Tổng quan luận án

Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng", do nghiên cứu sinh Trần Đức Hiếu thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9380101.03.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này được quy định lần đầu tiên thành một điều luật độc lập tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung tại Điều 33 BLTTHS năm 2015. Về mặt chủ trương chính trị pháp lý, nguyên tắc này cụ thể hóa các yêu cầu của cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về việc tăng cường giám sát của cơ quan dân cử, tổ chức xã hội và nhân dân đối với công tác tư pháp.

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng nguyên tắc này chưa được nghiên cứu toàn diện và hệ thống ở cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn thi hành. Về mặt lý luận, còn thiếu vắng các công trình phân tích đầy đủ nội hàm, cơ sở, ý nghĩa và sự phát triển của nguyên tắc trong mối tương quan với các mô hình tố tụng trên thế giới. Về mặt thực tiễn, việc xây dựng và thi hành pháp luật còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy phạm pháp luật triển khai còn ít; cơ chế bảo đảm quyền giám sát của người dân và quyền tiếp cận thông tin còn hạn chế; vai trò giám sát của nhiều tổ chức xã hội còn mang tính hình thức. Đáng chú ý, chủ thể tiến hành giám sát quá nhiều và chồng chéo; theo tài liệu trích dẫn trong văn bản (Nguyễn Sĩ Dũng, 2015), nếu tính chung cả Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thì có gần 15 loại cơ quan có thẩm quyền giám sát từ trung ương đến cấp xã, chưa kể hoạt động thanh tra nhà nước và kiểm tra, giám sát của Đảng. Địa vị pháp lý của một số chủ thể như Đoàn đại biểu Quốc hội còn gây tranh luận. Một số hình thức giám sát như bỏ phiếu tín nhiệm hay thành lập Ủy ban lâm thời chưa được vận hành đầy đủ trên thực tế. Đặc biệt, việc tăng cường giám sát cơ quan tiến hành tố tụng đang đứng trước yêu cầu phải bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc giám sát, từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát đối với cơ quan và người tiến hành tố tụng, góp phần bảo đảm hoạt động tố tụng diễn ra chính xác, minh bạch, dân chủ, bảo vệ công lý và quyền con người.

Hai mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc giám sát và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện.
  2. Tăng cường quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm độc lập xét xử và bảo đảm hiệu lực của bản án song hành với việc nâng cao hiệu lực giám sát.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ trọng tâm: làm sáng tỏ cơ sở lý luận; nghiên cứu so sánh mô hình giám sát tại một số quốc gia; đánh giá sự phát triển lập pháp từ năm 1945 đến năm 2018; phân tích thực trạng thực thi nguyên tắc giai đoạn 2003–2018; xác định nguyên nhân hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu tổng quan: Cơ sở lý thuyết, ý nghĩa, đặc điểm, nội dung và các định hướng, giải pháp nâng cao nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng là gì? Từ đó, tác giả cụ thể hóa thành 6 câu hỏi nghiên cứu bộ phận:

  • Câu hỏi 1: Nguyên tắc giám sát dựa trên nền tảng lý thuyết nào và vì sao được xác định là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Những đặc điểm cơ bản của nguyên tắc này về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và hệ quả cần được làm rõ ra sao?
  • Câu hỏi 3: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nguyên tắc trong tố tụng hình sự Việt Nam?
  • Câu hỏi 4: Nguyên tắc giám sát được thể hiện như thế nào trong tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới và mang lại kinh nghiệm gì cho Việt Nam?
  • Câu hỏi 5: Nguyên tắc này được thể hiện ra sao trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay và thực tiễn thực hiện diễn ra như thế nào?
  • Câu hỏi 6: Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc dựa trên quan điểm chỉ đạo nào và cần những giải pháp gì trong thời gian tới?

Tương ứng với 6 câu hỏi, luận án xây dựng 6 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Nguyên tắc giám sát tồn tại khách quan, chi phối quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, bắt nguồn từ nguyên lý quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và yêu cầu kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013.
  • Giả thuyết 2: Đặc điểm nguyên tắc bao hàm các cấu thành cụ thể về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát.
  • Giả thuyết 3: Hiệu quả thực hiện nguyên tắc chịu tác động của mô hình tổ chức quyền lực, cơ chế giám sát, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, mô hình tố tụng và mức độ minh bạch, quyền tiếp cận thông tin.
  • Giả thuyết 4: Các quốc gia phát triển đều có mô hình giám sát phù hợp với thể chế, mang lại kinh nghiệm tham khảo có giá trị cho Việt Nam.
  • Giả thuyết 5: Quy định pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giám sát ngày càng được hoàn thiện từ năm 1946 đến năm 2018 và hoạt động thực tiễn dần đạt hiệu quả thực chất hơn.
  • Giả thuyết 6: Hoàn thiện việc thực thi nguyên tắc phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, cải cách tư pháp và khắc phục các bất cập thực tiễn hiện hữu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng; sự thể hiện của nguyên tắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam (chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức, hệ quả giám sát).
  • Phạm vi chủ thể: Các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Pháp chế, đại biểu Hội đồng nhân dân) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Phạm vi đối tượng chịu giám sát: Hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân; trong đó Tòa án được xác định là trung tâm và xét xử là trọng tâm nên được phân bổ dung lượng nghiên cứu chủ yếu.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Quá trình xây dựng pháp luật từ năm 1945 đến năm 2018; thực tiễn áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam từ thời điểm thi hành BLTTHS năm 2003 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai khối nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài, phân chia thành các nhóm chủ đề cụ thể:

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nhóm nghiên cứu trực tiếp về nguyên tắc giám sát trong tố tụng hình sự: Tác giả khảo cứu các công trình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2008, 2011, 2018) về hệ thống nguyên tắc cơ bản, cơ chế giám sát và giáo trình chuyên sâu; bài viết của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí và Hà Thị Phương Bắc (2017) về giám sát của cơ quan dân cử trong tố tụng hình sự; nghiên cứu về các nguyên tắc tư pháp hình sự của GS.TS Lê Văn Cảm (2013); sách chuyên khảo của TS. Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện về các nguyên tắc tố tụng hình sự Việt Nam. Các công trình này đã định hình khung lý luận bước đầu nhưng chưa nghiên cứu độc lập, toàn diện về mọi chủ thể giám sát.
  2. Nhóm nghiên cứu về quyền tư pháp và kiểm soát quyền tư pháp: Cuốn sách "Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền" (2004) do TS. Nguyễn Đăng Dung chủ biên; công trình "Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính" (2004) của Khoa Luật - ĐHQGHN; Đề tài cấp nhà nước KX.06 do Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm (2004); Kỷ yếu hội thảo khoa học "Liêm chính trong Hoạt động Tư pháp: Các tiêu chuẩn quốc tế và pháp luật Việt Nam" (2014) với các bài viết của Nguyễn Đăng Dung, Trương Thị Hồng Hà, Nguyễn Mạnh Cường, Hoàng Nam Hải; luận án tiến sĩ của Nguyễn Chí Dũng (2009) về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp và luận án của Nguyễn Huy Phượng (2012) về giám sát xã hội đối với cơ quan tư pháp.
  3. Nhóm nghiên cứu về quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước: Công trình của GS. Đào Trí Úc và PGS. Võ Khánh Vinh (2003) về giám sát thực hiện quyền lực nhà nước; đề tài KX-10-07 do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên (2009); sách của GS.TS Trần Ngọc Đường (2011); chuyên khảo "Sự hạn chế quyền lực nhà nước" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2015); sách của TS. Trịnh Thị Xuyến; đề tài cấp Bộ do PGS.TS Phạm Hữu Nghị chủ nhiệm (2009–2010); công trình về giám sát xã hội của TS. Nguyễn Mạnh Bình (2012); nghiên cứu về chức năng giám sát của Quốc hội của GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2011), TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2004, 2015), Trương Thị Hồng Hà (2009), Vũ Thị Mỹ Hằng; và bài viết của TS. Trần Ngọc Tuệ (2009).
  4. Nhóm nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thủy (2014) về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và nguyên tắc tranh tụng; bài viết của GS.TSKH Đào Trí Úc (2011) trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp phân tích mối quan hệ giữa mục đích tố tụng, mô hình tố tụng và bản chất của nguyên tắc pháp lý.
  5. Nhóm tài liệu thực tiễn: Các báo cáo công tác thường niên của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC trước Quốc hội; báo cáo thẩm tra và báo cáo giám sát chuyên đề của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.

Các hướng nghiên cứu nước ngoài

Tác giả khảo sát các báo cáo của Đại học Tổng hợp Sydney (Úc) thực hiện cho UNDP Việt Nam năm 2010 nghiên cứu so sánh tư pháp tại 5 nước (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga) của các tác giả Simon Butt, Byung-Sun Cho, Tom Ginsburg, Vivienne Bath, Sarah Biddulph; nghiên cứu của cựu Thẩm phán Tối cao Hoa Kỳ T. Strasberg-Cohen (2005) về thiết chế thanh tra tư pháp (Ombudsman) và trách nhiệm giải trình của thẩm phán; cùng các tài liệu hội thảo quốc tế tại Bắc Kinh (2004) bàn về giới hạn giám sát của nhánh lập pháp đối với các vụ án cụ thể nhằm bảo vệ tính độc lập xét xử.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan tài liệu, luận án xác định 3 khoảng trống khoa học chưa được giải quyết thấu đáo:

  1. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, hoàn chỉnh về nguồn gốc, nội dung, hình thức, chủ thể, đối tượng và hệ quả pháp lý của nguyên tắc giám sát; chưa đưa ra được định nghĩa khoa học chuẩn xác về nguyên tắc này trong luật tố tụng hình sự.
  2. Chưa luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan, cơ sở và ý nghĩa của việc hiến định và luật định nguyên tắc trong mối quan hệ với nguyên tắc độc lập xét xử và tranh tụng.
  3. Chưa đánh giá hệ thống thực trạng áp dụng nguyên tắc từ năm 2003 đến năm 2018 dựa trên các báo cáo hoạt động tư pháp chính thức để đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Nền tảng tư tưởng chỉ đạo của đề tài là các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người và chiến lược cải cách tư pháp (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW). Khung lý thuyết phân tích dựa trên học thuyết về quyền lực nhà nước, lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước, lý thuyết về quyền tư pháp và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tư pháp hình sự.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án sử dụng cách tiếp cận định tính kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý và phương pháp xã hội học pháp luật:

  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm tổng hợp các quan điểm khoa học, từ đó xây dựng các khái niệm, luận điểm lý luận về nguyên tắc giám sát.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật, chia tách các cấu thành của quan hệ giám sát tố tụng và liên kết tạo dựng hệ thống lý thuyết mới.
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp luật so sánh: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để khảo cứu sự phát triển của nguyên tắc qua các bản Hiến pháp và BLTTHS của Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1988, 1992, 2003, 2013, 2015), đồng thời so sánh quy định và cơ chế giám sát tư pháp tại 4 quốc gia: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga.
  • Phương pháp xã hội học và thống kê tư pháp: Sử dụng tại Chương 3 để thu thập, phân tích số liệu thực tế từ các báo cáo tổng kết của TANDTC, VKSNDTC và báo cáo giám sát của Ủy ban Tư pháp Quốc hội giai đoạn 2003–2018.
  • Phương pháp phân tích tổng kết và tiếp cận liên ngành: Tổng kết các bất cập thực tiễn tại Chương 3 để xây dựng giải pháp tại Chương 4; vận dụng tri thức đa ngành giữa luật tố tụng hình sự, luật hiến pháp, triết học và khoa học chính trị.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án gồm hệ thống văn kiện chính trị của Đảng; các bản Hiến pháp Việt Nam; các bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, 2003, 2015; các luật chuyên ngành về tổ chức Quốc hội, HĐND, TAND, VKSND, MTTQVN; các báo cáo công tác xét xử, kiểm sát và thẩm tra tư pháp từ năm 2003 đến năm 2018; cùng hệ thống giáo trình, luận án tiến sĩ và bài báo khoa học trong và ngoài nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Trọng tâm nghiên cứu
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Hệ thống hóa 5 nhóm tài liệu trong nước, 2 nhóm tài liệu nước ngoài; xác định khoảng trống; thiết lập 6 câu hỏi và 6 giả thuyết nghiên cứu.
Chương 2 Những vấn đề lý luận về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Xây dựng khái niệm, đặc điểm, 3 tầng nấc chủ thể; chỉ rõ 5 yếu tố ảnh hưởng, mối quan hệ với 4 nguyên tắc cơ bản; khảo cứu kinh nghiệm tại 4 quốc gia.
Chương 3 Pháp luật về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng hoạt động giám sát tố tụng hình sự ở Việt Nam Khảo cứu lịch sử lập pháp 1946–2018; phân tích thực trạng giám sát 2003–2018 qua 5 phương thức; đánh giá ưu điểm và hạn chế.
Chương 4 Các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam Xác định 3 nhóm yêu cầu nền tảng; đề xuất 9 nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý và tổ chức thực hiện.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này dành cho việc rà soát toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước liên quan đến kiểm soát quyền lực, quyền tư pháp và nguyên tắc giám sát tố tụng. Tác giả chỉ ra rằng xu thế lạm quyền là quy luật phổ biến trong thực thi quyền lực nhà nước, do đó giám sát trong tố tụng hình sự là đòi hỏi mang tính tất yếu nhằm bảo vệ quyền con người. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu một công trình chuyên khảo có tính hệ thống nhằm định danh khái niệm, xác định đặc điểm, phân tích các yếu tố bảo đảm và đưa ra giải pháp hoàn thiện nguyên tắc này tại Việt Nam.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Bản chất và định nghĩa: Tác giả xác định nguyên tắc này là phương châm, định hướng chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm tính khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch, bảo vệ công lý và quyền con người. Giám sát trong tố tụng hình sự nhằm mục đích bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, giữ vững tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phát hiện và xử lý vi phạm, đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Đặc điểm cấu thành: Luận án phân tích 5 đặc điểm: chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, nội dung giám sát, hình thức giám sát và hệ quả pháp lý của giám sát. Trong đó, mô hình giám sát tố tụng được phân chia thành 3 tầng nấc:
    1. Giám sát nội bộ bên trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng (kiểm tra của cấp trên với cấp dưới, kiểm sát của Viện kiểm sát).
    2. Giám sát bên ngoài mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, đại biểu HĐND).
    3. Giám sát xã hội bên ngoài không mang tính quyền lực nhà nước (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí và công dân).
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Hiệu quả thực hiện nguyên tắc phụ thuộc vào 5 yếu tố: mô hình tổ chức quyền lực nhà nước; cơ chế giám sát hoạt động tố tụng; mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; định hướng mô hình tố tụng; và mức độ minh bạch cùng quyền tiếp cận thông tin.
  • Mối quan hệ với các nguyên tắc khác: Tác giả phân tích mối liên hệ biện chứng giữa nguyên tắc giám sát với 4 nguyên tắc tố tụng cơ bản: nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; nguyên tắc suy đoán vô tội; và nguyên tắc tranh tụng. Hoạt động giám sát không được can thiệp trái pháp luật làm phương hại đến tính độc lập xét xử của Tòa án.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu so sánh cơ chế giám sát tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga, rút ra bài học về trách nhiệm giải trình của thẩm phán và giới hạn giám sát của cơ quan lập pháp đối với các bản án cụ thể.

Chương 3: Pháp luật về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng hoạt động giám sát tố tụng hình sự ở Việt Nam

Chương 3 triển khai nội dung lập pháp và thực tiễn:

  • Tiến trình phát triển pháp luật: Phân tích quá trình thể chế hóa nguyên tắc từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, từ các sắc lệnh tư pháp thời kỳ kháng chiến qua BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 (Điều 32) đến BLTTHS năm 2015 (Điều 33).
  • Thực trạng hoạt động giám sát giai đoạn 2003–2018: Luận án đánh giá việc thực thi qua 5 phương thức giám sát chủ yếu:
    1. Giám sát thông qua việc xem xét báo cáo công tác của Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC tại các kỳ họp Quốc hội, HĐND.
    2. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
    3. Giám sát thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn người đứng đầu cơ quan tư pháp.
    4. Giám sát thi hành pháp luật theo chuyên đề (tập trung vào các chuyên đề về oan sai, chống bức cung, nhục hình, tạm giữ, tạm giam).
    5. Giám sát việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.
  • Đánh giá thực trạng: Luận án khẳng định hoạt động giám sát đã góp phần thúc đẩy tính minh bạch, hạn chế oan sai và nâng cao trách nhiệm của cán bộ tố tụng. Tuy vậy, luận án chỉ rõ các tồn tại: pháp luật quy định thẩm quyền còn phân tán; sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát chưa chặt chẽ; hoạt động giám sát chuyên đề đôi lúc còn dàn trải; cơ chế xử lý hệ quả sau giám sát chưa đủ tính ràng buộc pháp lý; quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu tố tụng của chủ thể giám sát còn gặp nhiều vướng mắc; nguy cơ can thiệp vào hoạt động chuyên môn xét xử vẫn tiềm ẩn.

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 4 đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể:

  • Ba yêu cầu nền tảng: Việc hoàn thiện cơ chế giám sát phải đáp ứng: yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân; và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của cải cách tư pháp.
  • Hệ thống 9 nhóm giải pháp:
    1. Nâng cao chất lượng thảo luận, xem xét báo cáo công tác tư pháp tại kỳ họp Quốc hội và ban hành nghị quyết về lĩnh vực tư pháp có tính định lượng, khả thi cao.
    2. Tăng cường giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời xử lý các thông tư liên tịch, văn bản hướng dẫn có dấu hiệu trái luật.
    3. Nâng cao hiệu quả chất vấn và trả lời chất vấn đối với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC và Bộ trưởng Bộ Công an, bảo đảm tính tranh luận thực chất và theo dõi kết quả thực hiện lời hứa sau chất vấn.
    4. Nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề và việc ban hành nghị quyết sau giám sát chuyên đề trong tố tụng hình sự.
    5. Hoàn thiện cơ chế, quy trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn trong các cơ quan tư pháp.
    6. Tăng cường vai trò điều hòa, phối hợp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc phân công, chỉ đạo chương trình giám sát tư pháp.
    7. Hoàn thiện cơ chế giám sát tổng thể, phân định rõ ranh giới giữa giám sát tư pháp với sự can thiệp vào thẩm quyền xét xử độc lập của Tòa án.
    8. Tăng cường liêm chính tư pháp, xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm giải trình của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán.
    9. Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, công khai hóa kết quả xử lý đơn thư trong hoạt động tố tụng hình sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về nguyên tắc giám sát trong tố tụng hình sự; làm rõ 5 đặc điểm cấu thành về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và hệ quả pháp lý.
  • Phân định rõ mô hình giám sát 3 tầng nấc: giám sát nội bộ ngành tố tụng, giám sát mang tính quyền lực nhà nước của cơ quan dân cử và giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc cùng nhân dân.
  • Luận giải thấu đáo cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tăng cường giám sát với việc bảo đảm tính độc lập xét xử của Tòa án và hiệu lực của bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách

  • Hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam về giám sát tố tụng từ năm 1945 đến năm 2018, chỉ rõ các bước chuyển biến lập pháp qua các bản Hiến pháp và BLTTHS.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn giám sát giai đoạn 2003–2018 dựa trên các số liệu báo cáo tư pháp chính thức, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng chồng chéo chủ thể, hình thức giám sát chưa phát huy hiệu quả và thiếu hụt cơ chế tiếp cận thông tin.
  • Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ, từ việc nâng cao chất lượng thảo luận báo cáo, giám sát chuyên đề, chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm cho đến việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm liêm chính tư pháp và độc lập xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi đối tượng: Mặc dù nghiên cứu toàn bộ cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), luận án dành dung lượng chủ yếu cho Tòa án và hoạt động xét xử do xác định Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm của tư pháp. Do đó, các hoạt động giám sát đặc thù đối với các giai đoạn điều tra ban đầu hoặc các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chưa được phân tích sâu ở mức tương đương.
  • Về phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn từ khi thi hành BLTTHS năm 2003 đến năm 2018. Thời điểm hoàn thành luận án trùng vào giai đoạn đầu thi hành BLTTHS năm 2015, do đó nhiều quy định mới của đạo luật này chưa có đủ độ lùi thời gian và số liệu tổng kết thực tiễn để đánh giá toàn diện.
  • Về phạm vi luật so sánh: Luận án chỉ khảo cứu cơ chế giám sát tại 4 quốc gia điển hình (Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc, Nga), chưa bao quát hết các mô hình tư pháp tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu thực tiễn thi hành Điều 33 BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay để đánh giá tác động của các quy chuẩn mới đối với hoạt động tố tụng hình sự.
  • Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế giám sát đối với giai đoạn tiền tố tụng và hoạt động điều tra hình sự của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra.
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế giám sát xã hội và vai trò của các tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông, báo chí đối với việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên luật chuyên ngành Tư pháp hình sự, Luật Tố tụng hình sự và Luật Hiến pháp khi tiếp cận các chuyên đề về nguyên tắc tố tụng, quyền tư pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan dân cử: Cung cấp luận cứ khoa học cho đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Ban Pháp chế HĐND trong việc hoàn thiện quy trình thẩm tra báo cáo, tổ chức giám sát chuyên đề và xây dựng nghị quyết giám sát tư pháp.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng: Giúp đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán nhận thức đúng đắn về trách nhiệm giải trình và mối quan hệ giữa việc chịu sự giám sát dân chủ với việc giữ vững nguyên tắc độc lập xét xử theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử được quy định tại điều luật nào trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam?

Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi nhận thành một điều luật độc lập tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nguyên tắc này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện tại Điều 33.

2. Luận án phân định cơ chế giám sát hoạt động tố tụng hình sự thành những nhóm chủ thể nào?

Luận án phân định cơ chế giám sát thành 3 tầng nấc tương ứng với 3 nhóm chủ thể:

  1. Nhóm chủ thể bên trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng (hoạt động kiểm tra nội bộ của cấp trên với cấp dưới và hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát).
  2. Nhóm chủ thể bên ngoài mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực HĐND, Ban Pháp chế, đại biểu HĐND).
  3. Nhóm chủ thể bên ngoài không mang tính quyền lực nhà nước thực hiện giám sát xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí và công dân).

3. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc giám sát trong giai đoạn 2003–2018 bộc lộ những hạn chế chủ yếu nào?

Theo phân tích của luận án, thực tiễn thi hành bộc lộ 5 hạn chế chính:

  • Chủ thể giám sát quá nhiều và có sự chồng chéo (gần 15 loại cơ quan từ trung ương đến cấp xã);
  • Thẩm quyền và địa vị pháp lý của một số chủ thể (như Đoàn đại biểu Quốc hội) chưa thực sự rõ ràng;
  • Một số hình thức giám sát luật định chưa được thực hiện đầy đủ trên thực tế (như bỏ phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan tư pháp, thành lập Ủy ban lâm thời);
  • Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, hồ sơ vụ án còn hạn chế;
  • Ranh giới giữa hoạt động giám sát của cơ quan dân cử và việc can thiệp vào nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án đôi khi còn thiếu rành mạch.

4. Luận án chỉ ra các yếu tố nào tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện nguyên tắc giám sát?

Luận án xác định 5 yếu tố cấu thành tác động đến hiệu quả thực hiện nguyên tắc:

  1. Mô hình tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước;
  2. Cơ chế giám sát hoạt động tố tụng được thiết lập;
  3. Mức độ hoàn thiện, đồng bộ của hệ thống pháp luật;
  4. Định hướng mô hình tố tụng hình sự (thẩm vấn hay tranh tụng);
  5. Mức độ minh bạch và việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong tố tụng hình sự.

5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với tư pháp?

Luận án đề xuất các giải pháp then chốt gồm: nâng cao chất lượng thẩm tra và thảo luận báo cáo công tác của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC tại kỳ họp Quốc hội; tăng cường giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp; nâng cao tính thực chất của hoạt động chất vấn và theo dõi thực hiện lời hứa sau chất vấn; hoàn thiện quy trình bỏ phiếu tín nhiệm; và phát huy vai trò chỉ đạo, điều hòa chương trình giám sát tư pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Đức Hiếu đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Thông qua việc phân tích chuẩn tắc pháp lý, khảo cứu lịch sử lập pháp và tổng hợp số liệu thực tiễn giai đoạn 2003–2018, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của nguyên tắc như một phương châm chỉ đạo xuyên suốt tiến trình tố tụng hình sự. Các kết luận khoa học và 9 nhóm giải pháp được luận án đề xuất là nguồn tư liệu có giá trị cho việc tiếp tục hoàn thiện thể chế tư pháp, nâng cao hiệu lực giám sát quyền lực và bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.