Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Việt Khoa thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phan Trung Lý. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, mã số đào tạo 9 38 01 02, được hoàn thành và bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại hình dịch vụ công, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các nhóm đối tượng yếu thế, đối tượng chính sách nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền bình đẳng trước pháp luật và tiếp cận công lý. Tại Việt Nam, hệ thống TGPL được hình thành từ năm 1997 theo Quyết định số 734/1997/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ, sau đó được thể chế hóa qua Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018).

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng thể chế bộc lộ nhiều khó khăn:

  • Từ năm 2010, các nguồn kinh phí hỗ trợ từ các dự án quốc tế bị cắt giảm, khiến hoạt động TGPL tại địa phương gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là hình thức TGPL lưu động, truyền thông và sinh hoạt câu lạc bộ.
  • Nhận thức lý luận về bản chất, đặc điểm của hoạt động TGPL, phạm vi đối tượng thụ hưởng và phương thức cung ứng dịch vụ công chưa thực sự thống nhất.
  • Yêu cầu xã hội hóa hoạt động TGPL, huy động nguồn lực xã hội và hoàn thiện mô hình tổ chức sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực đặt ra khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết một cách có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ nhận thức lý luận về hoạt động TGPL và yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động TGPL.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành hoạt động TGPL tại Việt Nam; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Nhận diện những vấn đề pháp lý và thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay.
  4. Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp và chính sách bảo đảm quyền con người.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về hoạt động TGPL; quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam; thực tiễn triển khai hoạt động TGPL; kinh nghiệm quốc tế về xây dựng mô hình và tổ chức hoạt động TGPL.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận hoạt động TGPL theo nghĩa hẹp, tập trung vào hoạt động do các cơ quan nhà nước tiến hành trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, người nghèo; đồng thời xem xét xu hướng xã hội hóa TGPL. Trọng tâm của luận án là phương diện hoạt động, các vấn đề về hệ thống tổ chức và quản lý nhà nước chỉ được đề cập trong mối liên hệ bổ trợ.
  • Phạm vi không gian: Phản ánh thực trạng hoạt động TGPL trên địa bàn cả nước, trong đó chú trọng khảo sát điển hình tại một số địa bàn thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hoạt động TGPL từ khi có Quyết định số 734/1997/TTg đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019), tập trung chủ yếu vào số liệu khảo sát thực tế trong 10 năm gần nhất.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước được tác giả phân loại theo ba nhóm nội dung chính:

                  CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU
Hướng nghiên cứu        Hướng nghiên cứu        Hướng nghiên cứu
    lý luận                 thực tiễn               giải pháp
- Đề tài cấp Bộ (2004)  - Báo cáo số 158/BC-    - Đề tài cấp Bộ (2004,
- Đề tài cấp Bộ (2015)    BTP (2016, 8 năm)       2015), Đề án (2014)
- Đề án TS. Dương       - Báo cáo VIE/02/2015   - Bài viết: Hằng Vân
  Thanh Mai (2014)        (TS. Ngô Đức Mạnh)      (2013), Lê Quang Kiêm
- Sách chuyên khảo:     - Luận văn tại các        (2010), Đỗ Xuân Lân
  GS.TS Võ Khánh Vinh     địa phương (Bắc Ninh,   (2012)...
  (2011), PGS.TS Thái     Sóc Trăng, Gia Lai,   - Luận án TS. Nguyễn Văn
  Vĩnh Thắng (2010)...    Ninh Thuận...)          Tùng (2007), TS. Tạ Thị
- Luận án: Tạ Thị Minh  - Báo cáo khảo sát        Minh Lý (2008)...
  Lý (2008), Nguyễn       nước ngoài (Bộ Tư
  Văn Tùng (2007)...      pháp 1998-2015)

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu về lý luận TGPL:

    • Đề tài khoa học cấp Bộ (2004): "Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng pháp lệnh trợ giúp pháp lý" do Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý phối hợp với Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) thực hiện, tập trung làm rõ quan niệm, nhu cầu và tính tất yếu của việc ban hành văn bản pháp điển về TGPL.
    • Đề tài khoa học cấp Bộ (2015): "Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý" do Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý và Cục Trợ giúp pháp lý chủ trì, nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, bản chất, quyền được TGPL và trách nhiệm của Nhà nước theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
    • Đề án cấp Bộ (2014): "Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng xã hội hóa dịch vụ công" do TS. Dương Thanh Mai làm chủ nhiệm, đặt trọng tâm vào cơ sở lý luận chuyển đổi mô hình và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.
    • Các công trình chuyên khảo: Sách "Quyền con người" (GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, 2011); sách "Luật Quốc tế về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011); sách "Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại: Lý luận và thực tiễn" (PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, 2010); Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về TGPL của Bộ Tư pháp (2015).
    • Các bài báo khoa học và luận án tiến sĩ: Bài viết của Tạ Thị Minh Lý (2005, 2006, 2009), Phan Thị Thu Hà (2006), Lê Quang Kiêm (2010), Dương Quang Long (2009); Luận án tiến sĩ của Tạ Thị Minh Lý (2008), Nguyễn Văn Tùng (2007), Nguyễn Huỳnh Huyện (2012).
    • Tài liệu quốc tế: Báo cáo của Hội đồng dịch vụ TGPL Hồng Kông (2006), nghiên cứu của TS. Muralidhar (Ấn Độ), GS. Nghiêm Quốc Hưng (Trung Quốc), Dự thảo Luật mẫu về TGPL của UNODC và các đạo luật TGPL của Slovenia (2001), Phần Lan (2002), Hàn Quốc (2011), Hà Lan (1993), Indonesia (2011), bang Queensland - Úc (1997), Moldova (2007).
  2. Nghiên cứu về thực tiễn TGPL:

    • Báo cáo tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (Báo cáo số 158/BC-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Tư pháp) đánh giá toàn diện kết quả vụ việc, người thực hiện TGPL, kinh phí và công tác phối hợp.
    • Báo cáo tổng hợp "Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện" thuộc Dự án VIE/02/2015 do TS. Ngô Đức Mạnh chủ trì.
    • Các ấn phẩm và bài báo thực tiễn: Cuốn "10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng phát triển" (2008), "Cẩm nang tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý" (2009); bài viết của Đinh Thị Oanh (2008), Hoàng Văn Nghĩa (2009), Lê Nguyễn Kim Hoàng (2011), Đào Thị Anh Tuyết (2011), Trần Tiến Hải (2012).
    • Các luận văn thạc sĩ theo địa bàn: Nghiên cứu tại Bắc Ninh (Nguyễn Việt Khoa, 2016), Sóc Trăng (Hồ Minh Hải, 2014), Gia Lai (Nguyễn Thị Mộng Điệp, 2017), Ninh Thuận (Ngô Văn Phát, 2017), và nghiên cứu của Đặng Thị Loan (2009), Lê Thị Thúy (2012), Hoàng Thị Liên (2014), Phạm Quang Đại.
    • Báo cáo khảo sát thực tiễn nước ngoài: Khảo sát tại Philippines (1998), Lít-va (2004), Trung Quốc (2004), Ailen (2013), Hàn Quốc (2013), bang Victoria - Úc (2014), Mỹ (2014), Nhật Bản (2015), Argentina (2015), và Báo cáo của Tổ chức hỗ trợ trẻ em Thụy Điển (2002).
  3. Nghiên cứu về giải pháp và kiến nghị:

    • Đề xuất sửa đổi thể chế, xã hội hóa và nâng cao năng lực qua các công trình của Nguyễn Bích Ngọc (2012), Cù Thu Anh (2014), Hằng Vân (2013), Nguyễn Vinh (2010), Đỗ Xuân Lân (2012).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù số lượng công trình tương đối phong phú, phần lớn các nghiên cứu trước năm 2017 tập trung vào phục vụ việc xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 hoặc định hướng sửa đổi luật. Khía cạnh hoạt động TGPL chưa được đặt làm trọng tâm nghiên cứu độc lập và toàn diện. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về:

  • Chuẩn hóa khái niệm, nhận diện rõ các đặc điểm bản chất của hoạt động TGPL theo tinh thần bảo đảm quyền con người của Hiến pháp năm 2013.
  • Phân tích thực trạng hoạt động TGPL trong bối cảnh các nguồn tài trợ quốc tế bị cắt giảm và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 bắt đầu đi vào thực thi.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL có tính khả thi trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận khoa học sau:

  • Chủ nghĩa Mác – Lênin: Các quan điểm về quyền lực nhân dân, quyền con người, mối quan hệ giữa Nhà nước, cá nhân và xã hội trong các hình thái kinh tế - xã hội.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Quan điểm về dân chủ, nhân quyền, tính chất phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước, chính sách bảo đảm an sinh xã hội và đoàn kết toàn dân.
  • Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước: Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết về cải cách tư pháp.
  • Các học thuyết chính trị - pháp lý: Học thuyết Khế ước xã hội, Học thuyết Quyền con người và Học thuyết Nhà nước phúc lợi chung.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

Phương pháp Phạm vi áp dụng trong luận án Mục đích sử dụng
Phân tích và tổng hợp Sử dụng bao quát trong tất cả các chương Phát hiện, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về TGPL
Cấu trúc hệ thống Chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3 Nhận diện và đánh giá sự vận hành của các yếu tố cấu thành mô hình TGPL
Luật học so sánh Sử dụng ở Chương 2 và Chương 4 So sánh quy định pháp luật và mô hình TGPL của các quốc gia (Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Phần Lan, Slovenia, Úc...)
Thống kê Sử dụng ở Chương 1 và Chương 3 Tập hợp, đối chiếu tình hình nghiên cứu và số liệu thực trạng hoạt động TGPL
Xã hội học pháp luật Sử dụng ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 Đánh giá mối quan hệ giữa mô hình TGPL với nhu cầu tiếp cận công lý của xã hội
Lịch sử Sử dụng chủ yếu ở Chương 3 Theo dõi tiến trình phát triển của chính sách và pháp luật TGPL tại Việt Nam từ năm 1997
Dự báo khoa học Sử dụng chủ yếu ở Chương 4 Dự báo xu hướng vận động và định hình các giải pháp nâng cao hiệu quả

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ (Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, 2017; các nghị định hướng dẫn), văn bản pháp luật quốc tế, các báo cáo tổng kết chính thức của Bộ Tư pháp (Báo cáo số 158/BC-BTP năm 2016), tài liệu của Cục Trợ giúp pháp lý, kỷ yếu các hội thảo khoa học và số liệu khảo sát thực tế tại các địa phương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra về đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 mảng: lý luận, thực tiễn và giải pháp.

Về mặt lý luận, tác giả chỉ ra sự đồng thuận về tính tất yếu của dịch vụ TGPL công, nhưng nhấn mạnh vẫn còn bất đồng trong việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, làm rõ các đặc điểm riêng biệt và phân định ranh giới giữa dịch vụ TGPL của Nhà nước với hoạt động thiện nguyện (pro bono).

Về mặt thực tiễn, chương này phân tích các đánh giá về sự phát triển của hệ thống cơ quan TGPL từ trung ương (Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp) đến địa phương (Trung tâm TGPL trực thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố), đồng thời chỉ ra thực trạng khó khăn từ sau năm 2010 khi các dự án tài trợ quốc tế cắt giảm nguồn lực. Trên cơ sở đó, tác giả xác định giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi khoa học mà luận án cần giải quyết.

                         KHUNG NỘI DUNG CHƯƠNG 1
Tổng quan 3 nhóm           Đánh giá đồng thuận &         Xác định giả thuyết
   nghiên cứu                 khoảng trống                  nghiên cứu
- Lý luận TGPL             - Đã thống nhất: vai trò,     - Cần làm rõ đặc thù
- Thực tiễn thi hành         tính tất yếu, dịch vụ công    theo Hiến pháp 2013
- Giải pháp hoàn thiện     - Khoảng trống: định nghĩa,   - Xử lý thiếu hụt kinh
                             đặc thù, mô hình xã hội hóa   phí sau năm 2010

Chương 2: Những vấn đề lý luận về hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật

Chương 2 tập trung phân tích nguồn gốc, bản chất và cấu trúc lý luận của hoạt động TGPL.

  1. Nguồn gốc và bản chất: Thuật ngữ TGPL (Legal aid, Legal assistance) xuất hiện từ thời cận đại cùng với học thuyết Nhà nước pháp quyền, bắt nguồn từ quyền có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng (mặc dù mầm mống sơ khai đã có từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại). Khách thể của TGPL không phải là vật chất mà là "pháp luật" – sự hỗ trợ về mặt pháp lý nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật.

  2. So sánh TGPL và hoạt động trợ giúp thiện nguyện (pro bono):

Tiêu chí Hoạt động trợ giúp pháp lý (Legal Aid) Hoạt động trợ giúp thiện nguyện (Pro Bono)
Chủ thể bảo đảm kinh phí Nhà nước chịu trách nhiệm chi trả chính (từ ngân sách công) Người thực hiện tự nguyện, không nhận thù lao từ công quỹ hay thân chủ
Đối tượng thụ hưởng Giới hạn theo quy định pháp luật (người nghèo, đối tượng chính sách, người yếu thế) Không bị hạn chế cứng nhắc bởi luật định, tùy thuộc vào sự lựa chọn của người thực hiện
Cơ chế điều chỉnh Tuân thủ chặt chẽ Luật Trợ giúp pháp lý và quy trình công vụ Thực hiện theo đạo đức nghề nghiệp và thỏa thuận dân sự
  1. Bốn thuộc tính cơ bản của TGPL do luận án đúc kết:

    • Là sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các chủ thể (chủ yếu là Nhà nước) nhằm tạo khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người không thể tự thực hiện.
    • Tạo điều kiện cho đối tượng thụ hưởng nhận dịch vụ từ chuyên gia pháp luật mà không phải trả phí (hoặc trả mức phí thấp hơn giá trị dịch vụ).
    • Bù đắp những thiếu hụt do hoàn cảnh, địa vị xã hội hoặc năng lực pháp lý mang lại.
    • Xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng.
  2. Định nghĩa của luận án:

    "Trợ giúp pháp lý là việc nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức chuyên trách trợ giúp pháp lý của nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân để thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những đối tượng nhất định hoặc trong những trường hợp cần thiết nhằm bù đắp, hỗ trợ cho người thụ hưởng, giúp họ có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật."

  3. Ba đặc điểm của hoạt động TGPL:

    • Mang tính tổng hòa giữa các yếu tố chính trị, kinh tế và pháp lý: Phản ánh chính sách nhân đạo của Nhà nước (chính trị), cơ chế cung ứng dịch vụ miễn phí hoặc giảm phí qua ngân sách công (kinh tế), và gắn liền với chuyên môn nghề luật theo trình tự tố tụng (pháp lý).
    • Là loại hoạt động tương tác có tính đặc thù: Vận hành theo mối quan hệ cung - cầu hai chiều giữa người thực hiện và người thụ hưởng, trong đó người thực hiện giữ vai trò chủ động, tiên phong trong việc phát hiện và đáp ứng nhu cầu.
    • Là loại dịch vụ hành chính công thuộc trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể được xã hội hóa: Mang tính phục vụ, phi vụ lợi, gắn liền với quyền lực công nhưng có thể chuyển giao một phần cho các tổ chức xã hội, văn phòng luật sư thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước.

Chương này cũng phân tích sâu về chủ thể, đối tượng, hình thức (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng) và các nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động TGPL.

Chương 3: Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam

Chương 3 khảo sát thực tiễn lập pháp và triển khai thi hành hoạt động TGPL tại Việt Nam:

  • Thực trạng pháp luật: Phân tích bước chuyển thể chế từ Quyết định số 734/1997/TTg sang Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, và quá trình ban hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 nhằm khắc phục các bất cập về tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý, mở rộng diện người được TGPL và điều chỉnh các hình thức hoạt động.
  • Thực tiễn tổ chức và thực hiện: Đánh giá hoạt động của Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm TGPL nhà nước cấp tỉnh; phân tích cơ cấu số lượng vụ việc thực hiện qua các hình thức tư vấn, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng. Phản ánh khó khăn về tài chính khi nguồn kinh phí tài trợ dự án quốc tế sụt giảm từ năm 2010 làm thu hẹp các hoạt động lưu động và sinh hoạt câu lạc bộ.
  • Đánh giá chung:
    • Ưu điểm: Thể chế từng bước hoàn thiện; hệ thống tổ chức được phủ rộng; quyền của người nghèo và đối tượng chính sách được bảo đảm tốt hơn trong các vụ án hình sự và dân sự.
    • Hạn chế: Năng lực đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý chưa đồng đều; công tác phối hợp liên ngành với các cơ quan tiến hành tố tụng đôi lúc chưa thông suốt; mức độ xã hội hóa còn hạn chế; nhận thức pháp luật của người dân ở vùng sâu, vùng xa chưa cao.
    • Nguyên nhân: Phân tích nguyên nhân khách quan (điều kiện kinh tế, địa bàn phức tạp) và nguyên nhân chủ quan (chậm đổi mới phương thức quản lý, cơ chế tài chính chưa linh hoạt).

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 4 xây dựng định hướng và các nhóm giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL:

  1. Hệ thống quan điểm định hướng:

    • Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.
    • Phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và chuẩn mực quốc tế trong điều kiện hội nhập.
    • Kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm nòng cốt của Nhà nước với việc đẩy mạnh xã hội hóa.
  2. Các nhóm giải pháp cụ thể:

    • Nâng cao nhận thức xã hội: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền được TGPL cho người dân và các cơ quan tiến hành tố tụng.
    • Hoàn thiện thể chế: Triển khai đồng bộ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tố tụng, hành chính và giảm nghèo để tạo sự tương thích.
    • Đổi mới mô hình và phương thức tổ chức: Phân loại địa bàn (vùng thuận lợi và vùng khó khăn) để áp dụng mô hình cung ứng dịch vụ phù hợp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
    • Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực: Chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Trợ giúp viên pháp lý; bồi dưỡng kỹ năng tham gia tố tụng; thu hút luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư tham gia thực hiện TGPL.
    • Thúc đẩy xã hội hóa và đổi mới cơ chế tài chính: Khơi thông các nguồn lực xã hội đóng góp cho TGPL; xây dựng cơ chế chi trả linh hoạt từ ngân sách nhà nước đối với các vụ việc do tổ chức xã hội hoặc luật sư thực hiện.
    • Nâng cao hiệu quả phối hợp và phát hiện nhu cầu: Tăng cường liên thông giữa cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án và trung tâm TGPL để kịp thời cử người bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng đủ điều kiện ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý:

  • Về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa toàn diện các quan điểm nghiên cứu trong và ngoài nước về TGPL;
    • Xác lập định nghĩa khoa học về TGPL và hoạt động TGPL với 4 thuộc tính cốt lõi;
    • Phân tích và làm sáng tỏ 3 đặc điểm đặc thù của hoạt động TGPL (tính tổng hòa chính trị - kinh tế - pháp lý; tính tương tác hai chiều; tính chất dịch vụ hành chính công có thể xã hội hóa);
    • Phân định rõ ràng giữa quyền được TGPL và hoạt động TGPL, cũng như giữa TGPL nhà nước và dịch vụ thiện nguyện (pro bono).
  • Về mặt thực tiễn:
    • Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành TGPL tại Việt Nam qua các mốc phát triển thể chế (từ Quyết định số 734/1997/TTg, Luật năm 2006 đến Luật năm 2017);
    • Chỉ rõ các khó khăn thực tế về nguồn lực (đặc biệt là giai đoạn sau năm 2010 khi cắt giảm viện trợ dự án) và những bất cập trong công tác phối hợp tố tụng, chất lượng Trợ giúp viên pháp lý.
  • Về mặt giải pháp:
    • Đề xuất hệ thống quan điểm và 6 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm đổi mới mô hình tổ chức, phát triển nhân lực, đẩy mạnh xã hội hóa và hoàn thiện pháp luật TGPL tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động TGPL theo nghĩa hẹp do hệ thống cơ quan nhà nước tiến hành, chưa đi sâu phân tích toàn diện các mô hình TGPL ngoài nhà nước. Về phạm vi không gian, các dữ liệu khảo sát thực tế chuyên sâu tập trung chủ yếu tại một số địa phương thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động thực tế của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 trên diện rộng sau nhiều năm áp dụng thực tế tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế vận hành quỹ hỗ trợ TGPL độc lập và các mô hình hợp tác công - tư trong cung ứng dịch vụ pháp lý công.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và pháp luật tố tụng liên quan.
  • Cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện TGPL: Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm TGPL nhà nước cấp tỉnh có thể tham khảo các giải pháp về quản lý vụ việc, nâng cao chất lượng Trợ giúp viên pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Khoa học Quyền con người.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa hoạt động trợ giúp pháp lý như thế nào?

Theo luận án, TGPL là việc Nhà nước và xã hội, thông qua hoạt động của các tổ chức chuyên trách TGPL nhà nước cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân, thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng nhất định nhằm bù đắp, hỗ trợ người thụ hưởng tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa trợ giúp pháp lý và hoạt động thiện nguyện (pro bono) là gì?

Luận án phân định: Hoạt động TGPL (Legal aid) do Nhà nước giữ trách nhiệm bảo đảm tài chính chủ yếu từ ngân sách công, đối tượng thụ hưởng bị giới hạn theo luật định (người nghèo, đối tượng chính sách). Ngược lại, hoạt động thiện nguyện (pro bono) do luật sư tự nguyện thực hiện, không nhận bất kỳ thù lao nào từ công quỹ, và đối tượng tiếp nhận dịch vụ không bị ràng buộc bởi các tiêu chí luật định của Nhà nước.

3. Hoạt động trợ giúp pháp lý có những đặc điểm cơ bản nào theo phân tích của tác giả?

Luận án chỉ ra 3 đặc điểm cơ bản:

  1. Mang tính tổng hòa giữa các yếu tố chính trị, kinh tế và pháp lý.
  2. Là loại hoạt động tương tác có tính đặc thù (quan hệ hai chiều, trong đó người thực hiện giữ vai trò chủ động, tiên phong).
  3. Là một loại dịch vụ hành chính công thuộc trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể được xã hội hóa.

4. Vấn đề khó khăn lớn về tài chính đối với hoạt động TGPL tại địa phương từ sau năm 2010 được luận án chỉ ra là gì?

Luận án nêu rõ từ năm 2010, các nguồn kinh phí hỗ trợ từ các dự án quốc tế bị cắt giảm, dẫn đến hoạt động TGPL tại nhiều địa phương gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn lực, làm suy giảm các hình thức TGPL lưu động, sinh hoạt câu lạc bộ và các đợt tập huấn truyền thông pháp luật.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý?

Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp:

  • Nâng cao nhận thức xã hội và các cơ quan về TGPL;
  • Hoàn thiện thể chế và triển khai đồng bộ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cùng các văn bản liên quan;
  • Điều chỉnh mô hình tổ chức phù hợp với đặc thù từng vùng địa bàn;
  • Chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý;
  • Đẩy mạnh xã hội hóa và hoàn thiện cơ chế tài chính;
  • Tăng cường phối hợp liên ngành trong tố tụng và chủ động phát hiện nhu cầu TGPL từ cơ sở.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Việt Khoa đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc phân tích quá trình chuyển đổi thể chế và khảo sát thực tiễn thi hành, công trình đã xác lập các luận cứ khoa học vững chắc và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật, đổi mới quản lý dịch vụ công và bảo đảm quyền con người trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.