Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm thực thi nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC MINH BẠCH TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về quản trị công ty và các nguyên tắc quản trị công ty 1. Khái niệm quản trị công ty Có nhiều định nghĩa, giải thích về quản trị công ty, song định nghĩa được coi là phổ biến nhất được Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development - OECD) đưa ra, đó là: Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan [36]; [12]. OECD cũng chỉ ra mục tiêu của quản trị công ty là: Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty.
Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn [36]; [12]. Dựa theo định nghĩa trên, Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank -WB) đã chỉ ra các nội dung chính của quản trị công ty là: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình: Chẳng hạn, mối quan hệ giữa các cổ đông và Ban Giám đốc bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho Công ty, cụ thể là Ban Giám đốc để kinh doanh và muốn quan sát, nắm bắt các thông tin về hoạt động kinh doanh cùng với những mong chờ kết quả tích cực kinh doanh tích cực… Những mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột: Sự khác biệt về lợi ích có thể tồn tại ngay giữa các bộ phận quản trị chính của công ty, tức là giữa Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, và/hoặc Tổng giám đốc (hoặc các bộ phận điều hành khác)… Tất cả các bên đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát công ty: Đại hội đồng cổ đông, đại diện cho các cổ đông, đưa ra các quyết định quan trọng, ví dụ về việc phân chia lãi lỗ. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát chung, đề ra chiến lược và giám sát Ban giám đốc. Cuối cùng, Ban giám đốc điều hành những hoạt động hàng ngày, chẳng hạn như thực hiện chiến lược đã đề ra, lên các kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng chiến lược marketing, bán hàng và quản lý tài sản… Tất cả những điều này đều nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông.
Chẳng hạn như làm thế nào để các cổ đông nhỏ lẻ bên ngoài có thể ngăn chặn việc một cổ đông kiểm soát nào đó tư lợi thông qua các giao dịch với các bên liên quan, giao dịch ngầm hay các thủ đoạn tương tự [36]; [12]. Từ góc độ quan sát bên ngoài, quản trị công ty tập trung vào những mối quan hệ giữa công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Các bên có quyền lợi liên quan là những cá nhân hay tổ chức có các quyền lợi trong công ty; các quyền lợi ấy có thể xuất phát từ những quy định của luật pháp, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của hợp đồng, hay xuất phát từ các mối quan hệ xã hội hay địa lý. Các bên có quyền lợi liên quan không chỉ có các nhà đầu tư mà còn bao gồm các nhân viên, các chủ nợ, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan chức năng của nhà nước và các cộng đồng địa phương nơi công ty hoạt động [36]; [12, tr.
Có thể thấy quản trị công ty không chỉ hướng tới sự cân bằng trong tổ chức và hoạt động để công ty kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững mà còn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cổ đông/ chủ sở hữu công ty, duy trì một thị trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích của tất cả những người có liên quan. Chính vì vậy, quản trị công ty cần tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc đề ra nhằm bảo đảm cho công ty hoạt động hợp pháp, nhất quán và hiệu quả. Các nguyên tắc của quản trị công ty Từ bản chất và nội dung phức tạp của quản trị công ty, qua đúc kết kinh nghiệm quản trị công ty từ các nước tiên tiến trên thế giới, tổ chức OECD đã đưa ra sáu nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty như sau: Thứ nhất: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả. Khuôn khổ quản trị công ty cần được phát triển dựa trên quan điểm về tác động đối với hiệu quả kinh tế nói chung, tính toàn vẹn của thị trường và các cơ chế khuyến khích mà khuôn khổ này tạo ra cho các bên tham gia thị trường, và thúc đẩy thị trường minh bạch và hiệu quả.
Khuôn khổ quản trị công ty bao gồm khuôn khổ bắt buộc do pháp luật quy định bao gồm các bộ luật, đạo luật, các chế định pháp luật có chứa đựng những quy định liên quan đến quản trị công ty và khuôn khổ nội bộ do chính công ty tự vạch ra bao gồm điều lệ và các bản quy chế nội bộ trong các lĩnh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực như quy chế tài chính, kỷ luật lao động, quy định giám sát nội bộ, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử… Các quy định pháp lý và quản lý tác động tới thông lệ quản trị công ty cần phù hợp với quy định của pháp luật, minh bạch và có khả năng cưỡng chế thực thi. Việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý khác nhau phải được quy định rõ ràng và đảm bảo phục vụ lợi ích của công chúng. Các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi phải liêm chính, có đủ thẩm quyền và nguồn lực để hoàn thành chức năng của mình một cách chuyên nghiệp và khách quan. Hơn nữa, các quyết định của những cơ quan này phải kịp thời, minh bạch và được giải thích đầy đủ.
Thứ hai: Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản. Quản trị công ty phải bảo đảm chức năng quan trọng nhất là quyền hợp pháp của các chủ sở hữu công ty / các cổ đông, mà theo OECD bao gồm các nhóm quyền sau: 1) Đảm bảo các phương thức đăng ký quyền sở hữu; 2) Chuyển nhượng cổ phần; 3) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường xuyên; 4) Tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông; 5) Bầu và bãi miễn các thành viên Hội đồng quản trị; 6) Hưởng lợi nhuận của công ty. Đặc biệt, cổ đông phải có quyền tham gia và được cung cấp đầy đủ thông tin về các quyết định liên quan tới những thay đổi cơ bản của công ty, ví dụ: 1) Sửa đổi các quy định hay điều lệ của công ty hay các văn bản quản trị tương đương của công ty; 2) Cho phép phát hành thêm cổ phiếu; 3) Các giao dịch bất thường, bao gồm việc chuyển nhượng tất cả hay một phần lớn tài sản của công ty, dẫn đến việc bán công ty. Để thực hiện các quyền này, khung khổ hoạt động của công ty phải tạo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra cơ chế cho cổ đông tham gia hiệu quả hoạt động quản trị công ty như biểu quyết tại đại hội, được thông tin đủ về tình hình công ty.
Thứ ba: Đối xử bình đẳng với cổ đông. Mọi cổ phiếu cùng loại và cùng một đợt phát hành đều có quyền như nhau. Nhà đầu tư trước khi mua cần được cung cấp thông tin đầy đủ về các quyền gắn liền với tất cả các đợt phát hành và loại cổ phiếu. Bất cứ thay đổi nào về quyền biểu quyết phải được sự thông qua của các cổ đông sở hữu loại cổ phiếu bị ảnh hưởng bất lợi bởi sự thay đổi đó.
Cổ đông thiểu số phải được bảo vệ khỏi các hành động lạm dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hoặc vì lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và họ cần có các phương tiện khiếu nại hiệu quả. Các tổ chức lưu ký hoặc được chỉ định đại diện cho cổ đông phải biểu quyết theo cách đã thỏa thuận với cổ đông mà họ đại diện. Những trở ngại đối với biểu quyết từ nước ngoài cần được loại bỏ. Hoạt động biểu quyết của cổ đông trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông có thể thực hiện trực tuyến từ bất kỳ nơi nào trên thế giới nhằm thực hiện quyền của cổ đông.
Thứ tư: tính minh bạch và Công khai thông tin. Đây là nguyên tắc trung tâm trong số các nguyên tắc quản trị công ty. Minh bạch luôn đi liền với công bố thông tin. Công bố thông tin phải bao gồm, nhưng không hạn chế các nội dung quan trọng liên quan đến tình hình hoạt động tài chính, hoạt động kinh doanh và các vấn đề quản trị công ty bao gồm: - Các giao dịch với các bên liên quan.
- Các yếu tố rủi ro có thể tiên liệu. - Các vấn đề liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác. - Cơ cấu và chính sách quản trị, cụ thể là nội dung của bất kỳ quy tắc hoặc chính sách quản trị nào và quy trình thực hiện nó. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.