phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Sự thiết lập vƣơng triều Mạc Chƣơng 2. Công cuộc ổn định xã hội Đại Việt của nhà Mạc Chƣơng 3. Nguyên nhân thất bại của nhà Mạc NỘI DUNG 15 CHƢƠNG 1.
SỰ THIẾT LẬP VƢƠNG TRIỀU MẠC 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA XÃ HỘI ĐẠI VIỆT CUỐI THỜI LÊ SƠ 1. Tình hình kinh tế 1. Tình hình ruộng đất và thực trạng nông nghiệp Một trong những nhân tố giúp hoàng quyền của nhà Lê Sơ tồn tại và có giá trị lâu bền đó là chính sách quân điền.
Chính sách quân điền ban đầu mang một ý nghĩa tích cực đối với đại bộ phận nhân dân Đại Việt và trở thành công cụ để duy trì nhà nƣớc phong kiến tập quyền mạnh mẽ nhƣ thời kỳ Lê Thánh Tông, xã hội đi vào thái bình, ổn định. Tuy nhiên, chế độ ấy cũng không tránh khỏi những hạn chế và ngày càng nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực khiến nhà nƣớc dần suy yếu. Ngay từ cuối thế kỷ XV sang đầu thế kỷ XVI chế độ quân điền đã bộc lộ những mặt trái không thể khắc phục đƣợc. Khi số ruộng công làng xã ngày càng thu hẹp, cùng với chính sách lộc điền và nạn bao chiếm, kiêm tinh ruộng đất của bọn cƣờng hào, địa chủ và một số quan lại, số ruộng ngƣời dân đƣợc hƣởng ngày càng thu hẹp.
Chính sách quân điền trở thành thứ trói buộc họ vào làng xã với sƣu cao thuế nặng. Xã hội Đại Việt trì trệ, luẩn quẩn trong nền kinh tế tiểu nông. Để giải quyết thực trạng này, nhà nƣớc nhiều lần ban bố những điều luật nghiêm cấm những hành vi chiếm đoạt ruộng đất ao hồ của lƣơng dân và quy định rõ trong “Quốc triều hình luật” trong đó: Điều 344, điều 352 quy định về việc xử phạt nếu nhận bậy ruộng của ngƣời khác, điều 355, 357 quy định việc xử phạt ngƣời ức hiếp mua ruộng ngƣời khác hay xâm chiếm đất đai của ngƣời khác, điều 370 cấm chiếm đoạt ruộng… Những chính sách trên đã phản ánh thực tế tranh chấp, lấn chiếm, cƣớp đoạt ruộng đất đã trở nên phổ biến, phải quy định thành những điều luật để xét xử. Tuy nhiên, hiệu quả những chính sách nêu trên không cao, vua Lê Thánh Tông đã bất lực mà nhận xét các quan lại rằng: “Lam Sơn là đất căn bản.
Mới rồi bọn thế gia hay làm trái lễ phép, coi thường pháp luật, chiếm lấy đất làm của mình, các thân vương công chúa không có chỗ đất cắm dùi… Nay định giới hạn, người nào còn dám trái phạm thì theo luật trị tội” [56, 263]. 16 Nhà nƣớc đã có nhiều nỗ lực trong việc quản lý ruộng công nhƣng trong xu thế phát triển của lịch sử, sự phát triển của ruộng tƣ là điều không tránh khỏi. Cho đến những năm cuối thế kỷ XV, sự phát triển của chế độ sở hữu lớn địa chủ về ruộng đất đã trở thành một nguy cơ lớn đối với nhà nƣớc trung ƣơng. Tình hình càng trở nên trầm trọng những năm đầu thế kỷ XVI, vua Lê Tƣơng Dực (1509 - 1516) phải ban hành sắc chỉ vào năm Canh Ngọ (1510), trong đó quy định rõ: “Phàm các hạng ruộng đất, bãi dâu, đầm ao cấp tứ thì các xứ nên cấp vào hạng còn lọt ở dân, chưa vào sổ quan, cho quan Thái bộc tự tìm ra, làm bản tâu lên… làm sắc cấp cho các công hầu bá tước theo thứ bậc khác nhau” [12, 59].
Sắc lệnh này đã phản ánh thực trạng cƣớp đoạt ruộng đất một cách công khai của giai cấp thống trị, làm tăng số ruộng tƣ hữu mà chúng chiếm đƣợc, thu hẹp ruộng công làng xã, khiến cho đời sống nhân dân càng thêm khổ cực với số ruộng ít ỏi để sinh tồn. Tiếp nhận một xã hội “ngoại thích chuyên quyền, phép cấm phiền hà, kỷ cƣơng rối loạn, nông tang mất nghiệp, phong tục ngày hƣ” của thời Đoan Khánh, vua Lê Tƣơng Dực sau khi lên ngôi đã ban “Trị bình bảo phạm”, gồm 50 điều để chấn chỉnh kỷ cƣơng, ban hành giáo hóa trong cả nƣớc. Trong đó, điều 2 quy định việc lập mốc giới, khám thực ruộng và cấm ức hiếp lạm ruộng đất của nhân dân. Tuy nhiên, những luật lệ ấy cũng không mấy phát huy tác dụng.
Những nỗ lực của nhà nƣớc trong thời gian này đã không khắc phục nổi tình trạng bao chiếm ruộng đất của bọn địa chủ quan lại. Sự suy yếu của chính quyền trung ƣơng vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của thực trạng đó. Thuế khóa, phu phen tạp dịch, cuộc hỗn chiến giữa các phe phái, thiên tai, bệnh dịch… đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Đối lập với thời kỳ vua Thái Tổ, Thánh Tông, thời kỳ này nông nghiệp khủng hoảng trầm trọng.
Nông nghiệp sa sút, nạn đói thƣờng xuyên xảy ra. “Năm Nhâm Thân (1512) đại hạn, trong nước đói to”, năm Quý Dậu (1513) “Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 7, nước to, vỡ đê phường An Hoa (ở Kinh thành Thăng Long), nước thông với Hồ Tây” [12, 72-77] gây nên nạn lụt lớn. Hậu quả là năm Đinh Sửu (1517), “ trong nước đói to nhân dân chết đói nằm gối lên nhau. Các huyện như Đông Triều, Giáp Sơn ở Hải Dương, Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn ở Kinh Bắc, chỗ nào trải qua binh lửa càng đói hơn” [12, 94].
17 Đói khổ và bị bóc lột, không có con đƣờng nào khác cho họ là vùng dậy đấu tranh. Phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên tiếp bên cạnh những cuộc tranh hùng của các thế lực phong kiến. Tình hình công thương nghiệp Với nỗ lực xây dựng một nhà nƣớc quân chủ chuyên chế trung ƣơng tập quyền cao độ, nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách quan trọng về ruộng đất nhằm xây dựng một nền kinh tế tiểu nông, cột chặt ngƣời nông dân và làng xã vào sự quản lý của nhà nƣớc. Mặt trái của chủ trƣơng này là kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế công thƣơng nghiệp.
So với thời Lý, Trần, thời Lê Sơ hoạt động thƣơng mại lắng xuống và không có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nƣớc. Nếu Thăng Long và một số trọng trấn thời Trần làm trung tâm buôn bán của cả nƣớc và nhiều thƣơng điếm hoạt động tấp nập trên các cửa sông, cửa biển thì đến thời Lê Sơ trở nên vắng vẻ do nhà nƣớc không tạo điều kiện mở mang thƣơng nghiệp. Dƣới thời Lê Sơ, cả nƣớc đã có 83 phƣờng, song hoạt động thủ công nghiệp và thƣơng nghiệp chƣa thực sự tấp nập, thậm chí năm 1481, vua Thánh Tông chủ trƣơng đuổi những ngƣời “tạp cƣ” ở Thăng Long trở về nguyên quán, chỉ cho những ngƣời nguyên có hàng chợ phố xá ở lại buôn bán mà thôi. Càng về sau, chế độ công tƣợng - chế độ lao động cƣỡng bách cùng việc cấm đoán sự phát triển thƣơng nghiệp đặc biệt là hoạt động ngoại thƣơng, các hoạt động sản xuất khác ngoài nông nghiệp không đƣợc chú trọng đã làm cho đất nƣớc ngày một suy yếu.
Khi lĩnh vực nông nghiệp rơi vào khủng hoảng thì nền kinh tế khó có thể gƣợng dậy đƣợc. Hệ tƣ tƣởng Tống Nho với quan điểm “dĩ nông vi bản” đã làm cho xã hội càng khắt khe hơn với tƣ tƣởng trọng nông ức thƣơng và thứ bậc “sĩ, nông, công, thương”. Bởi vậy, mất ruộng đất, bị bóc lột, nhƣng ngƣời nông dân ngoài việc bỏ làng đi khai khẩn vùng đất mới không thể vƣợt ra khuôn khổ xã hội tiểu nông, họ đành chấp nhận thân phận bị bóc lột cho các thế lực nắm trong tay tƣ liệu sản xuất hoặc vùng lên khi bị đẩy đến đƣờng cùng. Nhƣ vậy, cuối thời Lê sơ đã bộc lộ những mặt trái của chế độ quân chủ chuyên chế mà khó có thể khắc phục nổi.
Kinh tế công thƣơng nghiệp không có thành tựu gì đáng kể, không thể cứu vãn nổi sự khủng hoảng của xã hội Đại Việt 18 đang cận kề. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện của đất nƣớc cuối thời Lê Sơ. Tình hình chính trị, xã hội Khi đánh giá về giai đoạn cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, các nhà nghiên cứu đều có chung một nhận xét đó là thời loạn, nhà nƣớc phong kiến Lê sơ đã lâm vào khủng hoảng. Điều đáng tiếc là những vị vua có tài và tâm huyết trong giai đoạn này nhƣ Hiến Tông, Túc Tông đều dang dở với công cuộc trị vì của mình vì mất sớm, trong khi đó những ngƣời kế vị lại bất tài, thất đức.
Tài năng và đức độ của vua Hiến Tông vẫn đƣợc sử sách ghi nhận: “Lê Hiến Tông trị vì bảy năm nhưng là ông vua cuối cùng của triều Lê Sơ còn giữ được những thành tựu từ thời Thái Tổ gây dựng” [10, 195]. Vua Túc Tông - “người kế vị xứng đáng”, ở ngôi chƣa đƣợc một năm thì qua đời mang theo bao ấp ủ và sự mong đợi của vua cha. Nhƣ vậy, sau khi Hiến Tông qua đời, nhà Lê bƣớc vào thời kỳ suy vong với những ông vua mà thời gian không thể xóa nhòa đƣợc tiếng xấu. Hiện thực xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI có thể tái hiện nhƣ sau: 1.
Sự xa hoa trụy lạc của tầng lớp thống trị Trong thời đại phong kiến, vua định đoạt toàn bộ công việc trọng đại và điều hành mọi hoạt động của nhà nƣớc. Một xã hội thái bình hay loạn lạc phụ thuộc chủ yếu vào năng lực và tâm huyết ngƣời đứng đầu. Sau thời Hồng Đức thịnh trị, những biểu hiện suy yếu của xã hội Đại Việt bộc lộ rõ. Giai cấp thống trị sống hƣởng thụ, ra sức vơ vét, bóc lột, cƣỡng bức nhân dân, suy vong là không tránh khỏi.
Cụ thể là: Vua Uy Mục sau khi lên kế vị (1505 - 1509) đã không thể giải quyết những yêu cầu của lịch sử, trái lại, càng làm cho tình hình thêm trầm trọng: “Vua thích uống rượu, hay giết người, hiếu sắc, làm oai, giết hại người tôn thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại chuyên quyền, trăm họ oán giận, người đời gọi là Quỷ vương” [12, 41]. Tệ hơn nữa, “Vua từ sau khi lên ngôi, đêm vào cung với cung nhân uống rượi say vô độ, ai say thì giết… Nhân dân ta oán mà vẫn không chừa. Lại mang lòng ngờ ghét. Phàm các quan người nào khi trước không muốn lập mình thì giết đi” [12, 48-49].
Trong khi đó, họ ngoại chuyên quyền, cậy thế hạch sách bóc lột nhân dân, thần dân trong nƣớc đều thất vọng. 19 Mâu thuẫn trong nội bộ triều đình, giữa phái công thần tôn thất với phái ngoại thích đã dẫn đến cuộc lật đổ ngai vàng vua Uy Mục.