Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ VỀ HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Đường lối xử lý về hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa thành Bộ luật hình sự năm 1985 Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985, sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tuy nhiên trong thời gian này, đất nước vẫn còn chia cắt, cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn tiếp diễn. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ xây dựng pháp luật còn thiếu kinh nghiệm nên văn bản pháp luật chưa được hệ thống hóa mà chỉ quy định trong các Sắc lệnh, Thông tư… Đến mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất.
Khi đất nước được độc lập, vấn đề bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước tiến lên xây dựng thành công chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của nước ta. Để làm tốt vấn đề này, mỗi quốc gia đều có chính sách khác nhau trong pháp luật đấu tranh phòng, chống và xử lý các loại tội phạm. Nước ta định ra mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thì cần xây dựng chính sách hình sự và hệ thống pháp luật hình sự phù hợp với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm. “Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” [49, tr.
Trong điều kiện khó khăn của chính quyền non trẻ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, miền Nam tiếp tục công cuộc kháng chiến thống nhất đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn này đất nước phải đối mặt với nạn thù trong, giặc ngoài hòng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phá hoại cộng cuộc xây dựng xã hội mới nhân dân ta. Để bảo vệ thành quả của cách mạng, Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp luật nhằm đấu tranh với các loại tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị trong xã hội. Ngày 13/9/1945 Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Chủ tịch Hồ Chí Minh- đã ký Sắc lệnh số 33-C về việc “Lập tòa án quân sự”.
Trong Sắc lệnh này, tại Điều IV đã quy định về xử lý hình sự như sau: “Nếu có lý do đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết quá hối, vì lầm lẫn, vân vân, thì tòa có thể cho tội nhân được hưởng án treo” [15, tr. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 tại Điều 10 quy định: “Khi phạt tù tòa có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có lý do đáng khoan hồng” [15, tr.74]; Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 150 ngày 07/11/1950 tại Điều 1 có quy định: “Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hóa” [15, tr.194]; Sắc lệnh số 150 ngày 12/4/1953 tại Điều 2 có quy định: “Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất” [15, tr.208]; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 tại Điều 2 có quy định “Nguyên tắc trừng trị bọn phản cách mạng là: nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn thủ ác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những kẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộc tội” [59, tr.193]… Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 đều có quy định: “Mọi hành động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh” [59, tr.203], “Mọi hành động xâm phạm tài sản tài sản riêng của công dân phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh” [59, tr.454] hay “nghiêm trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức, bọn cầm đầu, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, bọn gây thiệt hại nặng; xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra” [59, tr. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03- BTP-TT về Hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định các tội phạm và hình phạt đã đưa ra định hướng về đường lối xử lý về hình sự: Đường lối xét xử các tội phạm hình sự là trừng trị nghiêm khắc bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn côn đồ hung hãn, bọn phạm tội có tổ chức, bọn cầm đầu, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, bọn gây ra những hậu quả nghiêm trọng; xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ nhất thời phạm tội nhẹ, những kẻ chưa gây hậu quả lớn, những kẻ tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra [60, tr.77]… Đây là các quy định tiền đề cho việc xử lý hình sự đối với các loại tội phạm nhằm bảo đảm trật tự an toàn xã hội, là định hướng để xây dựng các văn bản pháp luật hình sự tiếp theo. Trên cơ sở các văn bản có quy định về định hướng xử lý các tội phạm trong những năm trước khi pháp điển hóa thành Bộ luật hình sự năm 1985, có thể đưa ra một số nhận xét chung về xử lý hình sự trong luật hình sự Việt Nam như sau: 1.Trong giai đoạn này, pháp luật hình sự chưa được hệ thống hóa thành một văn bản riêng biệt.
Do đó, pháp luật hình sự cũng chưa xây dựng được hệ thống các nguyên tắc xử lý về hình sự một cách đồng bộ mà chỉ có những quy định rải rác mang ý nghĩa là đường lối chung để xử lý các loại tội phạm. Những quy định này là những phương hướng cơ bản, sự thể hiện nhất quán trong chính sách hình sự là xử lý về hình sự của nước ta có tính nhân đạo, kết hợp giữa nghiêm trị với khoan hồng, trừng trị kết hợp cảm hóa giáo dục. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau nên có một số tư tưởng pháp lý 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến bộ như công bằng, pháp chế chưa được thể hiện cụ thể. Đây là đường lối chung về xử lý các loại tội phạm hình sự làm tiền đề cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật về sau.
Và cuối cùng, các quy định này là định hướng chung trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vì vậy, trước khi xây dựng Bộ luật hình sự thì cần nghiên cứu hoạch định đường lối xử lý về hình sự trên cơ sở “nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế” [7, tr.34], cũng như phải xem các quyền và tự do của con người là những giá trị xã hội cao quý nhất để ghi nhận vào pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự. Hơn nữa, hoạch định chính sách hình sự nói chung và đường lối xử lý về hình sự nói riêng cần phải có căn cứ, bảo đảm sức thuyết phục trên cơ sở khoa học thực tiễn khách quan nhằm giải quyết tốt vấn đề trách nhiệm hình sự từ khi có sự việc phạm tội xảy ra cho đến khi người đó chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.TSKH Lê Văn Cảm đã đưa ra khái niệm: Đường lối xử lý về hình sự là bộ phận cấu thành của chính sách hình sự nhằm xác định những phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng và pháp luật thi hành án hình sự, đảm bảo sự ổn định của hệ thống tư pháp hình sự, tăng cường việc bảo vệ các quyền và tự do của con người, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng hệ thống tư pháp hình sự, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm đạt được kết quả cuối cùng – xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [6, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nguyên tắc xử lý về hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp về hình sự, đường lối xử lý về hình sự được thể chế hóa thành nguyên tắc xử lý về hình sự và được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 1985 như sau: Điều 3. Nguyên tắc xử lý 1- Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. 2- Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kẻ ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm, kẻ biến chất, sa đoạ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, kẻ phạm tội có tổ chức, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra.
3- Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng và đã hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc gia đình giám sát, giáo dục. 4- Đối với người phạt tù thì buộc họ phải chấp nhận hình phạt trong trại giam, phải lao động, cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội. Nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt. 5- Đối với người đã chấp hành xong hình phạt thì tạo điều kiện cho họ làm ăn, sinh sống lương thiện; khi họ có đủ điều kiện do luật định thì xoá án [46, tr.