Chương 1 Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách 1. Khái niệm nội dung pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội 1. Khái niệm nội dung trợ giúp pháp lý Khái niệm nội dung trợ giúp pháp lý là vấn đề rất quan trọng trong thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý. Chính vì vậy, từ khái niệm nội dung trợ giúp pháp lý cho ta cơ sở để nghiên cứu những vấn đề về lý luận cũng như về thực tiễn thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý.
Khái niệm trợ giúp pháp lý, diễn đạt và vận dụng vào từng lĩnh vực khác nhau, có cách giải thích khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [57, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật " [57, tr. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì "trợ giúp " là giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [35, tr.1923], còn về "pháp lý" là "nguyên lý của pháp luật" [35, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như ý, Nxb Văn hoá - Thông tin, 1999, thì "trợ giúp" hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý " được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận [58]; theo Từ điển luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, thì pháp lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [53, tr.
Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là hỗ trợ cũng có thể được hiểu là "trợ giúp". ở đây trợ giúp được hiểu là sự 12 giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là "pháp lý". Nghiên cứu một số nước trên thế giới về khái niệm trợ giúp pháp lý như: Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Trung Quốc. xét thấy, các nhà khoa học pháp lý đều lấy lí luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá trợ giúp pháp lý là một đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo quy định của pháp luật.
Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái niệm trợ giúp pháp lý, nhưng các khái niệm này đều thể hiện rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo. Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh khó khăn khi tiếp cận với pháp luật và dịch vụ pháp lý thu phí của Luật sư; về pháp lý giúp đỡ công dân giải quyết các vụ liên quan đến pháp luật đụng chạm đến quyền, lợi ích thiết thực của họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp luật; về xã hội hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là luôn có sự tham gia đông đảo của các lực luợng trong xã hội trong việc phổ biến pháp luật, tạo điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp luật; về nhân đạo trợ giúp pháp lý đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trong trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo đó thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách báo và tạp chí.
Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên cơ sở tham khảo khái niệm "trợ giúp pháp lý" của một số nước trên thế giới và các quan niệm về "trợ giúp 13 pháp lý" ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm về "trợ giúp pháp lý". Theo đó khái niệm "trợ giúp pháp lý" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định. Bằng các hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp với điều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Tại điều 3 - Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Từ phân tích trên, xác định nội dung trợ giúp pháp lý bao gồm: 14 Thứ nhất, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý của Trung trâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật và cá nhân.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí, tức là không thu tiền với các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp lý; làm văn bản như làm đơn khiếu nại, tố cáo, các văn bản p háp lý khác cho đối tượng được trợ giúp pháp lý; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháp lý. Thứ ba, đối tượng được trợ giúp pháp lý là người nghèo và đối tượng chính sách xã hội. Khái niệm người nghèo và đối tượng chính sách xã hội - Người nghèo trong xã hội là một hiện t ượng xã hội: Có hai loại nghèo, nghèo về vật chất và nghèo về tinh thần (về tri thức), nghèo thường thiếu ăn, thiếu các điều kiện vật chất phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Cho nên các mục tiêu ăn, ở, mặc, đi lại, học hành là không được bảo đảm.
Nghèo về tinh thần, nó hạn chế về nhận thức, hạn chế về thông tin. Trong điều kiện đổi mới ở nước ta, đặc biệt là vận dụng cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến việc phân hoá giàu nghèo. Nguyên nhân dẫn đến nghèo thì có những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến nghèo. Về nguyên nhân khách quan: Do môi trường kinh tế, môi trường xã hội, môi trường địa lý; thất nghiệp dẫn đến nghèo là vấn đề tất yếu trong xã hội.
Về nguyên nhân chủ quan: Do năng lực tự thân, nhận thức, kiến thức, kỹ năng lao động của con người hạn chế. Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bản chất của Nhà nước ta là nhằm vào con người, xây dựng con người phát triển toàn diện và đó cũng là động lực để phát triển xã hội; mục tiêu cơ bản là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, Đảng và Nhà nước ta có chính sách giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Trong điều kiện quốc tế, vấn đề xoá đói 15 giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu.
Người nghèo ở nước ta được xác định theo các tiêu chí như: mức thu nhập, điều kiện sinh hoạt. Mục đích chính sách của Nhà nước là trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách miễn phí nhằm giúp cho các đối tượng trên tham gia các quan hệ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân như mọi người khác. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho họ, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của mọi người, bảo đảm trật tự pháp luật. - Đối tượng chính sách xã hội: chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta đối với người nghèo nêu ở trên, mà còn đối với những người cô đơn, không nơi nương tựa.
Đây là những người không có điều kiện, họ gặp khó khăn nếu không có sự trợ giúp thì họ không tiếp cận với pháp luật được, không hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia các hoạt động pháp luật. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì: "Đối tượng" là sự việc nhằm vào để nghiên cứu hoặc hoạt động [35, tr.665], còn "chính sách" thì: Chính: việc nước, sách: kế hoạch, tức là đường lối, chủ trương của một Chính phủ hay một chính Đảng [35, tr. Như vậy, đối tượng chính sách chúng ta có thể hiểu là: Một bộ phận dân cư gặp khó khăn nhất định, được Nhà nước trợ giúp bằng một hoặc một số chủ trương, chính sách cụ thể, để họ giảm bớt khó khăn, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Còn người nghèo là người thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo, do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn.