Phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cầu luận văn gồm 03 chơng và 14 tiết Chơng 1: Cơ sở lý luận và các yếu tô tác động đến việc xác định chuẩn nghèo đô thị. Chơng 2: Thực trạng thay đổi chuẩn nghèo đô thị và nhận diện các yếu tố tác động đến việc xác định chuẩn nghèo đô thị ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 Chơng 3: Đề xuất chuẩn nghèo trong đô thị chính sách giảm nghèo đô thị giai đoạn 2021 - 2025. CO SO LY LUAN VA CAC YEU TO TAC DONG DEN VIEC XAC DINH CHUAN NGHEO ĐÔ THỊ 1. Khái niệm nghèo và chính sách giảm nghèo đô thị 1.
Khái niệm nghèo đô thị - Nghèo đói (Poverty) là một vấn đề xã hội mang tinh chất toàn cầu, nó không chỉ diễn ra ở các nớc chậm phát triển với nền kinh tế lạc hậu mà còn diễn ra ở các nớc đang phát triển và trong bối cảnh thế giới bị ảnh hởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm cho sản xuất đình trệ, tốc độ tăng trởng kinh tế (GDP) giảm thì vấn đề nghèo lại càng gia tăng nhanh. Đây là vấn đề nếu nh không thể giải quyết và đợc nghiên cứu một cách triệt để thì những mục tiêu nh tăng trởng kinh tế, ồn định xã hội nâng cao chat long doi sống ngời dân, ồn định đảm bảo các quyền cơ bản của con ngời đều sẽ không đạt đợc, có thể nói nghèo là một hiện tợng mang tính chất tiệu cực đối với kinh tế và xã hội. - Nghèo đói là một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, hiện tợng nghèo đói, từ những thiếu hụt về nhu cầu vật chất cơ bản, đẫn đến những bắt ồn về chính trị, đây là những tác động nội tại và phát sinh trong quá trình vận hành giữa cộng đồng và xã hội, điều này tạo ra sự tồn tại song song giữa sự giàu có và nghèo đói thiếu thốn của cộng đồng. Trong cuộc sống hiện đại thì để có thể sinh sống và tồn tại một cách tối thiểu thì một số những nhu cầu thiết yếu của con ngời cần đợc đảm bảo một cách đầy đủ, trong đó có hai đạng nhu cầu cơ bản đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần.
Đây là hai dạng nhu cầu nếu không đảm bảo ở mức tối thiểu thì con ngời không thể phát triển đợc ở mức bình thờng, vì vậy tiếp cận khái niệm để nghiên cứu về hiện tợng nghèo thờng là tiếp cận về nhu cầu. Về dựa trên 2 quan điểm nghèo đói nh trên, vấn đề nghèo đói đợc tiếp cận đới góc độ Thứ nhất, đó là tiếp cận tiền tệ (Monetary Poverty), xác định dựa trên chuẩn nghèo về thu nhập, tiêu đùng. Phơng diện của cách tiếp cận này đó là: Có thé đa ra một số những khái niệm về nghèo đói đợc tiếp cận dựa trên tiếp cận tiền tệ. 11 Tại Hội nghị Thợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 tại Đan Mạch đã định nghĩa về nghèo trong đó: “Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dới một đô la mỗi ngày cho mỗi ngời, số tiền đó đợc coi nh đủ mua những sản phẩm cần thiết dé tồn tại”.
Đây là cách xây dựng khái niệm dựa trên thớc đo về tiền tệ [48,13]. Thứ hai, đó là tiếp cận nhan van (Multidimensional Poverty), tiép can vong đời, xác định chuẩn nghèo dựa trên tiếp cận đa chiều, đây là tiếp cận đang đợc sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về vấn đề nghèo đói. Tại Hội nghị về chống nghèo đối của khu vực Châu Á Thái Bình Dơng do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại thủ đô Bangkok của Thái Lan đã đa ra một khái niệm về nghèo trong đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không đợc hỏng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngời, mà những nhu cầu này đã đọc xã hội thừa nhận tòy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quá của địa phơng” [48, 13]. Chơng trình phát triển của Liên Hợp Quốc viết tắt là (UNDP) trong báo cáo “Khắc phục sự nghèo khổ của con ngời” đã xây dựng những đặc điểm cơ bản đợc xa? coi là định nghĩa cho khái niệm “nghèo”.
Trong đó báo cáo đề cập về sự nghèo khổ của con ngời: thiếu những quyền cơ bản của con ngời nh biết đọc, biết viết, tham gia vào các quyết định cộng đồng và đợc nuôi dỡng tạm đủ; Về sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chỉ tiêu tối thiểu; Về sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn còng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu; về sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đợc xác định nh sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lơng thực và phí lơng thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đợc xác định khác nhau ở nớc này hoặc nớc khác [10,14]. Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dơng định nghĩa : “Nghèo là một bộ phận dân c không đợc hỏng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngời, mà những nhu cầu này đã đợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tậo quán của địa phơng” [48, 12]. 12 Bản chất của vấn đề nghèo là sự thiếu thốn đợc biểu thị dới dạng hình kim tự tháp bao gồm: So dé 1. Mô hình kim tự tháp các khái niệm về nghèo đói [Nguôn: Sơ đô kim tự tháp về đói nghèo của Bob Baulch (1996) [27]] Nh vậy, có thể khái quát rằng những tiếp cận cơ bản về vấn đề nghèo đói có thể dựa trên những chiều cạnh sau bao gồm: Thứ nhất, đó là theo cơ câu hoặc theo tiếp cận về thu nhập, ngời nghèo là ngời có thu nhập đới ngỡng nghèo mà cụ thể ở đây là những ngớng có thể quan sát đợc nh ngời nghèo là ngời thờng không đủ tiền để có thể sử dụng điện, sử dụng nớc sạch, sử dụng nhà ở, sử dụng các dịch vụ giao thông, y tế và giáo dục.
Thứ hai, đó nghèo do sức ỳ, đây là một dạng nghèo mà thờng đo yếu tố ngoại cảnh tác động đến, đây là hiện tợng mà ngời mặc đò có đầy đủ thu nhập nhng lại không đợc tiếp cận các dịch vụ và nhu cầu cơ bản của xã hội, do một nguyên nhân tác động ngoại cảnh nào đó. Thứ ba, đó là hiện tợng nghèo mới xuất hiện do quá trình đô thị hóa, đây là một hiện tợng nghèo mới gắn liền với quá trình nghèo đô thị mà ở đó đối tợng nghèo rơi vào trạng thái mặc dù đợc tiếp cận với các dịch vụ cơ bản nhng theo tiếp cận định lợng là thu nhập của nhóm ngời hoặc ngời này lại vẫn thấp hơn ngỡng nghèo. Hiện tợng nghèo nay thong hay xảy ra do quá trình đô thị hóa talj 13 các đô thị, trong đó nhiều c dân bất ngờ rơi vào tình trạng đói nghèo do sự cạnh tranh trong thị trờng lao động, vấn đề thất nghiệp do năng lực không đảm đơng đợc các yêu cầu công việc trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đây chính là vấn đề nghiên cứu về nghèo đô thị. Thứ t, đó là hiện tợng nghèo và hiện tợng cận nghèo có sự đồng nhất, trong đó điều này thờng xảy ra tại các khu vực đô thị khi ngời có thu nhập đủ ở mức trung bình đợc tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, nhng luôn gặp phải áp lực đề duy trì mức thu nhập đó tránh rơi vào ngỡng nghèo, qua một quá trình tích lũy nhóm đối tợng này mới đạt đợc mức thu nhập cách xa ngỡng nghèo khi đó mới có thể thoát nghèo.
Từ những quan niệm trên, có thể đửa một khái niệm chung về nghèo tại Việt Nam nh sau: “Wghèo là một phạm trò chỉ mức sống của một hộ dân c hay một vùng cộng đông dân c không đảm bảo những nhu câu tối thiểu của con ngời đề duy trì cuộc sống” [48,15]. Trong khái niệm này, “ohgm trd” mang tính chất tổng quát phản ánh những mi liên hệ cơ bản của hiện tợng nghèo; “2c sóng” là một khái niệm liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội và con ngời. Về cơ bản có thể nhận thấy điều kiện hay hoàn cảnh sống của hộ nghèo thờng mang tính chất thiếu hụt và không thể duy trì cuộc sống, đây chính là căn cứ để xác định chuẩn nghèo. Nghèo đợc chia thành các mức độ nh nghèo tuyệt đối, nghèo tơng đối.
- Nghèo tuyệt đối là việc không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống của con ngời [48,15]. - Nghèo tơng đối là tình trạng không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó [48, 15]. Nh vậy, có thể nhận thấy rằng tiếp cận vấn đề nghèo là vô cùng đa dạng, điều này là cơ sở đề các quốc gia hoặc các địa phơng xây dựng các chuẩn nghèo cho địa phơng. Trong giai đoạn hiên nay, khi các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam đạt đợc nhiều thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đẫn đến hệ quả số lợng hộ nghèo, ngời nghèo đều giảm theo từng năm, tình trạng đói nghèo về 14 lơng thực gần nh đã không còn xuất hiện tại các khu vực đô thị lớn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng.
Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã nảy sinh ra một hệ quả tất yếu đó ranh giới giữa đối tợng cận nghèo và đối tợng nghèo là vô cùng mong manh và có thể khẳng định với sự biến chuyền của tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực đô thị những hộ nghèo hay hộ cận nghèo tại khu vực này đều có một đặc điểm đó là “nhóm đối tợng rất dễ tồn thong”. Có thé đa ra cách tiếp cận về vòng đời đối với các “nhóm đối tợng rất dé ton thơng” tại khu vực đô thị, đây là tiếp cận có thể sử dụng cho tất cả các nhóm đối tợng, đây là tiếp cận dựa trên độ tuổi của các nhóm đối tợng + Lao đông trẻ em Không được đến trường. do qua đời hoặc di + Sức khỏe ngày cảng yếu “Không có khả năng làm việc “Không được gia đình. chất “Bi phân biệt đồi xử trong lực lượng lao đông.
_ CÁC CÚ SỐC KHÁC NHAU VÀ. CÚ SỐC SỨC KHỎE -s Thất nghiệp và thiểu việc — ~ có ¬ a KHUYET TAT VA » Không có đủ BENH TAT | ky naing | “That nghiên.