Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tố tụng dân sự (TTDS), chứng minh là hoạt động cơ bản, giữ vai trò xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự (VVDS). Để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, các chủ thể tố tụng bao gồm đương sự, Tòa án và Viện kiểm sát (VKS) phải thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập, giao nộp chứng cứ. Tuy nhiên, trên thực tế, các chủ thể này không phải lúc nào cũng nắm giữ sẵn sàng toàn bộ tài liệu, chứng cứ cần thiết. Nhiều tài liệu quan trọng lại thuộc quyền lưu giữ, quản lý của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân thứ ba. Nhằm tạo cơ chế pháp lý hỗ trợ quá trình chứng minh, pháp luật TTDS đã quy định quyền yêu cầu và xác lập trách nhiệm của các chủ thể nắm giữ tài liệu thông qua nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Nguyên tắc này được ghi nhận lần đầu tại Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 và tiếp tục được kế thừa, hoàn thiện tại Điều 7 BLTTDS năm 2015. Mặc dù đóng vai trò bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự và hỗ trợ Tòa án ra phán quyết chính xác, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định hiện hành vẫn tồn tại nhiều vướng mắc cả về phương diện lập pháp lẫn khâu tổ chức thi hành, làm giảm sút hiệu lực thực tế của nguyên tắc.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Xây dựng và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong TTDS (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở lý luận - pháp lý - thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng).
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật TTDS hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hoạt động cung cấp tài liệu, chứng cứ của các chủ thể có thẩm quyền.
- Đánh giá hiệu quả thực hiện quy định của BLTTDS năm 2015 trong thực tiễn xét xử, chỉ ra những kết quả đạt được cùng các tồn tại, hạn chế phát sinh.
- Xây dựng các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS năm 2015 cùng các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành có liên quan.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học cho các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu, cán bộ thực tiễn và người học chuyên ngành luật.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp; quan điểm học thuật và học thuyết pháp lý; quy định pháp luật TTDS của Việt Nam (trọng tâm là BLTTDS năm 2015) và một số quốc gia; các bản án, quyết định của Tòa án hoặc các vụ việc dân sự liên quan từ ngày 01/7/2016 đến nay. Về phạm vi không gian, đề tài tập trung vào pháp luật Việt Nam, có mở rộng đối chiếu với quy định của Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Về phạm vi thời gian, đề tài khảo sát các quy định từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, BLTTDS năm 2004, BLTTDS sửa đổi năm 2011 đến BLTTDS năm 2015 và thực tiễn xét xử từ ngày 01/7/2016 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết đa tầng, gắn liền với các học thuyết pháp lý và quy định của pháp luật thực định:
- Cơ sở lý luận về chứng minh và chứng cứ: Xuất phát từ lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin, việc xác định sự thật khách quan đòi hỏi phải xem xét các tình tiết vụ việc dân sự trong mối liên hệ phổ biến và toàn diện. Mọi tài liệu, chứng cứ do đương sự, Tòa án, VKS hoặc bên thứ ba nắm giữ đều phải được thu thập đầy đủ để phục vụ đánh giá khách quan.
- Lý luận về quyền tiếp cận công lý: Tiếp cận công lý trong TTDS đòi hỏi thủ tục tố tụng phải bảo đảm 5 khía cạnh cốt lõi: kết quả công bằng, đúng đắn; cân bằng giữa chi phí và lợi ích; bảo đảm quyền tham gia và quyền tự định đoạt; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; và các bên được đối xử với sự tôn trọng. Việc cung cấp chứng cứ kịp thời là điều kiện tiên quyết để đương sự thực hiện quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
- Lý luận về chức năng của Nhà nước và nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước: Nhà nước có chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát (khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013) buộc các cơ quan hành chính, tổ chức nắm giữ tài liệu phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án.
- Cơ sở pháp lý: Điều 14, Điều 25 Hiến pháp năm 2013; các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (Điều 3, Điều 6, Điều 7, Điều 33); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Điều 7, Điều 106, Điều 489, Điều 495 BLTTDS năm 2015; cùng các quy định pháp luật nước ngoài như Điều 11 BLTTDS Cộng hòa Pháp và Điều 65 Luật TTDS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1991.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh luật học. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, luận án, bài báo khoa học và Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong tố tụng dân sự
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng. Khái niệm nguyên tắc trong khoa học pháp lý được phân định thành "nguyên tắc định hướng" (nhân tố chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật) và "nguyên tắc quy phạm" (được ghi nhận trong pháp luật thực định và có hiệu lực bắt buộc). Trong TTDS, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ mang ba đặc điểm chính:
- Là tư tưởng pháp lý chỉ đạo định hướng cho việc xây dựng và thực thi các quy định về cung cấp, thu thập chứng cứ, phản ánh cả tính khách quan của quan hệ xã hội lẫn ý chí của nhà lập pháp, mang tính giai cấp và có tính ổn định tương đối cùng hiệu lực pháp lý cao.
- Mang tính bắt buộc thực hiện, chứa đựng yếu tố mệnh lệnh và là căn cứ xác lập chế tài xử lý vi phạm.
- Là cơ sở bảo đảm quyền thu thập chứng cứ của đương sự, đồng thời xác lập nghĩa vụ phối hợp của Tòa án, VKS và các chủ thể quản lý thông tin.
Khóa luận tiến hành so sánh tính chất của nghĩa vụ/trách nhiệm này giữa TTDS với tố tụng hình sự (TTHS) và tố tụng hành chính (TTHC):
| Tiêu chí |
Tố tụng dân sự (TTDS) |
Tố tụng hình sự (TTHS) |
Tố tụng hành chính (TTHC) |
| Vị trí quy định |
Được xác lập thành một điều luật nguyên tắc cơ bản độc lập (Điều 7 BLTTDS 2015). |
Không quy định thành điều luật nguyên tắc riêng, lồng ghép vào quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể. |
Được quy định thành nguyên tắc cơ bản tương đồng với TTDS. |
| Chủ thể có quyền yêu cầu |
Đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát. |
Chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi. |
Đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát. |
| Chủ thể có trách nhiệm cung cấp |
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đang lưu giữ, quản lý tài liệu. |
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội nắm giữ thông tin vụ án hình sự. |
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (chính chủ thể này có thể là người bị kiện/đương sự). |
| Phương thức thực hiện |
Thực hiện dưới hình thức thụ động (chỉ cung cấp khi có văn bản yêu cầu). |
Thực hiện dưới cả hai hình thức: chủ động giao nộp và thụ động theo yêu cầu. |
Thực hiện dưới hình thức thụ động khi có yêu cầu hợp pháp. |
Về phương diện ý nghĩa, nguyên tắc đóng vai trò chỉ đạo lập pháp, định hướng cho các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ nhanh chóng, hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh, bảo đảm Tòa án ra phán quyết đúng pháp luật (tránh làm oan người vô tội theo tư tưởng pháp lý của Blackstone) và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của xã hội. Các yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả thực thi nguyên tắc được chỉ ra gồm: tính đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật; sự tinh gọn của thủ tục hành chính; ý thức pháp lý của cán bộ thực thi; mức độ phối hợp liên ngành; và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ, cung cấp dữ liệu điện tử.
Chương 2: Nội dung pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Chương 2 phân tích chi tiết các quy định thực định của BLTTDS năm 2015 và các đạo luật chuyên ngành:
- Chủ thể có quyền yêu cầu: Đương sự có quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ việc, miễn là còn trong thời hạn giao nộp chứng cứ. Tòa án chỉ tiến hành thu thập hoặc ra quyết định yêu cầu khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu thập được và có đơn đề nghị, hoặc trong các trường hợp luật định. Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu nhằm phục vụ công tác kiểm sát tố tụng.
- Trách nhiệm của các chủ thể theo luật chuyên ngành:
- Quản lý dân cư: Khoản 5 Điều 6 Luật Căn cước công dân năm 2014 quy định trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân (họ tên, ngày sinh, nơi thường trú, thông tin nhân thân cha mẹ, vợ chồng...).
- Nhà ở: Khoản 3 Điều 166 Luật Nhà ở năm 2014 quy định trách nhiệm cung cấp cơ sở dữ liệu về nhà ở thuộc quyền quản lý của Bộ Xây dựng hoặc cơ quan quản lý cấp tỉnh, cấp huyện.
- Doanh nghiệp: Khoản 1 Điều 33 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
- Trọng tài thương mại: Khoản 5 Điều 21 và khoản 1 Điều 28 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định nghĩa vụ bảo mật của trọng tài viên và trách nhiệm cung cấp bản sao phán quyết trọng tài cho cơ quan có thẩm quyền.
- Phá sản: Khoản 1 Điều 7 Luật Phá sản năm 2014 ấn định thời hạn 15 ngày để các chủ thể liên quan cung cấp tài liệu cho Tòa án, VKS, Quản tài viên.
- Giới hạn và loại trừ trách nhiệm:
- Giới hạn trách nhiệm: Đối với bí mật kinh doanh (khoản 23 Điều 4, Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018) và bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015), chủ thể lưu giữ chỉ cung cấp khi có sự đồng ý của chủ sở hữu, trừ trường hợp người đứng đầu cơ quan quyết định cung cấp vì lợi ích công cộng, sức khỏe cộng đồng theo khoản 3 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
- Loại trừ trách nhiệm: Thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước bị cấm cung cấp (Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016); thông tin không có khả năng cung cấp do sự kiện bất khả kháng (như hỏa hoạn làm thiêu hủy hồ sơ) hoặc phụ thuộc vào kết quả của một vụ việc chưa giải quyết xong. Khoản 3 Điều 106 BLTTDS năm 2015 khẳng định việc bị xử lý hành chính hay hình sự không làm chấm dứt nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án.
- Trình tự, thủ tục: Thời hạn thực hiện là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Quy trình bao gồm 3 bước: (1) Tiếp nhận yêu cầu; (2) Xử lý yêu cầu (kiểm tra thể thức, nội dung, tính hợp pháp và thông báo nghĩa vụ tài chính nếu có); (3) Trả kết quả (bàn giao chứng cứ kèm biên bản theo mẫu hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP, hoặc ban hành văn bản từ chối nêu rõ lý do).
- Hệ thống chế tài xử lý vi phạm:
| Loại chế tài |
Căn cứ pháp lý |
Phạm vi và mức độ xử lý |
| Kỷ luật |
Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP (khoản 1 Điều 6, Điều 7). |
Áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật khi thi hành công vụ. Đối với người lao động tại doanh nghiệp, việc xử lý căn cứ theo nội quy lao động (thực tế rất hiếm áp dụng). |
| Xử phạt hành chính |
Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (khoản 1 Điều 18); Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 16, Điều 19, Điều 69). |
- Theo Pháp lệnh 02/2022: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 200.000 đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức. - Người giám định vi phạm bị phạt từ 3.000.000 đến 7.000.000 đồng. - Trung tâm trọng tài không cung cấp bản sao phán quyết bị phạt từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng. - Vi phạm trong lĩnh vực phá sản bị phạt từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng. |
| Hình sự |
Điều 383 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu). |
Áp dụng với chủ thể đặc biệt (người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật). Mức phạt: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm; hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 đến 05 năm. |
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và một số kiến nghị
Chương 3 phản ánh bức tranh thực tiễn xét xử thông qua các số liệu chính thức của ngành Tòa án năm 2022:
- Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, giải quyết và xét xử được 386.944 vụ việc, đạt tỷ lệ 87,07% (vượt 0,07% so với chỉ tiêu đề ra). So với năm 2021, số thụ lý tăng 33.103 vụ, số giải quyết xét xử tăng 63.131 vụ.
- Phân tích theo cấp xét xử: thụ lý sơ thẩm 426.279 vụ việc, giải quyết 370.676 vụ việc; thụ lý phúc thẩm 17.165 vụ việc, giải quyết 15.430 vụ việc; thụ lý giám đốc thẩm, tái thẩm 958 vụ việc, giải quyết 938 vụ việc. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (nguyên nhân chủ quan chiếm 0,4%); tỷ lệ bị sửa là 1,2% (nguyên nhân chủ quan chiếm 0,59%).
- Về công tác ủy thác tư pháp thu thập chứng cứ ở nước ngoài: TAND cấp cao và TAND cấp tỉnh đã chuyển 4.769 hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài, nhưng chỉ nhận được kết quả trả lời đối với 1.529 trường hợp, đạt tỷ lệ khiêm tốn 32,1%.
- Các tranh chấp dân sự chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đất đai, thừa kế tài sản, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng.
Bên cạnh kết quả đạt được, khóa luận chỉ rõ các rào cản thực tiễn: việc chậm trễ hoặc từ chối cung cấp chứng cứ từ các cơ quan quản lý nhà nước là nguyên nhân phổ biến khiến thời hạn xét xử bị kéo dài; nhiều cơ quan né tránh trách nhiệm, không phản hồi hoặc không có văn bản nêu rõ lý do từ chối. Mặc dù Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 đã có hiệu lực, mức phạt tiền từ 100.000 đến 2.000.000 đồng còn quá thấp so với giá trị tranh chấp, chưa đủ sức răn đe. Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh này loại trừ việc xử phạt hành chính đối với cán bộ, công chức vi phạm khi thi hành công vụ (chuyển sang xử lý kỷ luật), dẫn đến sự thiếu hụt công cụ cưỡng chế trực tiếp từ phía Tòa án. Tác giả kiến nghị hoàn thiện các quy định về quy trình phối hợp liên ngành, siết chặt thời hạn giải trình và nâng cao tính khả thi của chế tài đối với các cơ quan lưu giữ chứng cứ.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn chính thức: Khóa luận trích xuất và phân tích toàn diện số liệu xét xử năm 2022 của hệ thống Tòa án (444.402 vụ việc thụ lý, 386.944 vụ giải quyết; tỷ lệ hủy án 0,61%, sửa án 1,2%; tỷ lệ phản hồi ủy thác tư pháp quốc tế 32,1%), chỉ rõ mối liên hệ giữa việc chậm cung cấp chứng cứ và tình trạng án bị kéo dài, hủy, sửa.
- Làm rõ ranh giới pháp lý giữa bảo mật thông tin và nghĩa vụ tố tụng: Khóa luận xác lập chi tiết các căn cứ loại trừ, giới hạn trách nhiệm cung cấp thông tin (bí mật kinh doanh, bí mật đời tư cá nhân, bí mật nhà nước, sự kiện bất khả kháng), chỉ rõ các xung đột quy định giữa BLTTDS năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
- Đóng góp mới so với các công trình nghiên cứu trước:
- Khác với các cuốn sách bình luận khoa học (Tường Duy Lượng năm 2016; Nguyễn Hoài Phương và Nguyễn Văn Tiến năm 2016; Bùi Thị Huyền năm 2017; Trần Anh Tuấn năm 2017) vốn chỉ dừng lại ở phân tích thuần túy điều luật, đề tài luận giải sâu sắc cả phương diện lý luận và vướng mắc thực thi.
- Khác với công trình của Nguyễn Thị Thu Hà (năm 2022) chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của riêng đương sự, khóa luận mở rộng xem xét trách nhiệm phối hợp đối với Tòa án và Viện kiểm sát.
- Khác với các luận văn của Ngũ Thị Như Hoa (năm 2014) và Nguyễn Thùy Linh (năm 2018) vốn nghiên cứu dưới góc độ BLTTDS năm 2004, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, cập nhật toàn diện theo khung pháp lý của BLTTDS năm 2015, Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 và Nghị định số 112/2020/NĐ-CP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về không gian và điều kiện tiếp cận tư liệu, phạm vi so sánh pháp luật quốc tế của đề tài mới chỉ dừng lại ở mô hình tố tụng của Pháp và Trung Quốc. Đồng thời, nguồn số liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào báo cáo tổng kết năm 2022 của ngành Tòa án; đề tài chưa thể thống kê định lượng số vụ việc cụ thể mà các cơ quan hành chính từ chối cung cấp chứng cứ do ngành Tòa án chưa có hệ thống thống kê riêng cho chỉ số này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) về cơ chế phát hiện chứng cứ (discovery); đồng thời đi sâu nghiên cứu cơ chế tiếp cận, trích xuất và cung cấp chứng cứ điện tử trong bối cảnh xây dựng Tòa án điện tử và tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên, học viên luật: Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho học phần Luật Tố tụng dân sự, đặc biệt là chế định chứng minh và chứng cứ; cung cấp phương pháp tiếp cận đa ngành giữa lý luận tố tụng, luật hành chính và luật dân sự thực định.
- Đối với người hành nghề thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Đề tài cung cấp hướng dẫn rõ ràng về thẩm quyền, căn cứ yêu cầu, thủ tục bàn giao chứng cứ theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP và các quy định chuyên ngành (nhà ở, căn cước, doanh nghiệp, trọng tài, phá sản) để phục vụ việc thu thập tài liệu trong tố tụng.
- Đối với công tác lập pháp: Phần phân tích bất cập về chế tài tại Chương 2 và Chương 3 cung cấp luận cứ thực tiễn hữu ích cho việc sửa đổi, bổ sung BLTTDS và Pháp lệnh xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Đương sự và Tòa án có sự khác biệt như thế nào về quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ?
Theo Điều 7 và Điều 106 BLTTDS năm 2015, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ việc, miễn là còn trong thời hạn giao nộp chứng cứ. Ngược lại, phạm vi quyền yêu cầu của Tòa án hẹp hơn: Tòa án chỉ ra quyết định yêu cầu khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà vẫn không thu thập được và có văn bản đề nghị Tòa án hỗ trợ, hoặc trong những trường hợp cụ thể khác do pháp luật quy định nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt và nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
2. Những trường hợp nào cơ quan, tổ chức, cá nhân được giới hạn hoặc loại trừ trách nhiệm cung cấp chứng cứ?
Trách nhiệm cung cấp chứng cứ bị giới hạn khi tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh (khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) hoặc bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015) — các trường hợp này bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ sở hữu, trừ khi người đứng đầu cơ quan nhà nước cho phép cung cấp vì lợi ích công cộng theo khoản 3 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Trách nhiệm được loại trừ khi tài liệu thuộc bí mật nhà nước bị cấm cung cấp (Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016) hoặc trong trường hợp không có khả năng cung cấp do sự kiện bất khả kháng (như hồ sơ bị thiêu hủy do hỏa hoạn).
3. Thời hạn và quy trình cung cấp chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền diễn ra như thế nào?
Theo quy định tại BLTTDS năm 2015 và Luật Phá sản năm 2014, thời hạn thực hiện là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu. Quy trình gồm 3 bước: (1) Tiếp nhận yêu cầu bằng văn bản; (2) Xử lý yêu cầu (kiểm tra tính hợp pháp, đối chiếu các trường hợp cấm tiếp cận và thông báo nghĩa vụ tài chính nếu có); (3) Trả kết quả: chuyển giao tài liệu lập biên bản theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP, hoặc nếu không thể cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho người yêu cầu.
4. Hành vi không cung cấp hoặc cản trở cung cấp tài liệu, chứng cứ bị xử lý theo những chế tài nào?
Pháp luật quy định 3 nhóm chế tài:
- Kỷ luật: Áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm công vụ theo Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 112/2020/NĐ-CP; người lao động xử lý theo nội quy lao động.
- Xử phạt hành chính: Theo Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15, phạt từ 100.000 đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức; người giám định vi phạm bị phạt từ 3.000.000 đến 7.000.000 đồng (Nghị định 82/2020/NĐ-CP).
- Hình sự: Áp dụng Điều 383 BLHS năm 2015 đối với các chủ thể đặc biệt (người làm chứng, giám định, định giá, dịch thuật) từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, với mức phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Kết quả giải quyết án dân sự năm 2022 của ngành Tòa án phản ánh những số liệu nào?
Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 của TAND tối cao, Tòa án các cấp thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, giải quyết và xét xử 386.944 vụ việc (đạt tỷ lệ 87,07%). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (chủ quan 0,4%); tỷ lệ bị sửa là 1,2% (chủ quan 0,59%). Đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, TAND cấp cao và cấp tỉnh đã chuyển 4.769 hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng chỉ nhận được phản hồi đối với 1.529 trường hợp, đạt tỷ lệ 32,1%.
Kết luận
Khóa luận đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của BLTTDS năm 2015. Thông qua việc phân tích các chế định liên ngành và khảo sát số liệu xét xử năm 2022, tác giả đã chỉ rõ các vướng mắc về thẩm quyền, thời hạn xử lý cũng như những khoảng trống trong cơ chế chế tài hành chính và kỷ luật hiện hành. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất trong công trình mang tính khả thi cao, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho đương sự và nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của cơ quan tư pháp.