Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự (TTHS) giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh trật tự và là công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thiết lập hệ thống các biện pháp ngăn chặn (BPNC), trong đó tạm giữ là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Biện pháp này cho phép cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, chống trốn tránh, tiêu hủy chứng cứ và ổn định trật tự xã hội. Tuy nhiên, do bản chất tạm giữ trực tiếp hạn chế các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận (quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại), việc áp dụng đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện, trình tự pháp luật nhằm tránh lạm quyền, xâm phạm quyền con người. Xuất phát từ những bất cập giữa quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn thi hành, tác giả Hoàng Nghĩa Đạt đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hải Ninh với đề tài: "Biện pháp ngăn chặn tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng trên thực tế.
Để hiện thực hóa mục đích trên, khóa luận xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến BPNC và biện pháp tạm giữ trong TTHS.
- Phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ (đối tượng, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn), đồng thời so sánh, đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để chỉ ra những điểm kế thừa và tiến bộ.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ trong giai đoạn 2018 – 2022 trên phạm vi cả nước; xác định nguyên nhân của các hạn chế, vướng mắc.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi biện pháp tạm giữ trên thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS về BPNC tạm giữ và thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khái niệm, ý nghĩa, nội dung quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có so sánh với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) và số liệu thực tiễn thi hành trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến hết năm 2022.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền (đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị).
Khung pháp lý trực tiếp được tác giả khai thác bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (trọng tâm là Điều 14 về giới hạn hạn chế quyền con người, Điều 20 về quyền bất khả xâm phạm thân thể).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các điều khoản trọng yếu: Điều 13 về nguyên tắc suy đoán vô tội, Điều 59, Điều 109, Điều 110, Điều 111, Điều 117, Điều 118, Điều 125).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 81, Điều 86) phục vụ việc so sánh lịch sử lập pháp.
- Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
- Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định về truy nã.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các bộ luật qua từng thời kỳ), và phương pháp thống kê, xử lý số liệu thực tiễn tư pháp.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được trích xuất từ Báo cáo tổng kết công tác ngành Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong giai đoạn 5 năm (2018 – 2022), cùng hệ thống giáo trình đào tạo cử nhân luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội), các công trình luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học chuyên ngành trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ
Chương 1 tập trung phân tích bản chất lý luận của biện pháp tạm giữ và giải mã chi tiết các điều luật điều chỉnh chế định này trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
-
Về mặt lý luận: Tác giả tổng thuật 06 quan điểm khoa học pháp lý khác nhau về khái niệm tạm giữ, từ đó khái quát 04 đặc trưng bản chất của BPNC tạm giữ:
- Tính cưỡng chế nhà nước: Mang tính quyền lực công, bắt buộc người bị áp dụng phải phục tùng nhằm phục vụ hoạt động chứng minh tội phạm.
- Hạn chế quyền con người có giới hạn: Chỉ áp dụng trong phạm vi luật định vì lý do an ninh trật tự theo Điều 14 Hiến pháp 2013, đồng thời người bị tạm giữ vẫn được pháp luật bảo đảm các quyền tố tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13).
- Tính chuyển tiếp, quá độ: Thường áp dụng ngay sau biện pháp bắt (trừ bắt bị can, bị cáo để tạm giam) nhằm giữ người trong thời gian cơ quan điều tra thu thập chứng cứ ban đầu để xem xét khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc trả tự do.
- Thời hạn ngắn: Được thiết kế tối đa không quá 09 ngày để tránh lạm quyền giam giữ công dân khi chưa đủ căn cứ khởi tố.
Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh: Tạm giữ là BPNC trong TTHS tạm thời hạn chế quyền tự do đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã trong thời gian ngắn (tối đa 09 ngày) nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn cản trở điều tra và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền phân loại, xử lý.
-
Phân biệt với các biện pháp tương đồng:
- So với tạm giam: Tạm giam chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo; thẩm quyền áp dụng hẹp hơn; thời hạn dài hơn. Tạm giữ áp dụng chủ yếu đối với người chưa bị khởi tố hoặc người bị truy nã; thời hạn ngắn.
- So với tạm giữ hành chính: Tạm giữ hành chính áp dụng khi có vi phạm hành chính (gây rối trật tự, bạo lực gia đình, buôn lậu...); thẩm quyền xử phạt rộng hơn; quyết định tạm giữ hành chính không phải gửi Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn hay kiểm sát như trong TTHS.
-
Nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Đối tượng áp dụng (Điều 117): Bao gồm 04 nhóm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (sửa đổi thuật ngữ từ "người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp" của luật cũ); người bị bắt khi phạm tội quả tang (Điều 111); người phạm tội tự thú, đầu thú; người bị bắt theo quyết định truy nã.
- Căn cứ áp dụng: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra (tiêu hủy tài liệu, xóa dấu vết); hoặc có căn cứ chứng tỏ họ sẽ tiếp tục phạm tội (dựa trên nhân thân tái phạm, côn đồ, đe dọa người làm chứng/bị hại).
- Thẩm quyền áp dụng (khoản 2 Điều 117 dẫn chiếu khoản 2 Điều 110): Mở rộng thêm thẩm quyền cho các lực lượng chuyên trách trên biển, biên giới như Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh/thành phố, Cục trưởng Cục trinh sát BP, Cục trưởng Cục phòng chống ma túy và tội phạm BP, Tư lệnh vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật CSB, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng, Chỉ huy tàu bay/tàu biển khi đã rời sân bay, bến cảng.
- Thủ tục và thời hạn (Điều 117, 118): Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày. Trường hợp cần thiết được gia hạn lần 1 tối đa 03 ngày; trường hợp đặc biệt được gia hạn lần 2 tối đa 03 ngày (tổng cộng tối đa 09 ngày). Mọi trường hợp gia hạn phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ. Quyết định tạm giữ ban đầu phải gửi Viện kiểm sát trong vòng 12 giờ kể từ khi ban hành. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam và chấp hành hình phạt (01 ngày tạm giữ = 01 ngày tù = 03 ngày cải tạo không giam giữ).
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp tạm giữ và các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng
Chương 2 tổng hợp số liệu thực tế giai đoạn 2018 – 2022, đánh giá ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân tồn tại từ góc độ lập pháp và thực thi.
- Tình hình áp dụng và kết quả đạt được: Trong 5 năm (2018 – 2022), tổng số người bị áp dụng biện pháp tạm giữ trên cả nước là 356.750 người. Xu hướng áp dụng tăng dần qua các năm, phản ánh tình hình tội phạm ma túy, giết người, côn đồ có diễn biến phức tạp.
| Năm | Tổng số người bị tạm giữ | Người bị giữ khẩn cấp | Người bị bắt quả tang | Người tự thú, đầu thú / phân loại khác | Người bị bắt theo truy nã |
|---|---|---|---|---|---|
| 2018 | 62.127 | 2 | 19.102 | 41.431 | 1.592 |
| 2019 | 67.018 | 1 | 19.908 | 45.402 | 1.707 |
| 2020 | 76.685 | 3 | 20.054 | 54.572 | 2.056 |
| 2021 | 75.300 | 3 | 22.156 | 51.170 | 1.971 |
| 2022 | 75.620 | 5 | 21.540 | 52.207 | 1.868 |
| Tổng | 356.750 | 14 | 102.760 | 244.782 | 9.194 |
Công tác giải quyết người bị tạm giữ đạt tỷ lệ rất cao, trung bình đạt 98,9% (352.806 / 356.750 người). Trong số đã giải quyết, tỷ lệ người bị tạm giữ đủ căn cứ khởi tố và chuyển sang tạm giam chiếm đa số với 238.010 người (đạt tỷ lệ 67,5%), tăng dần từ 64,1% (năm 2018) lên 71,1% (năm 2022).
| Năm | Tổng số người bị tạm giữ | Đã giải quyết | Tỷ lệ giải quyết (%) | Khởi tố và chuyển tạm giam | Tỷ lệ chuyển tạm giam (%) |
|---|---|---|---|---|---|
| 2018 | 62.127 | 61.342 | 98,7% | 39.333 | 64,1% |
| 2019 | 67.018 | 66.349 | 99,0% | 43.625 | 65,8% |
| 2020 | 76.685 | 76.027 | 99,1% | 50.454 | 66,4% |
| 2021 | 75.300 | 74.659 | 99,1% | 51.665 | 69,2% |
| 2022 | 75.620 | 74.429 | 98,4% | 52.933 | 71,1% |
| Tổng | 356.750 | 352.806 | 98,9% | 238.010 | 67,5% |
-
Hạn chế và nguyên nhân:
- Tình trạng trả tự do do không cấu thành tội phạm hoặc xử lý hành chính: Có 5.164 người bị tạm giữ sau đó được trả tự do không xử lý hình sự (chiếm 1,5% số người đã giải quyết; năm 2018: 1.313 người; 2019: 1.107 người; 2020: 1.307 người; 2021: 835 người; 2022: 602 người). Nguyên nhân chủ yếu do việc xác minh ban đầu chưa kỹ, kết quả giám định mẫu vật không phải ma túy hoặc không đủ định lượng cấu thành tội phạm.
- Số lượng tạm giữ tồn đọng chưa giải quyết dứt điểm: Còn 3.944 trường hợp (chiếm 1,1% tổng số; năm 2018: 785 người; 2019: 669 người; 2020: 658 người; 2021: 641 người; 2022: 1.191 người).
-
Các bất cập từ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Mâu thuẫn về thẩm quyền: Khoản 2 Điều 117 quy định người có thẩm quyền ra lệnh giữ người tại khoản 2 Điều 110 có quyền ra quyết định tạm giữ. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 110 lại quy định người chỉ huy tàu bay, tàu biển (điểm c khoản 2 Điều 110) sau khi giữ người khẩn cấp phải giải ngay về CQĐT mà không được trực tiếp ra quyết định tạm giữ.
- Bất cập về trình tự giữ người và bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Điều 109 quy định bắt người bị giữ khẩn cấp, nhưng Điều 110 và 117 lại quy định trong vòng 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc lệnh bắt, dẫn đến việc trên thực tế có cách hiểu khác nhau: ra quyết định tạm giữ trước, ra lệnh bắt trước hay ban hành đồng thời cả hai lệnh.
- Vướng mắc về cách tính thời gian giữ khẩn cấp vào thời hạn tạm giữ: Khoản 1 Điều 118 tính thời hạn tạm giữ từ khi CQĐT nhận người hoặc áp giải về trụ sở. Khoảng thời gian từ lúc lập biên bản giữ người khẩn cấp đến khi áp giải về trụ sở (đặc biệt ở vùng sâu, biên giới, hải đảo) hoặc khoảng thời gian chưa có quyết định tạm giữ chưa được quy định rõ để khấu trừ vào thời hạn tạm giam, gây bất lợi cho người bị giữ. Đồng thời, luật chưa dự liệu việc áp giải thẳng về cơ sở giam giữ (Nhà tạm giữ, Trại tạm giam).
- Căn cứ gia hạn tạm giữ mang tính định tính: Tiêu chí "trường hợp cần thiết" (gia hạn lần 1) và "trường hợp đặc biệt" (gia hạn lần 2) tại khoản 2 Điều 118 chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc gia hạn phụ thuộc vào ý chí chủ quan, cảm tính của người tiến hành tố tụng.
- Căn cứ trả tự do chưa đồng bộ: Khoản 3 Điều 118 chỉ quy định trả tự do khi "không đủ căn cứ khởi tố bị can", chưa bao quát trường hợp trong quá trình tạm giữ nhận thấy hành vi không còn tính nguy hiểm cho xã hội hoặc không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ theo tinh thần hủy bỏ BPNC tại Điều 125.
Kết quả và đóng góp
-
Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về biện pháp ngăn chặn tạm giữ, phân định rõ ranh giới pháp lý giữa tạm giữ trong TTHS với tạm giam và tạm giữ hành chính.
- Đưa ra bức tranh số liệu xác thực về tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ trên quy mô cả nước từ năm 2018 đến 2022: tổng số 356.750 người bị tạm giữ; tỷ lệ giải quyết đạt 98,9%; tỷ lệ chuyển khởi tố, tạm giam đạt 67,5%; số người được trả tự do do không xử lý hình sự là 5.164 người (1,5%); số tồn đọng là 3.944 người (1,1%).
- Định vị chính xác 05 điểm nghẽn quy phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ảnh hưởng đến quyền tự do thân thể của công dân.
-
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện lập pháp: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng đồng bộ hóa quy định thẩm quyền tạm giữ của người chỉ huy tàu bay, tàu biển; chuẩn hóa quy trình ban hành quyết định tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; minh định cách tính thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm lập biên bản giữ người khẩn cấp trên thực tế; ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn rõ tiêu chí "trường hợp cần thiết" và "trường hợp đặc biệt" khi gia hạn tạm giữ; bổ sung căn cứ trả tự do khi không còn tính chất cần thiết giam giữ.
- Nâng cao năng lực thực thi: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, tinh thần thượng tôn pháp luật và đạo đức nghề nghiệp của điều tra viên, kiểm sát viên nhằm khắc phục yếu tố chủ quan trong phân loại đối tượng ban đầu; tăng cường cơ sở vật chất và tăng cường vai trò kiểm sát trực tiếp của Viện kiểm sát đối với công tác tạm giữ.
-
Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, cập nhật toàn diện việc thi hành chế định tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trên cơ sở chuỗi dữ liệu thực chứng 05 năm liên tục (2018 – 2022) của ngành Kiểm sát, chỉ ra những xung đột điều luật cụ thể mà các công trình trước giai đoạn 2015 chưa bao quát được.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Nguồn dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên báo cáo tổng kết chung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trên phạm vi vĩ mô toàn quốc, chưa phân tích sâu theo từng địa bàn đặc thù (đô thị lớn, vùng biên giới, vùng biển) hoặc theo từng nhóm loại tội phạm cụ thể. Phạm vi thời gian dừng lại ở năm 2022.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn thi hành biện pháp tạm giữ ở các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư); đánh giá sâu hơn tác động của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đối với việc bảo đảm chế độ sinh hoạt, y tế và quyền bào chữa của người bị tạm giữ trong giai đoạn điều tra ban đầu.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu học thuật giá trị đối với sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, Luật Hình sự; giảng viên các cơ sở đào tạo luật (Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kiểm sát, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân).
- Nội dung tham khảo trọng tâm: Hệ thống bảng số liệu thống kê tư pháp giai đoạn 2018 – 2022; các luận cứ so sánh đối chiếu giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và 2015; các phân tích kỹ thuật lập pháp về mâu thuẫn thẩm quyền, cách tính thời hạn tạm giữ khẩn cấp và các đề xuất sửa đổi quy phạm tố tụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Thời hạn tạm giữ tối đa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là bao lâu và quy trình gia hạn như thế nào?
Thời hạn tạm giữ thông thường không quá 03 ngày. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn lần thứ nhất không quá 03 ngày. Trong trường hợp đặc biệt, có thể gia hạn lần thứ hai không quá 03 ngày. Tổng thời gian tạm giữ tối đa không được vượt quá 09 ngày. Mọi quyết định gia hạn đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ.
2. Biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự khác gì so với tạm giữ người theo thủ tục hành chính?
Hai biện pháp này khác nhau ở 5 điểm: căn cứ áp dụng (tội phạm hình sự so với vi phạm hành chính/bạo lực gia đình/cai nghiện); đối tượng áp dụng; mục đích áp dụng (chứng minh tội phạm hình sự so với ngăn chặn vi phạm hành chính); thẩm quyền áp dụng (trong hành chính mở rộng hơn); và thủ tục kiểm soát (quyết định tạm giữ hành chính không phải gửi Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn/kiểm sát như trong tố tụng hình sự).
3. Văn bản đã chỉ ra mâu thuẫn gì về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ của người chỉ huy tàu bay, tàu biển?
Khoản 2 Điều 117 dẫn chiếu người có thẩm quyền giữ người tại khoản 2 Điều 110 được quyền ra quyết định tạm giữ (bao gồm người chỉ huy tàu bay, tàu biển tại điểm c). Tuy nhiên, khoản 4 Điều 110 lại loại trừ nhóm này khi chỉ cho phép họ giữ người trong trường hợp khẩn cấp và buộc phải giải ngay về cơ quan điều tra nơi có sân bay/bến cảng đầu tiên trở về chứ không có quyền tự ban hành quyết định tạm giữ.
4. Thời gian tạm giữ được quy đổi và khấu trừ vào các hình phạt như thế nào khi Tòa án xét xử?
Theo nguyên tắc nhân đạo, thời gian tạm giữ được tính trừ vào thời hạn tạm giam và chấp hành hình phạt theo tỷ lệ: 01 ngày tạm giữ được tính bằng 01 ngày tạm giam, 01 ngày tạm giữ bằng 01 ngày tù, và 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
5. Trong giai đoạn 2018 – 2022, tỷ lệ người bị tạm giữ được chuyển sang khởi tố hình sự, tạm giam đạt bao nhiêu?
Trong tổng số 352.806 người bị tạm giữ đã giải quyết giai đoạn 2018 – 2022, có 238.010 người bị khởi tố và chuyển sang tạm giam, đạt tỷ lệ trung bình là 67,5% (năm 2018 đạt 64,1%; năm 2019 đạt 65,8%; năm 2020 đạt 66,4%; năm 2021 đạt 69,2%; năm 2022 đạt 71,1%).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Nghĩa Đạt là công trình nghiên cứu pháp lý có kết cấu chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận tố tụng hình sự và dữ liệu thực chứng giai đoạn 2018 – 2022. Tác giả đã làm rõ bản chất, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn tạm giữ, đồng thời chỉ ra các điểm mâu thuẫn, khoảng trống quy phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như thẩm quyền, thủ tục giữ người khẩn cấp và cách tính thời hạn. Các giải pháp hoàn thiện lập pháp và thực thi được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc bảo đảm quyền con người và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.