Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐIÊU CHỈNH PHÁP LUẬT VẺ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐCPL về TGPL là một phạm trù phức tạp, quan trọng của khoa học lý luận về Nhà nước và pháp luật, cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thốn: để bảo đảm điều chỉnh có hiệu quả các QHXH phát sinh trong TGPL. Việc hình thành TGPL ở Việt Nam là một quá trình ghi nhận nhu cầu cần thiết và khách quan của đời sống pháp luật, ghi nhận quyền được pháp luật bảo hộ của công dân và trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước. DCPL về TGPL là điều chỉnh bằng pháp luật các QHXH có tính chất TGPL, nhằm bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận, sử dụng pháp luật để góp phần bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp cho công dân không phân biệt giàu nghèo. Khái niệm điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý 1.
Khái niệm điều chỉnh pháp luật và khái niệm trợ giúp pháp lý Khái niệm điều chỉnh pháp luật: ĐCPL là một khải niệm cơ ban của khoa học ly luận về Nhà nước và pháp luật. Ban chất của DCPL, theo Lénin, thé hiện tính thống nhất của pháp luật với thực tiễn đời sống pháp luật. Việc nghiên cứu ĐCPL rất quan trọng bởi lẽ, tính thực tiễn của pháp luật là một trong những yếu tô cơ bản của thực hiện pháp luật XHCN và DCPL. Lênin đánh giá ý nghĩa thực tiễn của pháp luật XHCN chính là vai trò điều chỉnh các QHXH ở phạm vi mà các quy định pháp luật được viết ra thực sự tác động đến, vận hành và “trở thành thực tế”.
Người viết: những gi mà chúng ta đã từng phê phan, chúng ta còn chưa tin tưởng đầy đủ về cuộc sống, và nhiệm vụ quan trọng của tinh thế hiện tại chính là tập trung tất cả sức lực cho công việc thực hiện trong thực tế những gì đã được trở thành luật pháp (mà chưa trở thành hiện thực)Š " '3Ì DCPL có ý nghĩa to lớn đến sự phát triên QHXH của xã hội XHCN, và chính sự hình thành pháp luật là đòi hỏi của đổi mới sâu xa đời sống xã hội và cải thiện QHXH"TM: "%3! Vì vậy, nghiên cứu về ĐCPL rất có ý nghĩa về mặt phương pháp luận đối với việc tiếp cận các hiện tượng pháp lý từ góc độ hệ thống, tạo điều kiện “. nghiên cứu các hiện tượng pháp ly ở trang thái động tránh được cách nhìn xơ cứng, siêu hình.”É?- © %1, ĐCPL là một loại hình điều chỉnh xã hội rất phức tạp, hiện đã và dang được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ chức năng, ĐCPL là hệ thống các phương tiện pháp lý tác động đến các QHXH thông qua chủ the?" 4Ì, Từ góc độ tâm lý, ĐCPL là sự tác động đến ý chí của con người nhằm tao ra cách xử sự thích hợp (với QPPL) ở chủ thé! " 84-435! Từ góc độ quản lý, ĐCPL là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức và được thực hiện thông qua một hệ thống các phương tiện, quy trình pháp lý (thông qua cơ chế ĐCPL). Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “điều chỉnh pháp luật” là việc Nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật để điều chỉnh các QHXH, tác động theo những hướng nhất định vào các QHXH.
DCPL là hoạt động của Nhà nước thể hiện trong việc định ra luật, ban hành luật pháp dé đáp ứng nhu cầu mà pháp luật cần điều chinh!*? " 8! ĐCPL có đặc điểm là sự tác động trực tiếp bằng pháp luật của Nhà nước vào hành vi của con người trong các QHXH theo những định hướng nhất dinh'* " #% - 89%]. Bang các quy tắc xử sự được quy định thành pháp luật, Nhà nước hướng dẫn các hoạt động của mọi chủ thể (cá nhân, tập thể, CQNN) bảo đảm cho mọi hoạt động theo đúng ý chí của Nhà nước và uốn nắn những hoạt động sai trái cho đúng với đường lối, chính sách của đảng cầm quyền, pháp luật của Nhà nuéc!: tr. 154] ; Cũng có quan niệm cho rang “điều chỉnh pháp luật” là việc “Nha nước dựa vào pháp luật, sử dụng các phương tiện pháp ly đặc thù (QPPL, van bản áp dụng pháp luật, QHPL, hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để điều chỉnh các QHXH, tác động đến các QHXH theo phương hướng nhất định”ɰ "7! Với nghĩa này, ĐCPL gan liền với một cơ chế - cơ chế DCPL. Vì thế, DCPL có tính định hướng, tính tô chức và tính quy phạm, được thực hiện thông qua một hệ thống các phương tiện pháp ly cơ bản, đặc thù.
Dé thực hiện ĐCPL, Nhà nước phải xây dựng HTPL hoàn chỉnh bao gồm các ngành luật với các chế định pháp luật cụ thẻ, hợp lý và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trong đó xác định rõ đỗi tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, cơ chế điều chỉnh của pháp luật. Nổi cộm nhất hiện nay là mức độ điều chỉnh các QHXH của các văn bản luật và dưới luậtU!9? = 43] Vì vậy, quá trình ĐCPL chính là quá trình xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp và cơ chế DCPL nói chung và các ngành luật cụ thé nói riêng. Đào Trí Úc, ĐCPL “là việc Nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật dé điều chỉnh các QHXH, tác động theo những hướng nhất định vào các QHXH”!!!* 317] HCPL còn có nghĩa là “dùng pháp luật dé tác động vào ý thức dé con người thay đổi hành vi của mình, theo những mục đích nhất định của Nhà nước”U'* 3Ì Như vậy, ĐCPL như một hình thức tác động có mục đích của pháp luật vừa vào QHXH, vừa vào chủ thể của QHXH, “là quá trình tác động có tổ chức, mang tính quy phạm của Nhà nước đối với các QHXH thông qua hành vi của các chủ thể nhằm đạt được những mục đích nhất định”U# #' !3- 141, Qua tiếp cận ĐCPL dưới các góc độ khác nhau như trên, có thể rút ra kết luận: ĐCPL la quá trình tác động có hệ thống, có tổ chức, mang tính quy phạm doi với các QHXH cơ bản thông qua hành vi chủ thé nhằm điều tiết, định hướng cho các QHXH vận hành để duy trì, thúc day hoặc loại trừ, han chế sự phát triển theo một trật tự nhát định, phù hợp với ý chỉ của Nhà nước, với lợi ích và thực tiên xã hội. Khai niệm trợ giúp pháp lý: Khái niệm TGPL theo tiếng Anh là “legal aid” có nghĩa là “trợ cấp pháp lý” hoặc “legal aid” trong cụm từ “legal aid scheme” được dịch là “kế hoạch bảo hộ tư pháp” là kế hoạch nhằm trả những chỉ phí pháp lý từ công quỹ cho những ai không thé tự mình trả nổi“ " *°?!_ Như vậy, TGPL là việc cho những người không có điều kiện về tài chính hoặc có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng dịch vụ pháp lý mà không phải chi trả thù lao hoặc được giảm một phan thù lao.
Ở đây, khách thé trợ giúp không phải là “vật chất” như nha ở, tiền, gạo mà là “pháp luật”. Pháp luật càng đầy đủ, càng phức tạp và phạm vi điều chỉnh càng rộng thì khách thể TGPL càng cần được phát triển tương xứng. Với nghĩa đó, TGPL được tiếp cận dưới góc độ kinh tế, góc độ công lý và góc độ nhân đạo, lấy sự yếu thé, ban cùng hoặc bất bình dang cua nhom đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt (người nghèo, đối tượng dé bị tốn thương), lấy tính phức tạp của pháp luật làm căn cứ cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mình. Vì vậy, đối tượng được TGPL thường là người không có điều kiện về tài chính hoặc kém năng lực hiểu biết pháp luật, không thể tự mình bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp va chủ thé bảo đảm cho dịch vụ này trước hết và chủ yêu là Nhà nước.
Theo học giả Trung Quốc - GS. Nghiêm Quốc Hưng, trong TGPL, mặc dù Nhà nước lấy sự giúp đỡ về kinh tế (giảm, miễn phí) cho người được TGPL làm bản chất nhưng có mục đích lớn hơn, đó là bảo đảm quyền lợi hợp pháp mà pháp luật dành cho mọi công dân được thực hiện đầy đủ, hoàn thiện một chế độ pháp luật quốc gia “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Nó là biện pháp quan trọng dé NNPQ hiện nay thực hiện sự công bang tư pháp va đảm bảo quyền cơ bản của con ngườiÊ® " !Ì_ Quan niệm này dựa trên luận điểm Nhà nước muốn bảo đảm các quyền lợi mà pháp luật dành cho công dân được thực hiện một cách thiết thực trong đời sống thực tại thông qua chế độ miễn, giảm phí dịch vụ pháp lý hoặc miễn, giảm chi phí tố tụng với những 14 nhóm người cần sự giúp đỡ của pháp luật đề bảo vệ quyền lợi theo quy định của pháp luật hoặc của đương sự trong một số vụ án đặc biệt vì lý do công lý. Như vậy, TGPL là biện pháp pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm để pháp luật được tôn trọng trong thực tế và mọi người đều bình đăng trước pháp luật.
Có xây dựng được chế độ TGPL hoàn thiện, quy củ hay không, vừa là mốc quan trọng để đánh giá pháp chế có kiện toàn hay không; cơ chế đảm bảo quyền con người về tư pháp có hoàn thiện hay không, vừa là thước đo trọng yếu để xem xét trình độ tiễn bộ, văn minh xã hội" “ '!, Với cách tiếp cận này, TGPL được hiểu là quyền co bản của công dân, là một bộ phận trong tổng thé các biện pháp thực thi pháp luật, có thuộc tính chính trị - pháp lý, tính nhân dao và tính kinh tế - xã hội. Nghĩa là bất cứ công dân nào khi rơi vào những hoàn cảnh cần được giúp đỡ về pháp luật, nếu có nhu cầu thì được bảo đảm cung ứng từ phía Nhà nước và xã hội. Khái niệm TGPL được quy phạm hoá trong pháp luật, là một bộ phận cấu thành của ĐCPL về TGPL. Cách thể hiện có thể khác nhau nhưng nội dung tương đối đồng nhất.
Theo Luật đại diện và tư vấn pháp lý năm 1995 của Singapore, TGPL là việc đại diện cho khách hàng trước Toà án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chỉ trả cho các dịch vụ pháp lý (Điều 2). Luật về TGPL năm 1997 của Nepal quy định: “TGPL là giúp đỡ pháp lý cho người nghèo, được áp dụng trong tư vấn và các dịch vụ pháp lý khác như thực hiện thay cho người nghèo những việc bào chữa tương xứng và các thủ tục tại Toà án hoặc tại các Văn phòng luật” (Điều 2).