Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đƣợc qui định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 5 bản Hiến pháp đƣợc ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đƣa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án.
Mọi cá nhân, tổ chức không đƣợc can thiệp vào các hoạt động xét xử của Tòa án. Ở Việt Nam, tổ chức bộ máy Nhà nƣớc hiện nay theo nguyên tắc quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Tòa án là cơ quan thực hiện hoạt động tƣ pháp - hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công lý thì Tòa án phải xét xử nhƣ một ngƣời đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì Tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lý. Mặt khác, nguyên tắc này hình thành còn xuất phát từ chế độ dân chủ nhân dân ở nƣớc ta.
Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham gia đã đƣợc hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tƣ tƣởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Pháp luật giao trọng trách cho Hội thẩm nhân dân thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ƣớc, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giúp cho việc xét xử của Tòa án đƣợc rõ ràng, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng đƣợc nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đƣa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án.
Mọi cá nhân, tổ chức không đƣợc can thiệp vào các hoạt động xét xử của Tòa án. Theo từ điển Tiếng Việt, “nguyên tắc” với nghĩa chung nhất đƣợc hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”[56]. Nhƣ vậy, nguyên tắc là điều không thể thiếu trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con ngƣời, đảm bảo cho những hoạt động đó đi đúng hƣớng và đạt hiệu quả cao. Hiện nay đang có những quan niệm khác nhau về nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS, nhƣ định nghĩa, tiêu chí, cách phân loại cũng nhƣ xác định giá trị các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Tuy nhiên quan niệm chung nguyên tắc của TTHS là “những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS hoặc đối với một loại hoạt động nhất định”[57]; “là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS” [43]; hoặc đó là “những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động TTHS và được các văn bản pháp luật TTHS ghi nhận” [43]. Tuy nhiên, những quan niệm trên đây đều nhấn mạnh tính chỉ đạo của các nguyên tắc mà chƣa nhấn mạnh một tính chất khác của nguyên tắc – đó là tính đòi hỏi khách quan là yêu cầu khách quan đảm bảo cho hoạt động TTHS đạt đƣợc mục đích, đƣợc phản ánh trong pháp luật, trở thành những bảo đảm pháp lý. Nếu không nhấn mạnh tính đòi hỏi khách quan này của nguyên tắc thì việc xây dựng pháp luật TTHS không thể đảm bảo tính khoa học và những đổi mới sẽ ít nhiều dễ bị tùy tiện, chủ quan, duy ý chí. Các quan điểm đƣợc thừa nhận rộng rãi cho rằng nguyên tắc cơ bản của luật TTHS bao gồm: Thứ nhất, đây là những quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS; Thứ hai, nguyên tắc TTHS đƣợc phản ánh trên ba lĩnh vực: trong luật thực định, trong việc giải thích, trong thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật TTHS trừu tƣợng; Thứ ba, các nguyên tắc này luôn đƣợc các nhà làm luật ghi nhận trong các quy phạm pháp luật [5].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội đã đƣa ra các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản của luật TTHS. Thứ nhất, các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những tƣ tƣởng, định hƣớng của hoạt động TTHS; Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc chi phối một số giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự; Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS đƣợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc nhƣ Hiến pháp, Bộ luật TTHS…; Thứ tư, các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS phản ảnh những nguyên lý cơ bản nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; Thứ năm, luật TTHS có các nhóm nguyên tắc cơ bản sau: các nguyên tắc đảm bảo pháp chế XHCN trong hoạt động TTHS; các nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động TTHS; các nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trên cơ sở các đặc trƣng này, giáo trình đã đƣa ra định nghĩa về các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS: “Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng luật tố tụng hình sự”[13]. Trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án hình sự những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS cần đƣợc quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh mà đặc trƣng nhất đó là nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS nói chung và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” nói riêng thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta là đảm bảo mọi tội phạm đều đƣợc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan ngƣời vô tội. Theo tinh thần và nội dung của chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 của Đảng ta, cần phải có sự nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của Toà án trong bộ máy Nhà nƣớc và những nguyên tắc hoạt động cơ bản của Toà án, trong đó có nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Để làm rõ nội dung nguyên tắc này trƣớc những yêu cầu của cải cách tƣ pháp, trƣớc hết cần xuất phát từ vị trí xã hội và những giá trị xã hội của Toà án - với tƣ cách là cơ quan đƣợc Nhà nƣớc trao quyền, nhân danh Nhà nƣớc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện quyền tƣ pháp. Có thể thấy, sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với độc lập tƣ pháp cần đảm bảo triệt để các yếu tố: thứ nhất, Tòa án phải đƣợc trao thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề mang tính chất tƣ pháp; thứ hai, Tòa án phải là cơ quan duy nhất có quyền quyết định trong việc xác định vụ việc đang yêu cầu giải quyết có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không, dựa trên các quy định pháp luật về TTHS; thứ ba, quyết định cuối cùng Tòa án đƣa ra không phải chịu bất kì sự chi phối hoặc áp đặt về mặt ý chí của bất kỳ cơ quan quyền lực nào [8].
Là cơ quan trong hệ thống tƣ pháp, Tòa án có những đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ thống này, đó là: - Tòa án, ngƣời đại diện của quyền lực tƣ pháp khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế - xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề rất cụ thể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội. Vì vậy, cách thức tổ chức và hoạt động khác với cơ quan lập pháp và hành pháp. Nói cách khác, so với hai cơ quan nói trên, Tòa án "thụ động" hơn, phải "chờ" có việc thì mới xét xử. Toà án chủ yếu đóng vai trò là một bộ máy “quyền lực” chứ không sản sinh ra “công lực” mới, nó thực hiện việc áp dụng pháp luật, đƣa việc thực hiện quyền lực tƣ pháp vào cuộc sống.
Bởi vì thông qua quyền lực tƣ pháp mà pháp luật tác động đến những quan hệ xã hội. Đây không phải là phƣơng tiện duy nhất nhƣng là phƣơng tiện chủ yếu trong việc giải quyết các trƣờng hợp xung đột giữa các quan hệ pháp luật. - Những ngƣời làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ pháp lý rất cao, đủ khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp nhƣ xác định tội phạm, ngƣời phạm tội và áp dụng hình phạt, phán quyết các tranh chấp, các sự kiện liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. - Lao động xét xử là lao động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi hỏi tƣ duy ở trình độ cao của ngƣời Thẩm phán.
Họ phải tiếp cận với một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, kể cả pháp luật của các quốc gia khác khi có liên quan và cả pháp luật quốc tế. - Lao động xét xử luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của pháp luật tố tụng về chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết định. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Việc xét xử phải tuân theo các nguyên tắc Hiến định cũng nhƣ nguyên tắc tố tụng.