Giới thiệu dự án

Chế định hôn nhân một vợ một chồng là nền tảng cốt lõi trong hệ thống pháp luật dân sự và gia đình của Việt Nam, được hiến định tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa xuyên suốt Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014. Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quan hệ nhân thân và tài sản gia đình ngày càng trở nên phức tạp. Theo số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân Tối cao, mỗi năm cả nước tiếp nhận và giải quyết hơn 60.000 vụ án ly hôn, trong đó trên 70% bắt nguồn từ các mâu thuẫn liên quan đến việc vi phạm nghĩa vụ chung thủy, ngoại tình hoặc phát sinh quan hệ sống chung ngoài hôn nhân.

Thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay đang bộc lộ những khoảng trống quy phạm và vướng mắc nghiêm trọng:

  • Hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy diễn ra đa dạng (từ ngoại tình lén lút, quan hệ tình cảm ngắn hạn đến công khai sống chung) nhưng thiếu chế tài định lượng rõ ràng.
  • Khái niệm "chung sống như vợ chồng" tại Khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 còn mang tính định tính cao, tạo rào cản lớn trong việc xác minh và xử lý theo Điều 182 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
  • Pháp luật chưa có quy định trực tiếp điều chỉnh và chế tài đối với hành vi người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng lại chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính.

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng pháp lý hiện đại về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
  2. Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định trong Luật HN&GĐ năm 2014, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị định 82/2020/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
  3. Đánh giá thực tiễn xét xử, hủy kết hôn trái pháp luật và áp dụng Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế.
  4. Đề xuất mô hình giải pháp chuẩn hóa pháp lý và quy trình tư pháp nhằm nâng cao hiệu lực thực thi nguyên tắc một vợ một chồng trong đời sống xã hội.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định Việt Nam điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình không có yếu tố nước ngoài từ năm 2014 đến nay, lấy trọng tâm là các xung đột pháp lý về đăng ký kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật và bảo vệ chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.


Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Hệ thống điều chỉnh pháp luật đối với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn hoàn thiện: Luật HN&GĐ năm 1959, 1986, 2000 và 2014. Tuy nhiên, giữa quy định pháp luật và thực tiễn xét xử vẫn tồn tại những độ trễ đáng kể.

Khía cạnh pháp lý Luật HN&GĐ năm 2000 Luật HN&GĐ năm 2014 Thông tư liên tịch số 01/2016 & Nghị định 82/2020/NĐ-CP
Căn cứ xác lập một vợ một chồng Điều 4: Cấm người đang có vợ/chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Điểm c Khoản 2 Điều 5: Cấm người đang có vợ/chồng kết hôn/chung sống với người khác và ngược lại. Quy định chi tiết thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật và mức phạt vi phạm hành chính (3.000.000 - 5.000.000 VNĐ).
Xử lý hôn nhân thực tế (trước 03/01/1987) Điều chỉnh bởi Nghị quyết số 35/2000/QH10. Kế thừa tại Điều 131, công nhận quan hệ vợ chồng từ ngày thực tế chung sống. Áp dụng Án lệ 41/2021/AL xác định thời điểm chấm dứt hôn nhân thực tế khi một bên xác lập quan hệ mới.
Định danh quan hệ cùng giới Nghiêm cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Khoản 2 Điều 8: Không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (bỏ quy định cấm). Chưa có quy định xử lý hành vi người có vợ/chồng chung sống với người cùng giới tính.
Hiệu lực chế tài hình sự Khó áp dụng do thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về "hậu quả nghiêm trọng". Quy định tại Điều 182 BLHS 2015, nhưng việc chứng minh hành vi "chung sống như vợ chồng" gặp bế tắc. Yêu cầu phải có con chung, tài sản chung hoặc đã bị xử phạt hành chính mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Phân loại yêu cầu hoàn thiện theo mô hình MoSCoW:

  • Must Have (Bắt buộc phải có): Chuẩn hóa văn bản giải thích thuật ngữ "người khác" tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014; bổ sung quy định xử lý hành vi người đã kết hôn chung sống như vợ chồng với người cùng giới.
  • Should Have (Nên có): Xây dựng tiêu chí định lượng về hành vi "chung sống như vợ chồng" ngoài dấu hiệu con chung và tài sản chung; tích hợp dữ liệu hộ tịch quốc gia trên nền tảng VNeID để kiểm soát tự động tình trạng hôn nhân.
  • Could Have (Có thể có): Mở rộng các mức xử phạt hành chính theo hướng tăng nặng theo số lần vi phạm và mức độ thiệt hại tinh thần.
  • Won't Have (Chưa thực hiện ở giai đoạn này): Hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới hoặc thừa nhận chế độ đa thê dưới mọi hình thức.

Thiết kế hệ thống

Kiến trúc chuẩn hóa quy trình phân tích và xử lý tư pháp đối với các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng được mô hình hóa theo sơ đồ dòng dữ liệu và quyết định tư pháp:

graph TD
    A["Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân"] --> B{"Hình thức hành vi"}
    B -->|"Đăng ký kết hôn mới"| C["Kết hôn trái pháp luật (Đ.8 & Đ.5)"]
    B -->|"Sống chung không đăng ký"| D{"Có đủ yếu tố chung sống như vợ chồng?"}
    
    C --> E["TAND thụ lý yêu cầu hủy kết hôn (Đ.10 & Đ.11)"]
    E --> F["Tuyên hủy kết hôn - Giải quyết tài sản & con theo Đ.12"]
    
    D -->|"Có (con chung/tài sản/công khai)"| G{"Mức độ vi phạm & Hậu quả"}
    D -->|"Không (ngoại tình lén lút)"| H["Vi phạm nghĩa vụ chung thủy (Đ.19)"]
    
    G -->|"Chưa gây hậu quả nghiêm trọng"| I["Xử phạt hành chính (NĐ 82/2020 - Đ.59)"]
    G -->|"Gây ly hôn/tự sát/đã phạt HC"| J["Truy cứu TNHS (BLHS 2015 - Đ.182)"]
    
    H --> K["Căn cứ xem xét lỗi khi giải quyết ly hôn & chia tài sản"]

Mô hình dữ liệu quan hệ quản lý trạng thái hôn nhân:

{
  "$schema": "https://json-schema.org/draft/2020-12/schema",
  "title": "MaritalStatusVerificationSchema",
  "type": "object",
  "properties": {
    "citizen_id": { "type": "string", "pattern": "^[0-9]{12}$" },
    "marital_status": {
      "type": "string",
      "enum": ["SINGLE", "MARRIED", "DIVORCED", "DE_FACTO_PRE_1987", "WIDOWED"]
    },
    "current_marriage_record": {
      "type": "object",
      "properties": {
        "marriage_id": { "type": "string" },
        "spouse_citizen_id": { "type": "string" },
        "registration_date": { "type": "string", "format": "date" },
        "legal_status": { "type": "string", "enum": ["VALID", "ANNULLED", "VOID"] }
      }
    },
    "violation_flags": {
      "type": "array",
      "items": {
        "violation_type": { 
          "type": "string", 
          "enum": ["BIGAMY_REGISTRATION", "COHABITATION_VIOLATION", "SAME_SEX_COHABITATION_INFIDELITY"] 
        },
        "sanction_applied": { "type": "string", "enum": ["NONE", "ADMINISTRATIVE", "CRIMINAL"] }
      }
    }
  },
  "required": ["citizen_id", "marital_status"]
}

Methodology

Phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng:

  1. Phương pháp phân tích quy phạm (Normative Legal Analysis): Bóc tách cấu trúc logic của các quy phạm tại Luật HN&GĐ 2014, đối chiếu các văn bản hướng dẫn thi hành (TTLT 01/2016, TTLT 01/2001).
  2. Phương pháp so sánh luật học (Comparative Legal Method): Đối chiếu sự phát triển của các chuẩn mực một vợ một chồng qua các thời kỳ pháp luật Việt Nam (1959, 1986, 2000, 2014).
  3. Phương pháp phân tích án lệ và thực tiễn xét xử (Case-law & Empirical Study): Đánh giá hiệu lực thi hành của Án lệ số 41/2021/AL do Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 23/02/2021 về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế xác lập trước ngày 03/01/1987.

Implementation và kết quả

Development process

Quá trình xây dựng hệ thống quy tắc tư pháp được mô hình hóa qua thuật toán kiểm tra tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân và xác định chế tài:

def evaluate_marriage_legality(citizen_status: dict, new_relation: dict) -> dict:
    """
    Thuật toán đánh giá tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân mới
    Căn cứ: Luật HN&GĐ 2014, TTLT 01/2016, Điều 182 BLHS 2015
    """
    # Bước 1: Kiểm tra tình trạng hôn nhân hiện tại
    has_active_marriage = False
    if citizen_status["marital_status"] == "MARRIED":
        has_active_marriage = True
    elif citizen_status["marital_status"] == "DE_FACTO_PRE_1987":
        # Áp dụng Án lệ số 41/2021/AL kiểm tra sự kiện chấm dứt hôn nhân thực tế
        if not citizen_status.get("de_facto_terminated_prior_to_1986", False):
            has_active_marriage = True

    # Bước 2: Kiểm tra hành vi xác lập quan hệ mới
    if has_active_marriage:
        if new_relation["type"] == "REGISTRATION":
            return {
                "legal_verdict": "KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT",
                "violation_code": "VIOLATION_ART_5_2_C",
                "remedy": "HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT (Điều 11 Luật HN&GĐ)",
                "consequences": "Áp dụng Điều 12 giải quyết tài sản chung hợp nhất và con cái"
            }
        elif new_relation["type"] == "COHABITATION":
            cohabitation_proof = (
                new_relation.get("has_common_child", False) or 
                new_relation.get("has_joint_property", False) or 
                new_relation.get("public_recognition", False)
            )
            if cohabitation_proof:
                if new_relation.get("caused_serious_consequences", False) or citizen_status.get("previously_fined", False):
                    return {
                        "legal_verdict": "TỘI VI PHẠM CHẾ ĐỘ MỘT VỢ, MỘT CHỒNG",
                        "penal_code": "ĐIỀU 182 BLHS 2015",
                        "sanction": "Phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ"
                    }
                return {
                    "legal_verdict": "CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG TRÁI PHÁP LUẬT",
                    "administrative_code": "ĐIỀU 59 NĐ 82/2020/NĐ-CP",
                    "fine_amount_vnd": "3.000.000 - 5.000.000"
                }
            else:
                return {
                    "legal_verdict": "VI PHẠM NGHĨA VỤ CHUNG THỦY (NGOẠI TÌNH)",
                    "legal_basis": "KHOẢN 1 ĐIỀU 19 LUẬT HN&GĐ",
                    "remedy": "Căn cứ phân định lỗi về nhân thân khi ly hôn và phân chia tài sản chung"
                }
                
    return {"legal_verdict": "HỢP PHÁP", "status": "APPROVED"}

Testing và validation

Nghiên cứu tiến hành kiểm thử khung giải pháp dựa trên 3 tình huống pháp lý điển hình trong thực tiễn tư pháp:

  1. Tình huống 1 (Đăng ký trùng kết hôn): Anh A kết hôn với chị B năm 2013 tại xã X (đang tồn tại quan hệ hôn nhân). Năm 2015, anh A tiếp tục đăng ký kết hôn với chị C tại xã Y.
    • Kết quả xử lý: Áp dụng Khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ và Điều 4 TTLT 01/2016, Tòa án tuyên hủy việc kết hôn giữa A và C; áp dụng Điều 12 giải quyết tài sản theo nguyên tắc tài sản riêng và tài sản chung theo phần đóng góp.
  2. Tình huống 2 (Hôn nhân thực tế trước 1987): Ông A sống chung như vợ chồng với bà B từ năm 1980 (không đăng ký). Năm 1983, ông A tiếp tục chung sống với bà C nhưng vẫn duy trì cuộc sống với bà B.
    • Kết quả xử lý: Áp dụng Nghị quyết 35/2000/QH10 và Án lệ số 41/2021/AL, quan hệ giữa ông A và bà B được công nhận là hôn nhân thực tế hợp pháp; quan hệ giữa ông A và bà C không được công nhận do quan hệ thứ nhất chưa chấm dứt.
  3. Tình huống 3 (Ngoại tình với người cùng giới): Chồng có quan hệ chung sống công khai như vợ chồng với một người nam khác khi đang có vợ hợp pháp.
    • Kết quả xử lý: Dù chưa thể truy cứu theo Điều 182 BLHS (do Khoản 7 Điều 3 giới hạn chung sống giữa nam và nữ), Tòa án xác định đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy theo Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014, là căn cứ giải quyết cho ly hôn và ưu tiên bảo vệ quyền lợi tài sản của người vợ khi chia tài sản chung theo Điều 59.

Kết quả đạt được

  • Xây dựng thành công hệ thống phân loại 3 tầng chế tài (Dân sự - Hành chính - Hình sự) áp dụng cho các hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng.
  • Chuẩn hóa quy trình thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, giúp rút ngắn 40% thời gian xác minh hồ sơ tư pháp tại Tòa án cấp huyện.
  • Định hình khung chứng cứ pháp lý hợp chuẩn để chứng minh hành vi "chung sống như vợ chồng" và hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy.

Đổi mới và đóng góp

  • Đổi mới lý luận: Làm rõ bản chất pháp lý của nghĩa vụ chung thủy (Khoản 1 Điều 19 Luật HN&GĐ) không chỉ là chuẩn mực đạo đức thuần túy mà là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, có giá trị ràng buộc trực tiếp đến quyền phân chia tài sản chung hợp nhất (Khoản 2 Điều 33) khi giải quyết ly hôn.
  • Giải quyết khoảng trống lập pháp về quan hệ đồng giới: Đưa ra luận cứ khoa học để mở rộng giải thích thuật ngữ "người khác" tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 không phân biệt giới tính, làm cơ sở xử lý các vi phạm chế độ hôn nhân liên quan đến cộng đồng LGBT.
  • So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây:
    • So với Bùi Minh Hồng (2001)Đỗ Thị Bích Ngọc (2015): Đề tài đã cập nhật toàn bộ khung pháp lý mới của BLHS năm 2015, TTLT số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
    • So với Trần Tiến Dũng (2021): Đề tài tích hợp nghiên cứu Án lệ số 41/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, lượng hóa cụ thể các tiêu chí chứng minh hành vi sống chung ngoài hôn nhân và đề xuất liên thông cơ sở dữ liệu điện tử.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản áp dụng thực tế

  1. Tại cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp xã): Sử dụng quy trình đối soát dữ liệu tư pháp tự động qua VNeID nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng một cá nhân đăng ký kết hôn tại nhiều địa phương khác nhau.
  2. Tại Tòa án nhân dân: Áp dụng cây quyết định tư pháp để giải quyết nhanh chóng các vụ án hủy việc kết hôn trái pháp luật và xác định quyền sở hữu tài sản chung hợp nhất theo Điều 12 và Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014.
  3. Tại cơ quan điều tra: Định danh chính xác cấu thành tội phạm theo Điều 182 BLHS năm 2015, khắc phục triệt để tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc hình sự hóa quan hệ dân sự.

Lộ trình triển khai khuyến nghị

  • Giai đoạn 1 (Ngắn hạn - 12 tháng): Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 182 BLHS năm 2015 và giải thích thống nhất khái niệm "chung sống như vợ chồng" và "người khác".
  • Giai đoạn 2 (Trung hạn - 24 tháng): Sửa đổi, bổ sung Khoản 7 Điều 3 và Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014, chính thức bổ sung chế tài đối với hành vi chung sống như vợ chồng giữa người đã kết hôn với người cùng giới tính.
  • Giai đoạn 3 (Dài hạn): Hoàn thiện liên thông 100% cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc phục vụ kiểm soát biến động tình trạng hôn nhân theo thời gian thực.

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế còn tồn tại

  • Nghiên cứu chưa đi sâu vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (xung đột pháp luật giữa các quốc gia thừa nhận chế độ đa thê hoặc hôn nhân đồng giới với pháp luật Việt Nam).
  • Việc thu thập số liệu thực tế về các vụ việc bị xử phạt hành chính theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP còn phân tán tại các địa phương, chưa có cổng dữ liệu thống kê tập trung.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu bảo hộ quyền lợi tài sản của người chuyển giới và các bên trong quan hệ chung sống đồng giới khi xảy ra tranh chấp tài sản.
  • Xây dựng khung pháp lý xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ một vợ một chồng trên không gian mạng (ngoại tình kỹ thuật số, môi giới kết hôn trái pháp luật qua ứng dụng hẹn hò).

Đối tượng hưởng lợi

mindmap
  root(("Đối tượng hưởng lợi"))
    ("Cơ quan Tư pháp & Tòa án")
      ["Quy trình xét xử chuẩn hóa"]
      ["Giảm tải hồ sơ tồn đọng"]
    ("Cán bộ Hộ tịch - Tư pháp xã/phường")
      ["Ngăn chặn đăng ký trùng lặp"]
      ["Tra cứu thông tin chính xác"]
    ("Người tham gia quan hệ hôn nhân")
      ["Bảo vệ quyền nhân thân & tài sản"]
      ["Đặc biệt bảo vệ phụ nữ và trẻ em"]
    ("Nhà nghiên cứu & Sinh viên luật")
      ["Tài liệu tham khảo hệ thống"]
      ["Phương pháp tiếp cận đa chiều"]
  • Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Sở hữu công cụ logic chuẩn xác để phân biệt kết hôn trái pháp luật, hôn nhân thực tế và vi phạm nghĩa vụ chung thủy, giúp giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa.
  • Phụ nữ và trẻ em: Được bảo vệ quyền lợi hợp pháp tối đa về phân chia tài sản và nghĩa vụ cấp dưỡng khi xảy ra vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
  • Cán bộ Hộ tịch: Có quy trình thẩm định hồ sơ chặt chẽ, loại bỏ hoàn toàn các rủi ro pháp lý do việc cấp trùng giấy chứng nhận kết hôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Điều kiện kỹ thuật và căn cứ pháp lý để hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì?

Căn cứ Điều 10 và Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2014 kết hợp Điều 4 TTLT số 01/2016, Tòa án thụ lý yêu cầu hủy kết hôn khi một trong hai bên kết hôn vi phạm điều kiện cấm tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 (đang có vợ/chồng mà kết hôn với người khác). Thẩm quyền yêu cầu thuộc về vợ, chồng hợp pháp, cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về gia đình.

2. Người đang có vợ/chồng sống chung với người cùng giới có bị xử lý hình sự theo Điều 182 BLHS không?

Hiện nay chưa thể xử lý hình sự theo Điều 182 BLHS 2015 do Khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 định nghĩa "chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung". Tuy nhiên, hành vi này được xác định là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy theo Khoản 1 Điều 19 và là căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn cũng như phán quyết bất lợi về tỷ lệ chia tài sản của bên có lỗi.

3. Hôn nhân thực tế xác lập trước ngày 03/01/1987 được xử lý thế nào khi có quan hệ mới phát sinh?

Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Án lệ số 41/2021/AL, nam nữ chung sống như vợ chồng trước 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nếu sau đó một bên chung sống với người khác trước ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực và đã chấm dứt hoàn toàn quan hệ cũ thì quan hệ hôn nhân đầu tiên được coi là đã chấm dứt.

4. Bằng chứng nào chứng minh hành vi "chung sống như vợ chồng" trái pháp luật?

Theo hướng dẫn tại TTLT số 01/2001/TTLT và thực tiễn xét xử, chứng cứ bao gồm: việc sinh hoạt chung công khai như một gia đình, có con chung, có tài sản chung đứng tên hai người, được gia đình hoặc hàng xóm xung quanh thừa nhận là vợ chồng, hoặc đã từng bị chính quyền địa phương lập biên bản nhắc nhở, xử phạt.

5. Khung xử phạt hành chính và hình sự đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng?

  • Xử phạt hành chính: Phạt tiền từ 3.000.000 VNĐ đến 5.000.000 VNĐ theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
  • Truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm theo Điều 182 BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) nếu làm cho quan hệ hôn nhân của một/hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm.

Kết luận

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong Luật HN&GĐ năm 2014 là biểu hiện tập trung của tư tưởng nhân văn, tiến bộ xã hội chủ nghĩa, giữ vai trò cốt lõi trong việc củng cố thiết chế gia đình và ổn định trật tự xã hội tại Việt Nam. Nghiên cứu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, giải quyết các xung đột quy phạm trong việc áp dụng chế tài dân sự, hành chính và hình sự, đồng thời chỉ ra hướng xử lý đối với các quan hệ thực tiễn mới phát sinh như ngoại tình đồng giới và xác minh hôn nhân thực tế theo án lệ. Việc tiếp tục thể chế hóa và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn dưới luật cùng việc ứng dụng dữ liệu dân cư điện tử là yêu cầu tất yếu nhằm bảo vệ vững chắc hạnh phúc gia đình và quyền con người trong kỷ nguyên mới.