã Khang Ninh, huyện Ba Bể.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai từ ngày 16 tháng 8 năm 2014 đến ngày 15 tháng 12 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý
Khóa luận hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành về sinh thái học và bảo tồn sinh học:
- Đa dạng sinh học: Biểu thị mức độ biến thiên giữa các sinh vật sống thuộc mọi nguồn gốc, bao gồm đa dạng trong nội bộ loài (đa dạng di truyền), đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái.
- Hình thức bảo tồn: Phân biệt giữa bảo tồn tại chỗ (in-situ) trong sinh cảnh tự nhiên và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) ngoài môi trường sống tự nhiên.
- Các đơn vị sinh thái: Quần xã, hệ sinh thái tự nhiên, hành lang sinh học, khu bảo tồn thiên nhiên, vùng đệm và định nghĩa về tình trạng tuyệt chủng sinh học.
Khung pháp lý làm căn cứ đánh giá bao gồm:
- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13.
- Công ước quốc tế về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Công ước Ramsar 1971).
- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và Công ước CITES.
- Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Thông tư số 21/2012/TT-BKHCN và Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường.
- Các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn: Quyết định 1557/QĐ-UBND (2011), Quyết định 1636/QĐ-UBND (2013) về quy hoạch du lịch Ba Bể; Quyết định 1882/2012/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý thủy sản khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể; Quyết định 164/2013/QĐ-UBND về quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tích hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học môi trường và lâm học:
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc: Kế thừa số liệu điều tra thứ cấp từ Dự án kết hợp bảo tồn và phát triển Vườn Quốc gia Ba Bể (PARC), các báo cáo khoa học của Mai Đình Yên (1991), Nguyễn Văn Hảo (1999), Nguyễn Kiêm Sơn (1999–2001), Nguyễn Trọng Hiệp và Nguyễn Hữu Dực (2003), quy hoạch sử dụng đất và tài liệu thống kê của địa phương.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn người dân tại các bản giáp ranh gồm 3 phần: (1) Thông tin chung của đối tượng phỏng vấn; (2) Thông tin về các loài động thực vật quý hiếm phát hiện tại địa phương; (3) Ghi nhận các áp lực và tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học.
- Phương pháp điều tra thực địa:
- Thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC): Bố trí ô mẫu định vị bằng máy định vị vệ tinh GPS và địa bàn đo đạc. Thiết kế OTC kích thước diện tích 1.000 m² (chọn dạng hình chữ nhật để phản ánh đặc trưng địa hình sườn dốc), sau đó chia thành các phân ô thứ cấp 100 m² bằng thước dây (50 m và 20 m) và dây nilon.
- Đo đếm tầng cây gỗ: Xác định đường kính ngang ngực tại vị trí $D_{1,3} \ge 5\text{ cm}$ bằng thước kẹp hoặc thước dây đo chu vi quy đổi ($d = \text{Chu vi} / \pi$). Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) và đo đường kính tán theo 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc. Đánh giá phẩm chất cây đứng theo 3 cấp: cấp a (cây sinh trưởng tốt, thân thẳng), cấp b (thân hơi cong hoặc có khuyết tật nhỏ), cấp c (sâu bệnh, cụt ngọn, rỗng ruột).
- Điều tra ô dạng bản: Bố trí 3 ô dạng bản diện tích 16 m² trong mỗi OTC để thống kê cây tái sinh theo 7 cấp chiều cao ($<0,5\text{ m}$; $0,6–1,0\text{ m}$; $1,1–1,5\text{ m}$; $1,6–2,0\text{ m}$; $2,1–3,0\text{ m}$; $3,1–5,0\text{ m}$; $>5,0\text{ m}$), phân loại theo chất lượng (tốt, trung bình, xấu) và nguồn gốc (hạt, chồi). Đồng thời kiểm đếm tầng cây bụi (hạ mộc) và thảm tươi theo thang phân cấp độ nhiều của Drude.
- Điều tra rừng tre nứa và rừng hỗn giao: Thực hiện thống kê tại 3 phân ô (1, 6 và 9). Đếm toàn bộ số cây theo từng búi, phân biệt cấp tuổi (non, già) và đo đường kính $D_{1,3}$.
- Điều tra khu hệ động vật: Thực hiện tuyến điều tra song song cách nhau 200 m và đường gom 50 m để ghi nhận dấu vết chân, phân, tiếng kêu theo 3 cấp độ (+ ít, ++ trung bình, +++ nhiều); kết hợp phỏng vấn tối thiểu 2 người dân ở bản gần tâm ô nhất.
- Phương pháp xử lý số liệu toán học sinh thái:
- Dung lượng mẫu: $N_{ct} \ge \frac{t^2 \cdot V%^2}{\Delta%^2}$ với $t = 1,96$; $\Delta% = 1% - 10%$.
- Mật độ cây: $N = \frac{\text{Số cây OTC}}{0,1}\text{ (cây/ha)}$.
- Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener: $H' = - \sum_{i=1}^S \left( \frac{n_i}{N} \ln \frac{n_i}{N} \right)$.
- Chỉ số ưu thế Simpson: $Cd = \sum_{i=1}^S \left( \frac{n_i}{N} \right)^2$.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm mạnh do khai thác vượt ngưỡng chịu tải. Tác giả phân tích tình hình thực tế tại tỉnh Bắc Kạn, nhấn mạnh các điểm nóng khai thác khoáng sản trái phép tại huyện Na Rỳ và huyện Ngân Sơn đe dọa trực tiếp môi trường sống của các loài động thực vật hoang dã. Từ đó, xác định rõ mục đích, yêu cầu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần này trình bày có hệ thống các cơ sở khoa học và thực tiễn:
- Tổng hợp tình hình đa dạng sinh học trên thế giới, trích dẫn báo cáo của Quỹ Thiên nhiên Hoang dã (WWF) và báo cáo "Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu" của Liên Hợp Quốc về việc diện tích rừng nguyên thủy suy giảm 0,4%/năm (khoảng 40 triệu ha/năm trong giai đoạn 2000–2010).
- Khái quát các hệ sinh thái đặc thù tại Việt Nam: hệ sinh thái trên cạn (các kiểu rừng kín thường xanh, rừng rụng lá), hệ sinh thái đất ngập nước nội địa và ven biển (rừng ngập mặn, đầm lầy than bùn U Minh, đầm phá, rạn san hô, thảm cỏ biển).
- Tổng quan giá trị sinh thái Vườn Quốc gia Ba Bể: diện tích tự nhiên 23.340 ha, là mẫu chuẩn rừng trên núi đá vôi vùng Đông Bắc; được công nhận Di tích Quốc gia năm 1986, Vườn Di sản ASEAN năm 2004 và khu Ramsar thứ 1.938 của thế giới vào ngày 02/02/2011 (khu Ramsar thứ 3 tại Việt Nam).
- Trình bày hệ thống văn bản pháp luật, chính sách hiện hành và mối liên hệ giữa bảo tồn thiên nhiên với chiến lược xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững.
Phần 3: Đối tượng, nội dung, mục đích và phương pháp nghiên cứu
Văn bản làm rõ đối tượng điều tra là các quần xã sinh vật và công tác thống kê đa dạng sinh học; phạm vi nghiên cứu tại VQG Ba Bể trong khung thời gian từ 16/08/2014 đến 15/12/2014. Tác giả trình bày quy trình kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn 1.000 m², kỹ thuật chia phân ô 100 m², lập ô dạng bản 16 m², phương pháp đo đếm các chỉ tiêu lâm học ($D_{1,3}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, đường kính tán), công thức tính toán chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener và chỉ số ưu thế Simpson.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ kết quả phân tích số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và thực trạng đa dạng sinh học:
- Điều kiện tự nhiên: VQG Ba Bể có tọa độ từ 22°16'12" đến 22°33'45" Vĩ độ Bắc và từ 105°28'31" đến 105°47'20" Kinh độ Đông. Diện tích vùng lõi là 10.048 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 3.931 ha; Phục hồi sinh thái: 6.083 ha; Hành chính dịch vụ: 34 ha). Diện tích vùng đệm là 34.702 ha thuộc 8 xã. Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm với diện tích 450 ha, dài trên 8 km, chỗ rộng nhất 800 m, hẹp nhất 200 m, độ sâu trung bình 17–23 m (sâu nhất 29 m). Thổ nhưỡng gồm các nhóm đất Renzit, Luvisols, Leptosols, Cambisols, Acrisols và Fluvisols. Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất 39°C, thấp nhất 6°C), lượng mưa trung bình năm 1.343 mm, độ ẩm trung bình 83%.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Khu vực có 25.510 nhân khẩu thuộc 5.248 hộ sống tại 99 thôn của 9 xã (vùng lõi có 2.856 nhân khẩu, 687 hộ). Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 98% (chủ yếu là Tày, Dao, Mông, Nùng). Tỷ lệ hộ nghèo bình quân đạt 38%–46% (xã Đồng Phúc 63%, Xuân Lạc 54%, Nam Mẫu 49%). Mức thu nhập bình quân khoảng 394 kg lương thực quy thóc/người/năm, tình trạng thiếu đói giáp hạt kéo dài từ 2 đến 4 tháng/năm. Lượng khách du lịch năm 2012 đạt khoảng 30.000 lượt, năm 2013 đạt gần 35.000 lượt (khách quốc tế chiếm 20%–25%).
- Hiện trạng thảm thực vật: Vườn quốc gia có 3 kiểu thảm thực vật chính: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi (6.766 ha, chiếm 67,3%); Kiểu rừng thường xanh bị tác động trên núi đá vôi (3.345 ha, chiếm 33,29%); Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất (637 ha, chiếm 6,34%).
- Hiện trạng khu hệ thực vật: Ghi nhận 1.268 loài thực vật bậc cao thuộc 672 chi, 162 họ, 5 ngành. Riêng họ Lan (Orchidaceae) ghi nhận 182 loài. Khảo sát thực địa OTC tại rừng tự nhiên núi đất thôn Nà Mằm cho thấy mật độ cây đạt 1.800 cây/ha, đường kính trung bình thân gỗ là 23,69 cm, chiều cao trung bình 19,9 m, độ tàn che thảm tươi 80%, chỉ số Shannon-Wiener $H' = 2,61906$, chỉ số Simpson $Cd = 0,427629$. Đối với rừng trồng trên núi đất, loài cây trồng chủ đạo là keo với mật độ 900 cây keo/ha (tổng mật độ thực vật 2.594 cây/ha), $H' = 1,769385$, $Cd = 0,217625$.
- Hiện trạng khu hệ động vật: Ghi nhận 553 loài động vật có xương sống thuộc 32 bộ, 99 họ (81 loài thú, 322 loài chim, 27 loài bò sát, 17 loài ếch nhái, 106 loài cá). Đề tài ghi nhận 11 loài cá quý hiếm (thuộc Sách Đỏ Việt Nam 2000), 14 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm, đặc biệt có 2 loài mới cho khoa học là Cóc mày Na Hang (Leptolalax nahangensis) và Ếch Bắc Bộ (Rana bacboensis).
- Hệ thống giải pháp: Đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát khai thác khoáng sản, thực hiện phối hợp liên ngành tuần tra rừng, hỗ trợ sinh kế và giảm áp lực đánh bắt cá trên hồ Ba Bể.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các giá trị đa dạng sinh học định lượng đã ghi nhận được; khẳng định VQG Ba Bể là trung tâm đa dạng sinh học cao của vùng Đông Bắc; đưa ra kiến nghị cấp thiết về quản lý lâm sản, chuyển đổi sinh kế cho người dân địa phương và tiếp tục triển khai các chương trình quan trắc sinh thái định kỳ.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thống kê đa dạng sinh học
Khóa luận đã tổng hợp và công bố hệ thống số liệu cụ thể về phân loại học thực vật và động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu:
| Ngành thực vật |
Số họ |
Số chi |
Số loài |
| Thông đất (Lycopodiophyta) |
2 |
3 |
13 |
| Thân đốt (Equisetophyta) |
1 |
1 |
1 |
| Dương xỉ (Polypodiophyta) |
19 |
39 |
99 |
| Thông (Pinophyta) |
7 |
13 |
15 |
| Thực vật hạt kín (Magnoliophyta) |
133 |
616 |
1.134 |
| - Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) |
113 |
466 |
809 |
| - Lớp Một lá mầm (Liliopsida) |
20 |
150 |
331 |
| Tổng cộng |
162 |
672 |
1.268 |
Đối với khu hệ động vật có xương sống, kết quả điều tra và thống kê bảo tồn được xác lập theo bảng sau:
| Nhóm động vật |
Số bộ |
Số họ |
Số loài |
Sách Đỏ VN (2000) |
IUCN (2004) |
| Thú |
8 |
26 |
81 |
19 |
18 |
| Chim |
15 |
38 |
322 |
10 |
2 |
| Bò sát |
2 |
11 |
27 |
10 |
5 |
| Ếch nhái |
2 |
6 |
17 |
1 |
1 |
| Cá |
5 |
18 |
106 |
11 |
0 |
| Tổng cộng |
32 |
99 |
553 |
51 |
26 |
So sánh chỉ số cấu trúc và đa dạng sinh học giữa hai trạng thái rừng khảo sát thực địa tại thôn Nà Mằm:
| Chỉ tiêu lâm học / sinh thái |
Rừng tự nhiên trên núi đất |
Rừng trồng trên núi đất |
| Mật độ tầng cây gỗ (cây/ha) |
1.800 |
900 (keo) |
| Tổng mật độ thực vật (cây/ha) |
1.800 |
2.594 |
| Đường kính ngang ngực trung bình ($D_{1,3}$) |
23,69 cm (thân thảo: 1,04 cm) |
12,00 – 15,00 cm (keo) |
| Chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) |
19,90 m (thân thảo: 1,30 m) |
8,00 – 12,00 m (keo) |
| Độ che phủ thảm tươi |
80% |
40% |
| Phẩm chất cây đứng chủ yếu |
Cấp a và b |
Sinh trưởng tốt |
| Chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener ($H'$) |
2,61906 |
1,769385 |
| Chỉ số ưu thế Simpson ($Cd$) |
0,427629 |
0,217625 |
Phát hiện về các loài nguy cấp, quý hiếm và loài mới
- Loài mới cho khoa học: Ghi nhận 2 loài lưỡng cư được mô tả dựa trên mẫu vật thu tại khu vực:
- Cóc mày Na Hang (Leptolalax nahangensis): Công bố năm 1998 từ mẫu vật thu tại Na Hang năm 1996.
- Ếch Bắc Bộ (Rana bacboensis): Công bố năm 2003 từ mẫu chuẩn thu thập tại hồ Ba Bể năm 1995 (tọa độ 22°25'05"B, 105°38'05"Đ) và 5 mẫu thu tại thôn Pác Ban, huyện Na Hang năm 1996.
- Thực vật quý hiếm: Ghi nhận 26 loài thực vật ghi tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới, bao gồm các loài gỗ quý Đinh, Nghiến, Lim, Trai lý, Chò đãi, Sến mật; các loài đặc hữu hẹp như Trúc dây (loài tre leo mọc tại vách đá buông rủ xuống hồ); khu hệ có tính đặc hữu cao nhất về các loài Lan (182 loài Lan).
- Động vật quý hiếm:
- Cá: Ghi nhận 11 loài quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam 2000 gồm Cá lợ, Cá vền, Cá trắm đen, Cá sỉnh gai, Cá anh vũ, Cá hỏa, Cá bỗng, Cá chày đất, Cá bám đá, Cá ngạnh Trung Hoa, Cá chiên bống.
- Bò sát và lưỡng cư: 14 loài quý hiếm gồm Tắc kè, Ô rô vẩy, Rồng đất, Trăn đất, Rắn sọc đuôi khoanh, Rắn ráo thường, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Rắn hổ mang chúa, Rùa đầu to (Platysternon megacephalum - EN), Rùa đất Spengle (Geoemyda spengleri - EN), Rùa sa nhân (Pyxidea mouhoti - EN), Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis - VU) và Cá cóc bụng hoa (Paramesotriton deloustali - E, VU).
Đóng góp và giải pháp đề xuất của tác giả
Khóa luận đã hệ thống hóa danh lục phân loại động thực vật tại VQG Ba Bể, kiểm chứng số liệu đo đếm thực tế cấu trúc lâm học tại xã Khang Ninh. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:
- Thực hiện nghiêm túc quy chế phối hợp tuần tra, bảo vệ rừng giữa Ban quản lý VQG Ba Bể, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Sở Văn hóa Thể thao Du lịch theo Quyết định 164/2013/QĐ-UBND.
- Quản lý chặt chẽ nguồn lợi thủy sản, cấm các hình thức đánh bắt hủy diệt trên hồ Ba Bể theo Quyết định 1882/2012/QĐ-UBND.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí và giải quyết bài toán sinh kế bền vững cho 98% dân số là người dân tộc thiểu số tại vùng đệm và vùng lõi để giảm thiểu tình trạng phá rừng, săn bắt động vật và khai thác khoáng sản tự do.
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế:
- Thời gian thực địa diễn ra trong 4 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014), chưa theo dõi được đầy đủ biến động thành phần loài theo cả 4 mùa trong chu kỳ năm.
- Phạm vi khảo sát ô tiêu chuẩn thực nghiệm tập trung tại thôn Nà Mằm, xã Khang Ninh; các sinh cảnh rừng trên núi đá vôi dốc đứng hiểm trở chủ yếu tiếp cận theo tuyến và kế thừa số liệu từ các dự án trước đó.
- Số liệu điều tra động vật (đặc biệt là thú và chim) chủ yếu dựa vào phỏng vấn dân cư địa phương và khảo sát dấu vết gián tiếp trên hiện trường, chưa tổ chức bẫy ảnh hoặc đặt lưới bắt mẫu trực tiếp.
- Tác giả tự nhìn nhận trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của sinh viên còn hạn chế trong việc giám định các loài thực vật ngoại tầng và sâu bệnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai định kỳ hệ thống ô tiêu chuẩn cố định trên các dải sinh cảnh núi đá vôi nguyên sinh để theo dõi biến động tầng cây tái sinh và trữ lượng rừng.
- Khảo sát chuyên sâu về khu hệ côn trùng ở cạn và động vật nổi dưới nước của hồ Ba Bể theo diễn biến thủy văn mùa mưa và mùa khô.
Giá trị tham khảo thực tiễn
Khóa luận là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Lâm học, Quản lý Tài nguyên Rừng và Sinh thái học:
- Cung cấp quy trình mẫu về phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn 1.000 m², kỹ thuật phân ô và thu thập số liệu lâm sinh ngoài thực địa.
- Minh họa cách áp dụng công thức toán học tính toán các chỉ số sinh thái Shannon-Wiener và Simpson trong phân tích cấu trúc quần xã thực vật.
- Cung cấp danh mục thống kê đối chiếu 1.268 loài thực vật, 553 loài động vật có xương sống phục vụ công tác nghiên cứu, thực tập và xây dựng kế hoạch bảo tồn tại Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân vùng bảo tồn và diện tích các phân khu chức năng tại Vườn Quốc gia Ba Bể được xác định như thế nào?
Theo số liệu khóa luận, diện tích vùng lõi VQG Ba Bể là 10.048 ha, phân bổ thành 3 phân khu:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 3.931 ha.
- Phân khu phục hồi sinh thái: 6.083 ha.
- Phân khu hành chính dịch vụ: 34 ha.
Ngoài ra, diện tích vùng đệm bao quanh là 34.702 ha, trải rộng trên địa bàn 8 xã thuộc huyện Ba Bể và huyện Chợ Đồn.
2. Hai loài động vật mới cho khoa học được phát hiện tại khu vực VQG Ba Bể và vùng phụ cận là những loài nào?
Đó là 2 loài lưỡng cư:
- Leptolalax nahangensis (Cóc mày Na Hang): Công bố năm 1998 dựa trên mẫu vật thu thập tại Na Hang năm 1996.
- Rana bacboensis (Ếch Bắc Bộ): Công bố năm 2003 dựa trên mẫu chuẩn thu thập tại khu vực hồ Ba Bể năm 1995 (ở tọa độ 22°25'05"B, 105°38'05"Đ) và 5 mẫu thu tại vùng phụ cận Pác Ban, Na Hang năm 1996.
3. Cấu trúc sinh thái của rừng tự nhiên trên núi đất tại thôn Nà Mằm có các thông số lâm học nào đáng chú ý?
Kết quả đo đếm ô tiêu chuẩn tại thôn Nà Mằm ghi nhận:
- Mật độ cây: 1.800 cây/ha.
- Đường kính ngang ngực trung bình: 23,69 cm (cây gỗ) và 1,04 cm (thân thảo).
- Chiều cao trung bình: 19,9 m (cây gỗ) và 1,3 m (thân thảo).
- Độ che phủ thảm tươi đạt 80%, phẩm chất cây chủ yếu ở cấp a và b.
- Chỉ số Shannon-Wiener $H' = 2,61906$ và chỉ số Simpson $Cd = 0,427629$.
4. Áp lực kinh tế - xã hội lớn nhất tác động lên công tác bảo tồn tại VQG Ba Bể là gì?
Tỷ lệ nghèo đói và bài toán sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương là áp lực lớn nhất. Toàn vùng có 98% dân số là đồng bào thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 38% đến 46% (xã Đồng Phúc 63%, Xuân Lạc 54%, Nam Mẫu 49%). Thu nhập bình quân chỉ đạt 394 kg lương thực quy thóc/người/năm, người dân thiếu đói từ 2 đến 4 tháng/năm, dẫn tới việc phụ thuộc vào khai thác gỗ rừng, đánh bắt thủy sản và khai thác khoáng sản tự do.
5. Hồ Ba Bể sở hữu các đặc điểm hình thái và thủy văn nổi bật nào?
Hồ Ba Bể là phức hệ hồ nước ngọt tự nhiên trên núi đá vôi ở độ cao biến đổi, có diện tích mặt nước 450 ha, chiều dài trên 8 km, chiều rộng từ 200 m đến 800 m. Độ sâu trung bình của hồ từ 17 m đến 23 m (sâu nhất 29 m, nông nhất 8–9 m). Hồ nhận nước từ hệ thống sông Chợ Lèng (lưu vực 194 km²), suối Bó Lù (137 km²), suối Tà Han (89 km²) và đổ ra sông Năng ở phía Bắc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Ngọc Thường đã thực hiện điều tra và thống kê hệ thống đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Ba Bể với danh lục gồm 1.268 loài thực vật bậc cao và 553 loài động vật có xương sống. Công trình phản ánh chính xác cấu trúc lâm học của các trạng thái rừng tại xã Khang Ninh thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn thực địa và các chỉ số sinh thái định lượng. Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ rõ mối liên hệ giữa áp lực sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm với công tác bảo vệ rừng, cung cấp luận cứ thực tiễn để thực thi các giải pháp quản lý tài nguyên bền vững tại tỉnh Bắc Kạn.