Chương 1. Một số van đề lý luân về nguyên tắc hôn nhân một vợ mét chẳng theo Luật Hôn nhân và gia định Chương 2. Nguyên tắc hôn nhân một vo một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Chương 3. Thực tién tực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chông và một số giải pháp NOI DUNG CHU ONG 1: MOT SÓ VAN DE LY LUẬN VỀ NGUYÊN TAC HON NHÂN MOT VO MOT CHONG 1.
Khaiquat chung về nguyên tắc hôn nhân mộtvợ một chồng 1. Khái niém hôn nhân Trước hệt, hôn nhân là hiện tượng xã hội — là sự liên kết giữa đàn ông và dan bà. Sự liên kết này là hành vi mang tính tự nhiên thé hiện bản năng sinh tôn và phát triển của cơn người trong moi xã hội. Mỗi con người trong xã hội luôn đai điện cho một giai cấp nào đó.
Vì vậy, trong xã hội có giai cấp, quan điểm về hôn nhân mang tinh chất giai cap. Mặt khác, quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội được xác định bởi các quan hệ sản xuất luận đang thong trị. Vi thé tính chất hôn nhân có thé thay đổi, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế đang thông tri trong xã hội. Rõ ràng hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính chất giai cap.
Ở xã hội nao thì có hình thái hôn nhân đó, và tương ứng với nó là chế đô hôn nhân nhật định Vi dụ: ở xã hội phong kiên có hôn nhân phong kiến, ở xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, ở xã hội XHCN có hôn nhân XHCN. Vì hôn nhân là một biện tương xã hội, chiu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán. nên có rất nhiêu quan điểm khác nhau về khái niém hôn nhân, chẳng han: Ở các nước theo hệ thông pháp luật Anh- Mỹ (Common Law), phổ biên một khái niệm về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đưa ra trong phan quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866): “Hồn nhân là sự liên kết tự nguyên suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn ba mà không vì mục dich nào khác”. N goai khát niệm trên, hiện nay, mét số luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan niệm “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chông”, hoặc “Hồn nhân là hành vi hoặc tình trang chung sống giữa một người năm và một người nit với tư cách là vợ chẳng" + Ở Việt Nam hiện nay, quan niêm về hôn nhân gắn liên với pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì “ổn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau ki kết hôn”. Khái niém hôn nhân cũng được một số nhà nghiên cứu đưa re định ngiĩa “Hôn nhân là sự hợp nhất được công nhận về mặt văn hod giữa những người được coi là vợ chồng Hồn nhân tạo ra quyên loi và nghiia vụ giữa họ với nhan cũng như giữa họ với con cái, với những thành viên trong gia đình của hai bên” ? ` Nguyễn Hồng Hải 2007, Một vài ý kiến v hát niềm và be chấtpháp lí ca hồn nhân, đăng tràn website i, inphaphuatdansu vrordpress. "Do Thị Bich Ngọc (2015), Neen tae hon nhiền một vo một chẳng và thực tiển thuec hiện, Luận vin Thạc sĩ inithoc , Ha Nội, TY. Khái niệm về hôn nhân mặc đủ còn thé hiện những quan điểm khác nhau những các nha làm luật khi đưa re khái niém đều xuất phát từ vị trí hôn nhân là một thiết chế xã hội.
Như vay, có thé hiểu hồn nhân là sự liên kết giữa vo và chồng trên cơ sở kết hôn; tức là trên cơ sở nam nit xác lập quan hệ vợ chồng với nhan theo quy định của pháp luật về đều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn. Khái niệm nguyên tắc hôn nhân mét vợ một chồng Củng với sự phát triển của xã hội, các hình thái gia đính cũng phát triển từ thap đến cao. Trong đó, chế độ hôn nhân một vợ một chẳng được coi là hình thái gia đính tiên bộ. Ở thời ky nguyên thuỷ, đây là giai đoạn đầu của loài người.
Chê đô hôn nhân ở thời ky này đang 1a chế độ quân hôn, đây là kiểu gia đính huyết tộc, anh, chi, em đông thời là vợ chông của nhau (cam cha, mẹ với con cái). Sau đó, gia đính cao hơn chê độ quân hôn là hình thái hôn nhân gia dinh Pu-ne-lu-an Trong gia đính này, những đứa con sinh ra chỉ biết me ma không biết cha vi tên tại nhiéu quan hệ vợ chẳng Dan dan, ý thức xã hội của cơn người về hôn nhân phát triển hon và từ đó bình thanh một bình thái hôn nhân mới gọi là gia đình đối ngau. Gia đính đối ngau đã đưa đến việc xác đính người cha của đứa trẻ. Đước phát triển tiép theo là sự xuat hién của hôn nhân một vợ, mét chong.
Angghen đã chi rõ, bước chuyển từ hôn nhân đối ngẫu sang hôn nhân môt vo một chong khớp với giai đoạn ma mức phân hoá lao đông cao nhất. Ph Angghen đã kết luận rang, chế đô một vo một chẳng trong thời kì đầu khi nó xuất hiện trong lich sử “quyết không phải là kết quả tình yên giữa trai và gái, nó tryệt nhiên không đinh đảng gi với thứ tình yêu này cả, vì như trước Ia các cuộc hỗn nhân vấn là những cuộc hôn nhdn có tinh toán loi hại”3 Quan hệ hôn nhân mét vợ mét chénglúc nay moi chỉ đặt ra với người vợ ma không đặt ra với người chông người chông bat đầu ở vị trí thông trị vì thé quan hệ hôn nhén một vợ một chong lúc này mang tinh giả tao và hình thức. Trong xã hôi phong kiên, ché độ hôn nhan được xây dụng trên cơ sở chế độ chiếm. hitu tư nhân về ruông dat, đời sóng vật chất và tinh than của xã hội còn ở mức độ thập Chế đô hôn nhân phong kiên bảo vệ một cách tuyệt đối quyên của người dan ông ma một trong những nội dung đó là thừa nhận và bảo vệ quyên da thê.
Trong xu thé phát triển, đến thời ky tư bản chủ nglữa, mac dù vantiép tục duy trì chê đô tư hữu, bóc lột, Nhà nước tư sản đã quy định chế độ hôn nhân mét vợ một chong trên nên tăng pháp luật, bai bỏ chê độ đa thê, quyên bình dang giữa nam và nữ, giữa vợ và chong đã được công nhân. Điêu này thé hiện được sự tiên bộ của xã hội tư “Ph Xngghen (999), Nevin sốc của gia đônh cña chế đồ ne hin và của Nhà mước, C. Angghen, Toàn tip, tap 21, Ngõ. Chinh trị quốc gia Hà Nội.
bản Tuy nhiên, trong thực tế van tên tại sự dung túng, bat tay cho những tệ nạn như mai đâm, ngoại tình một cách công khai. Như vay, hôn nhân một vợ mat chong ở thời ky nay vẫn chưa mang đúng bản chất của minh Dén chê dé xã hội chủ ngiữa, với việc bién những tư liệu sản xuất thành tai sản của xã hôi, Nhà nước XHCN đang dân tạo ra được những cơ sở kính tê cho sự ôn dinh của chế độ hônnhân mét vợ một chong Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lénin, chế đô mét vợ một chông XHCN khác với chế độ một vợ một chẳng cổ điển Nếu nguồn gốc của ché đô một vợ mat chồng là do điều kiện vệ kinh tê (ché đô tư hữu) và mục dich của nó 1a dé đảm bảo con cái do người vơ để ra phải là con của chính người chồng dé thừa kê tai sản mà thực chất là duy trì chế đô tư hữu bóc lột, thì chế độ một vợ một chẳng XHCN laytình yêu chân chính giữa nam va nữ là cơ sở và với muc đích xây dung gia đính hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận Trong những điều kiện tiến bộ của xã hôi,, hôn nhân mét vơ một chồng tên tại vững chắc trên cơ sở tinh yêu giữa nam va nữ. “Ti bản chất cha tình yêu là không thé chia sẽ được, cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam nữ: do ngay bản chất của né là hôn nhân một vợ một chồng ”.* Lúc nay hôn nhén mét vợ một chong mới đúng với bản chất và tên gọi. Vi trí của người phu nữ trong xã hội được tôn trong, ho có những quyền ngang với nam giới.
Cuộc cach mang XHCN đã góp phân xóa bỏ tat cả những hình thức tư hữu về tư liệu sản xuất, ké cả những quan hệ do chế độ tư hữu đó anh ra. Khi đó quan hệ hôn nhân moi được xây dung và hình thành trên tình yêu của nam và nữ, ché độ hôn nhân một vợ mét chẳng không chỉ được thực hiện đối với ngudi vợ ma cả với người. Như vậy, chủ nglĩa Mác - Lénin đã dự báo được surra đời, phát triển của gia định một vo một chông la một bước tiền trong tương lai. Tuy nhiên, chê độ một vợ một chẳng chi có thé phát triển trọn ven khi được xây dựng trong gia đính KHCN, phù hợp với tiễn trình của lịch sử.
Theo từ dién Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điểu cơ bản đã định ra nhất thiét phải tuân theo trong một loạt việc làm". Nguyên tắc là sản phẩm của quá trình nhận thức thé giới khách quan, được đúc rút lai thành những nguyên lý, phân ánh những quy luật khách quan và duce coi 1a cái chuẩn đính hướng cho một quá trinh hoạt động, Trong khoa học pháp lý cũng vậy, bất cứ một hệ thông pháp luật nào cũng được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhật dinh Pháp luật là công cụ của Nhà nước, được ding để đều chỉnh những quan hệ xã hôi, hong chúng di theo mot trật tự + Bh. Angghen (1995), Nguồn sốc của gia đình, của chế độ ne lu và của Nhà nước,C. Angghen, Toàn tập ,tập 21, Nxb.
Chính trị quốc gia Hà Nội. có lợi nhat cho Nhà nước và cho xã hội. Trong hệ thong phép luật, những tư tưởng chi dao đó quán xuyên, xuyên suốt quá trình lập pháp cũng như quá trình thi hành va áp dung pháp luật. Để có một sự thông nhất trong quá trình lập pháp, thi hành và áp dung, cân phả: có những nguyên lý chung chỉ dao mang tinh bắt buộc.
Những nguyên lý chi dao này được goi là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thông pháp luật V iệt Nam, Luật HN&GĐ có những nguyên tắc cơ bản riêng.