Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được tác giả Dương Thị Phương Anh (mã sinh viên: 453403) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Thị Mừng tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2024. Đề tài thuộc chuyên ngành Luật học, đi sâu vào lĩnh vực Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Theo lập luận của tác giả, hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội vận động theo tiến trình lịch sử gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam đã thiết lập chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng, được hiến định xuyên suốt qua các bản Hiến pháp và cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, thực tiễn nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực: người đang có vợ, có chồng nhưng vẫn quan hệ ngoài luồng, chung sống như vợ chồng với người khác, thậm chí đăng ký kết hôn trùng lặp. Các hành vi này dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như đánh ghen, xúc phạm danh dự trên mạng xã hội, bạo lực gia đình và làm tổn hại quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Mặt khác, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn còn sơ sài, thiếu đồng bộ; các quy định về quan hệ chung sống như vợ chồng, quan hệ ngoại tình hay vấn đề phát sinh từ các cặp đôi cùng giới tính vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện nguyên tắc này là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích bao trùm của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung pháp lý của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thi hành; từ đó chỉ ra những vướng mắc và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, các khái niệm liên quan và ý nghĩa của nguyên tắc.
  2. Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về hôn nhân một vợ một chồng cũng như thực trạng thực thi trong thực tế.
  3. Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả áp dụng nguyên tắc trong đời sống xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong Luật HN&GĐ năm 2014 cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào lý luận nền tảng, các điều khoản của Luật HN&GĐ năm 2014, cơ chế xử lý kết hôn trái pháp luật, nghĩa vụ chung thủy và chế tài xử lý vi phạm.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong những năm gần đây; văn bản xác định rõ không nghiên cứu các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng

  • Cơ sở lý luận kinh điển: Học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và giải phóng phụ nữ. Tác phẩm cốt lõi được tác giả trích dẫn trực tiếp là "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" (1884/1995) của Ph. Ăng-ghen, phân tích sự chuyển biến từ gia đình huyết tộc, gia đình Punaluan, gia đình đối ngẫu cho đến hôn nhân một vợ một chồng.
  • Văn bản pháp luật quốc tế và so sánh: Phán quyết của Thẩm phán Lord Penzance trong vụ án Hyde v Hyde (1866) thuộc hệ thống Common Law định nghĩa hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà.
  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam:
    • Hiến pháp năm 2013 (Điều 36).
    • Luật HN&GĐ qua các thời kỳ: 1959, 1986, 2000 và trọng tâm là Luật HN&GĐ năm 2014.
    • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – Điều 182 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
    • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 29).
    • Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN&GĐ năm 2000.
    • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ.
    • Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Chương XV Bộ luật Hình sự 1999.
    • Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (khoản 1 Điều 59 quy định mức phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng).
    • Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế (được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua ngày 23/02/2021).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các điều luật, quy phạm pháp lý và các khía cạnh lý luận, biến nguyên lý trừu tượng thành các vấn đề thực tiễn.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa nội dung nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận điểm logic xuyên suốt các chương.
  • Phương pháp thống kê: Rà soát số liệu, trường hợp vi phạm thực tế để rút ra các kết luận khách quan làm căn cứ đề xuất kiến nghị.
  • Phương pháp quy nạp và dẫn chiếu: Trích dẫn trực tiếp các điều luật hiện hành, các công trình học thuật đã công bố để đối chiếu, so sánh.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ của Tòa án nhân dân tối cao, cùng các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả: Bùi Minh Hồng (2001), Bùi Thị Mừng (2015), Đỗ Thị Bích Ngọc (2015), Trần Tiến Dũng (2021), Nguyễn Văn Cừ (2000), Tiến Long - Duy Kiên (2013), Nguyễn Thị Lan (2005, 2015) và Trương Hồng Quang (2017).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Chương này tập trung xây dựng nền tảng khái niệm, phân tích lịch sử hình thành và cơ sở tồn tại của nguyên tắc:

  • Khái quát chung: Tác giả phân tích hôn nhân từ góc độ hiện tượng xã hội tự nhiên và tính giai cấp. Định nghĩa hôn nhân theo khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 được làm rõ: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn". Về mặt thuật ngữ, nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo, định hướng bắt buộc trong lập pháp và áp dụng pháp luật. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đòi hỏi trong cùng một thời kỳ, một cá nhân chỉ được xác lập duy nhất một quan hệ hôn nhân hợp pháp.
  • Tiến trình lịch sử theo quan điểm Mác - Lênin: Phân tích quan điểm của Ph. Ăng-ghen cho thấy hôn nhân một vợ một chồng sơ khai nảy sinh từ sự xuất hiện của chế độ tư hữu, nhằm xác định người thừa kế tài sản cho người chồng, do đó mang tính áp bức và giả tạo đối với phụ nữ. Trong xã hội phong kiến, quyền "năm thê bảy thiếp" của đàn ông được công nhận; xã hội tư sản bãi bỏ đa thê về mặt pháp lý nhưng dung túng mại dâm và ngoại tình. Chỉ trong xã hội XHCN, hôn nhân một vợ một chồng mới thực sự dựa trên tình yêu chân chính không thể chia sẻ và bình đẳng giới.
  • Cơ sở xác lập:
    • Cơ sở lý luận: Quan điểm Mác - Lênin và đường lối giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình XHCN tiến bộ của Đảng và Nhà nước.
    • Cơ sở thực tiễn: Sự chuyển dịch kinh tế thị trường, các tác động mặt trái của công nghệ và lối sống thực dụng khiến quan hệ ngoài luồng gia tăng; đòi hỏi pháp luật phải có chuẩn mực bảo vệ người yếu thế.
  • Ý nghĩa của nguyên tắc:
    • Ý nghĩa pháp lý: Là chuẩn mực để giải thích pháp luật, giải quyết tranh chấp nhân thân và tài sản, đồng thời là căn cứ định danh hành vi vi phạm.
    • Ý nghĩa xã hội: Xóa bỏ hủ tục trọng nam khinh nữ, bảo vệ sự phát triển toàn diện của trẻ em, ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục (HIV, giang mai) và đẩy lùi bạo lực gia đình.

Chương 2: Nội dung quy định của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 là phần trọng tâm phân tích kỹ thuật lập pháp và quy chuẩn thực định:

  • Sự hiến định và nguyên tắc nền tảng: Phân tích Điều 36 Hiến pháp năm 2013 và việc luật hóa tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 ("Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng"). Quy định cấm tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 là chốt chặn pháp lý bảo vệ chế độ này.
  • Xác định chủ thể "người đang có vợ, có chồng": Dựa trên khoản 4 Điều 2 TTLT số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, tác giả phân loại 3 trường hợp:
    1. Đã kết hôn hợp pháp nhưng chưa ly hôn và vợ/chồng chưa chết (hoặc chưa bị tuyên bố là đã chết).
    2. Nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn (hôn nhân thực tế theo Nghị quyết 35/2000/QH10).
    3. Người kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn.
  • Cơ chế xử lý kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng:
    • Căn cứ Điều 10, Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 4 TTLT số 01/2016: Tòa án quyết định hủy kết hôn trái pháp luật khi có yêu cầu. Nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết mà các bên đã đủ điều kiện kết hôn (ví dụ quan hệ hôn nhân trước đã chấm dứt), Tòa án xử lý theo 2 hướng: hủy kết hôn nếu có yêu cầu hủy hoặc công nhận; hoặc giải quyết cho ly hôn nếu có yêu cầu ly hôn.
  • Nghĩa vụ chung thủy và chế tài pháp lý:
    • Nghĩa vụ chung thủy được quy định tại Điều 19 và ràng buộc tài sản chung tại khoản 2 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014.
    • Chế tài hành chính: Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật.
    • Chế tài hình sự: Điều 182 BLHS năm 2015 quy định các khung hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm, hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
  • Các bất cập pháp lý được tác giả chỉ ra:
    • Quan hệ đồng giới: Pháp luật không thừa nhận hôn nhân cùng giới (khoản 2 Điều 8) và định nghĩa chung sống như vợ chồng là giữa "nam và nữ" (khoản 7 Điều 3). Do đó, hành vi người có vợ/chồng chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính tuy xâm phạm bản chất một vợ một chồng nhưng thiếu cơ chế xử lý hành chính và hình sự.
    • Tiêu chí "coi nhau như vợ chồng": Rất khó chứng minh ý thức chủ quan; các mối quan hệ ngoại tình lén lút, không liên tục hoặc không hình thành tài sản/con chung thường bị bỏ lọt khỏi chế tài xử phạt.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và một số giải pháp

  • Nhận xét thực tiễn: Kể từ Luật HN&GĐ năm 1959 qua các thời kỳ 1986, 2000 đến 2014, nguyên tắc đã chuyển hóa từ quy phạm pháp luật thành chuẩn mực đạo đức xã hội. Nhận thức của người dân nâng cao, ý thức tố giác hành vi vi phạm gia tăng nhờ công tác tuyên truyền của Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ.
  • Tồn tại và vướng mắc: Khung pháp lý xử lý hành vi ngoại tình chưa đạt mức "chung sống như vợ chồng" còn trống; việc áp dụng hướng dẫn tại TTLT số 01/2001 vào thực tiễn hiện nay bộc lộ bất cập khi yêu cầu các dấu hiệu công khai, có con chung, tài sản chung.
  • Định hướng giải pháp: Cần hoàn thiện các quy định hướng dẫn chi tiết về dấu hiệu nhận biết hành vi chung sống như vợ chồng; nghiên cứu cơ chế pháp lý bao quát các mối quan hệ ngoài luồng có liên quan đến cộng đồng LGBT; tăng cường kết hợp giữa xử lý pháp luật và giáo dục đạo đức gia đình.

Bảng tổng hợp: Cơ chế pháp lý điều chỉnh hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng

Hành vi vi phạm Căn cứ pháp lý viện dẫn Hậu quả pháp lý / Chế tài xử lý
Đăng ký kết hôn khi đang có vợ hoặc có chồng Điều 5, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật HN&GĐ 2014; Điều 4 TTLT 01/2016 Tòa án tuyên hủy kết hôn trái pháp luật; hoặc giải quyết cho ly hôn nếu tại thời điểm xét xử đã đủ điều kiện kết hôn và có yêu cầu.
Chung sống như vợ chồng với người khác (chưa gây hậu quả nghiêm trọng) Điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ 2014; khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP Không công nhận quan hệ vợ chồng; xử phạt vi phạm hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Chung sống như vợ chồng gây hậu quả nghiêm trọng (làm gia đình ly tán, tự sát...) Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 rồi sống chung với người khác Điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10; Án lệ số 41/2021/AL Quan hệ trước được công nhận là hôn nhân thực tế; quan hệ sau không được công nhận trừ khi quan hệ trước đã thực tế chấm dứt.
Quan hệ ngoài luồng với người cùng giới tính khi đang có vợ/chồng Khoản 7 Điều 3, khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ 2014; Điều 182 BLHS 2015 Vi phạm bản chất hôn nhân nhưng pháp luật hiện hành chưa có văn bản hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính và hình sự.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khóa luận làm rõ nguồn gốc lịch sử và bản chất giai cấp của hôn nhân một vợ một chồng, khẳng định mô hình hôn nhân một vợ một chồng XHCN là hình thái tiến bộ dựa trên tình cảm tự nguyện và bình đẳng giới.
  2. Hệ thống hóa đầy đủ cơ chế áp dụng pháp luật đối với 3 diện đối tượng được coi là "đang có vợ, có chồng" theo TTLT số 01/2016 và quy định chuyển tiếp tại Nghị quyết số 35/2000/QH10.
  3. Nhận diện các khoảng trống lập pháp nổi cộm: sự bất tương thích giữa quy định cấm và khả năng áp dụng chế tài hình sự (Điều 182 BLHS) hoặc hành chính (Nghị định 82/2020/NĐ-CP) khi xử lý các hành vi ngoại tình lén lút hoặc hành vi chung sống với người cùng giới tính.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Tác giả kế thừa các công trình của Bùi Minh Hồng (2001), Bùi Thị Mừng (2015), Đỗ Thị Bích Ngọc (2015) và Trần Tiến Dũng (2021), nhưng đi sâu cập nhật các văn bản mới hơn như Bộ luật Hình sự 2015, Nghị định 82/2020/NĐ-CP và đặc biệt là Án lệ số 41/2021/AL của TAND tối cao. Điểm mới trong phân tích của tác giả là việc đưa vấn đề quyền của người thuộc cộng đồng LGBT vào phạm vi đánh giá tính tương thích của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong bối cảnh xã hội hiện đại.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn trong pháp luật nội địa Việt Nam, chủ yếu là Luật HN&GĐ năm 2014 và không đi sâu vào các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Khóa luận cũng chưa khảo sát được toàn diện số liệu xét xử thực tế của hệ thống Tòa án trên phạm vi cả nước mà chủ yếu tập trung vào phân tích quy phạm và án lệ điển hình.
  • Hướng mở: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang khía cạnh tư pháp quốc tế đối với các vụ việc vi phạm chế độ một vợ một chồng có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để kiến nghị sửa đổi khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 nhằm bao quát các quan hệ chung sống thực tế của người cùng giới tính.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên luật, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, cũng như cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch, thẩm phán và luật sư giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình.
  • Phần nội dung đáng lưu ý:
    • Phần phân tích hướng xử lý của Tòa án trong việc hủy kết hôn trái pháp luật kết hợp áp dụng Điều 4 TTLT số 01/2016.
    • Phân tích Án lệ số 41/2021/AL giải quyết xung đột giữa hai quan hệ hôn nhân thực tế xác lập trước ngày 03/01/1987.
    • Lập luận khoa học về khoảng trống pháp lý khi xử lý hành vi ngoại tình với người cùng giới tính.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, những trường hợp nào được xác định là "người đang có vợ, có chồng"?

Theo khoản 4 Điều 2 của Thông tư này, người đang có vợ, có chồng bao gồm 3 nhóm đối tượng: (1) Người đã kết hôn đúng pháp luật nhưng chưa ly hôn và vợ/chồng chưa chết (hoặc chưa bị tuyên bố là đã chết); (2) Nam, nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn/vợ chồng chưa chết; (3) Người kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn/vợ chồng chưa chết.

2. Tòa án xử lý như thế nào nếu tại thời điểm giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật, hai bên đã đủ điều kiện kết hôn?

Căn cứ Điều 4 TTLT số 01/2016, nếu tại thời điểm giải quyết các bên đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn: trường hợp một hoặc hai bên yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, hoặc một bên yêu cầu công nhận/yêu cầu ly hôn mà bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật; trường hợp một bên hoặc cả hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định chung.

3. Tác giả luận giải ra sao về hành vi người đang có vợ/chồng nhưng lại chung sống như vợ chồng với người cùng giới tính?

Về mặt bản chất, tác giả khẳng định hành vi này đã phá vỡ tính chất chung thủy và sự bền vững của hôn nhân, xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc một vợ một chồng. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thực định, do khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 định nghĩa chung sống như vợ chồng chỉ áp dụng giữa "nam và nữ" và khoản 2 Điều 8 không thừa nhận hôn nhân cùng giới, nên hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng chế tài hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 BLHS năm 2015 đối với trường hợp này.

4. Án lệ số 41/2021/AL được tác giả viện dẫn để làm sáng tỏ vấn đề gì?

Án lệ số 41/2021/AL (được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua ngày 23/02/2021) được viện dẫn để giải quyết vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế. Cụ thể, khi nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 không đăng ký kết hôn, sau đó họ không còn chung sống và trước khi Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực lại có người chung sống như vợ chồng với người khác, thì quan hệ hôn nhân thực tế đầu tiên được xác định là đã chấm dứt để công nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân thực tế thứ hai.

5. Khó khăn lớn nhất trong việc áp dụng chế tài xử phạt hành vi "chung sống như vợ chồng" trái pháp luật là gì?

Khó khăn lớn nhất nằm ở việc chứng minh dấu hiệu "coi nhau là vợ chồng" trong ý thức chủ quan của các bên theo khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 và hướng dẫn tại TTLT số 01/2001 (như phải có con chung, tài sản chung, tổ chức đám cưới hoặc được hàng xóm coi như vợ chồng). Các mối quan hệ ngoại tình lén lút, diễn ra trong thời gian ngắn hoặc không đáp ứng các tiêu chí công khai trên rất khó để xử lý bằng chế tài hành chính (Nghị định 82/2020/NĐ-CP) hay hình sự (Điều 182 BLHS 2015).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Phương Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận từ học thuyết Mác - Lênin và phân tích sâu sắc các quy phạm của Luật HN&GĐ năm 2014 điều chỉnh nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Công trình đã làm rõ cơ chế giải quyết của Tòa án đối với các vụ việc kết hôn trái pháp luật, đồng thời chỉ ra những bất cập nổi bật về việc áp dụng chế tài đối với hành vi ngoại tình và các mối quan hệ ngoài luồng liên quan đến người cùng giới tính. Các luận điểm và kiến nghị trong khóa luận phản ánh tư duy pháp lý chặt chẽ, mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho nghiên cứu học thuật và công tác hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.