MỞ ĐẦU 1. ý do chọn đề tài Từ ngày thành lập Đảng và Nhà nước cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán coi nhiệm vụ BV,CS&GD trẻ em là một nội dung cơ bản của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Bởi vì, trẻ em có vai trò hết sức quan trọng đối với gia đình và xã hội. Năm 1990, Việt Nam đã ký Công ước QT về quyền trẻ em, trở thành nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế giới chính thức cam kết cùng cộng đồng quốc tế ra sức BV,CS&GD trẻ em.
Qua hơn hai mươi năm thực hiện Công ước QT, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật đẩy mạnh công tác BV,CS&GD trẻ em, đặc biệt là việc ban hành, bổ sung, sửa đổi Luật BV,CS&GD trẻ em, đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em không chỉ mang ý nghĩa đạo lý sâu sắc mà còn mang tính pháp lý chặt chẽ. Việc thực hiện quyền trẻ em ở nước ta bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng, được nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, giải quyết nhằm đảm bảo cho trẻ em có điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện. Bởi lẽ, mỗi đứa trẻ sinh ra là kết quả tình yêu của cha mẹ, là hạnh phúc, tương lai của mỗi gia đình và toàn thể xã hội.
Một đứa trẻ sẽ phát triển toàn diện khi được sống trong gia đình có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc và che chở của cha mẹ. Trẻ em ngày nay được chăm sóc rất tốt, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để phát triển một cách toàn diện nhất. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ những đứa trẻ đang phải sống trong tình cảnh hết sức khó khăn, bị cha mẹ hành hạ, sử dụng bạo lực. Vì thế, xã hội cần đặc biệt chú trọng đến các nhóm trẻ này, đặc biệt là nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ em thiệt thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nạn nhân của bạo lực gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam hội nhập cùng Thế giới. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá dần phát triển kéo theo mức sống của người dân ngày một ổn định hơn. Tuy nhiên, điều đó cũng khiến cho khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng chênh lệch. Khi nông thôn bước vào quá trình đô thị hoá đem lại nhiều cơ hội lao động cho một bộ phận dân cư nhưng đồng thời kéo theo một lượng lớn người dân có nguy cơ bị thất nghiệp cao, gia đình rơi vào khủng hoảng dẫn đến những biến động lớn trên mọi mặt.
Nhiều gia đình phải rời bỏ nông thôn lên đô thị tìm kế sinh nhai nhưng cuộc sống của họ gặp rất nhiều trắc trở. Chính vì thế mà xung đột gia đình xuất hiện cộng thêm sự khủng hoảng kinh tế gia đình đã dẫn đến các cuộc bạo lực gia đình, tranh chấp tài sản, đánh đập con cái hay ly hôn… Và hậu quả của những cuộc tranh cãi, ly hôn đó đã đẩy những đứa trẻ ngây thơ, bé bỏng trở thành những trẻ em mồ côi lang thang đường phố, không nơi nương tựa. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Bên cạnh đó, Học viện còn là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ LĐ, QL trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý.
Đối tượng được đào tạo tại Học viện Trung tâm là cán bộ, cán bộ LĐ, QL ở cấp TW; tỉnh, thành phố; quận, huyện, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, bao gồm: Vụ trưởng, phó vụ trưởng và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương đương trở lên của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tỉnh ủy viên, thành ủy viên, trưởng, phó các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố trở lên; cán bộ chủ chốt cấp huyện (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân) và tương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh này. Đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em sẽ mang đến cái nhìn mới mẻ và toàn diện hơn về vấn đề này. Họ có nhận thức như thế nào về quyền được bảo vệ trẻ em? Họ cần phải làm gì để triển khai thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay với cương vị là những người cán bộ, cán bộ lãnh đạo đạo, quản lý. Qua đó, đề tài "Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay" sẽ mang đến một góc nhìn mới mẻ hơn về vấn đề này.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm rất lớn của Đảng, Chính phủ và các tổ chức xã hội. Việt Nam là nước phê chuẩn Công ước QT về quyền trẻ em từ năm 1990, trải qua 25 năm áp dụng trong thực tiễn cũng như việc sửa đổi, bổ sung Luật BV,CS&GD trẻ em cho thấy công tác trẻ em ngày càng được coi trọng nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Khái quát tình hình nghiên cứu về quyền trẻ em ở Việt Nam thời gian qua, có thể nhận định rằng, đã có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về các vấn đề của trẻ em nói chung và quền trẻ em nói riêng được triển khai và đem lại những giá trị, ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 của tác giả Võ Kim Hương giới thiệu đã mang lại cái nhìn mới. Dựa trên cách tiếp cận về quyền con người, báo cáo đã có một phân tích tương đối toàn diện về tình hình của trẻ em dưới 18 tuổi hiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đang sống ở Việt Nam và tập trung vào những đối tượng khó khăn nhất trong việc tiếp cận như: trẻ em dân tộc thiểu số đang sống ở vùng nông thôn xa xôi; trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (trẻ lang thang, trẻ di cư, trẻ vi phạm pháp luật); và các trẻ khác. Bên cạnh đó, báo cáo cũng lưu ý đặc biệt đến các hành vi và giá trị có liên quan đến gia đình, truyền thống và văn hóa Việt Nam có ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền trẻ em. Phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 là kết quả nghiên cứu của UNICER, được xây dựng với sự cộng tác chặt chẽ của chính phủ Việt Nam.
Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người và có tính cập nhật và toàn diện cho các bên tham gia trong công tác thúc đẩy an sinh cho trẻ em, cũng như hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chiến lược nhằm thực hiện tốt hơn quyền của trẻ em Việt Nam. Thông điệp quan trọng nhất của nghiên cứu này là kêu gọi giảm sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cận các dịch vụ đối với trẻ em. Bàn về công tác nâng cao trách nhiệm của gia đình và xã hội trong công tác BV,CS&GD trẻ em, PGS.TS Cao Duy Hạ nhấn mạnh trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc. Công tác BV,CS&GDTE là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình.
Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm. Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác BV,CS&GDTE đã đạt được những thành tựu quan trọng. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ.
Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường.để răn dạy các em mắc lỗi.62-63] Trong những năm gần đây, các vụ hạo hành, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, khiến cho cộng đồng xã hội rất quan tâm và lo ngại. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, trong giai đoạn hiện nay, công tác BV,CS&GD trẻ em muốn đạt được kết quả tốt cần phải thực hiện các biện pháp cơ bản sau đây. Một là, tăng cường sự quan tâm lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội. Hai là, Nhà nước phải đầu tư thỏa đáng cho một số hoạt động chính của công tác trẻ em.
Ba là, các tổ chức xã hội, gia đình và cá nhân phải thực hiện nghiêm túc các điều luật, chính sách và pháp lệnh của Nhà nước về công tác BV,CS&GDTE. Bốn là, công tác trẻ em phải được tổ chức thành phong trào quần chúng sâu rộng và thường xuyên[10, tr. Bên cạnh đó, tình trạng trẻ em thất học, bị ngược đãi, không được chăm sóc đầy đủ, lao động sớm, bị lạm dụng tình dục, bị bạo lực trong gia đình… vẫn chưa được ngăn chặn, sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan trực tiếp đến bản thân còn chưa được tôn trọng.