CHƯƠNG 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE THAM QUYEN DAN SỰ SO THAM CUA TOA AN THEO CAP VA THEO LANH THO 1. KHÁI NIEM VA Ý NGHĨA VE THAM QUYEN DAN SỰ SO THAM CUA TOA AN THEO CAP VA THEO LANH THO 1. Khái niệm về thắm quyền dân sự sơ thâm của Tòa án theo cấp và theo lãnh thé Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định nào đó dé thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước đó'.
Sự phân định thâm quyên là rất cần thiết, vì nó là điều kiện cần thiết bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động bình thường, không chồng chéo, khắc phục được tình trạng dun day trách nhiệm, công việc lẫn nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thì "Tham quyển là quyén xem xét để kết luận và định đoạt một van dé theo pháp luật'”. Theo từ điện Luật học thì "Thẩm quyển là tong hop các quyên và nghĩa vụ hành động của cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định"Ẻ. Trong khoa học pháp lý thâm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tô chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định.
Theo từ điển Luật học của Mỹ thì "Thẩm quyên được hiểu là một khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyên xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp ludtTM. Theo khái niệm này, thâm quyền được gắn chặt với khả năng của cơ quan công quyên khi thực hiện việc xem xét, giải quyết một vấn đề nào đó. Thâm quyền của TA là quyền của TA trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính trong phạm vi pháp luật quy định và quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Khác với thâm quyên hình sự, đối với thâm quyền dân sự thì quyền xem xét giải quyết và quyền ra các quyết định khi giải ' [23,tr.
2 quyết các vụ việc dân sự là hai nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thầm quyền dân sự của TA'. Theo lý luận về tố tụng của nhiều nước trên thế giới thì thâm quyền dân sự sơ thâm thường được dé cập dưới hai góc độ là thâm quyền theo loại việc va thâm quyên theo lãnh thé khi TA lần đầu tiên tiến hành thụ lý và xem xét vụ việc. Ở Việt Nam, TA được tô chức theo don vị hành chính lãnh thé gồm TAND tối cao; Các TAND tỉnh, thành phó trực thuộc trung ương; Các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Do vậy, thầm quyền dân sự sơ thâm của TA được tiếp cận dưới ba góc độ là thâm quyền dân sự sơ thẩm theo loại việc, thâm quyền dân sự sơ thâm theo cấp và thẩm quyền dân sự sơ thâm theo lãnh thé.
Theo giáo trình Luật t6 tụng dân sự Việt Nam thì thẩm quyền dân sự của TA “?à quyén xem xét giải quyết các vụ việc và quyên hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vu việc đó theo thủ tục t6 tụng dân sự sơ thẩm của Tòa án”. Trong ba loại thâm quyền nói trên thì thâm quyền dân sự sơ thâm theo loại việc là nền tang dé xác định thâm quyền dân sự sơ thâm của TA theo cấp và theo lãnh thô. Thâm quyền dân sự theo loại việc xác định những vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà TA có thẩm quyên giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”. Trong khuôn khô của Luận văn này, trọng tâm nghiên cứu là thâm quyền dân sự sơ thâm của TA theo cấp và theo lãnh thô.
Xét theo tô chức TA tại Việt Nam, trong ba cấp TA thì chỉ có TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh là có thâm quyền xét xử sơ thâm các vụ việc dân sự. Do vậy, về thực chất thì việc phân định thâm quyền sơ thâm giữa TA các cấp được thực hiện giữa TA cấp tỉnh và TA cấp huyện. Từ góc độ này có thé định nghĩa: “ Thẩm quyên dân sự sơ thẩm của Tòa án theo cấp là quyển của một cấp Tòa án cụ thé, cấp tỉnh hoặc cấp huyện, trong việc xem xét thụ lý giải quyết các vụ việc dân sự và quyết định giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tô tụng dân sự sơ thẩm dựa trên tỉnh chất, mức độ đơn giản hay phức tạp của vụ việc dân sự, cơ cau tổ chức và khả năng giải quyết tranh chấp của các cấp Tòa án”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu cho thấy, các giáo trình về luật tố tụng dân sự của các cơ sở đào tạo luật hiện nay cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thê vê thâm ' 124, tr.
3 quyền của TA theo lãnh thổ. Thuật ngữ thẩm quyền dân sự sơ thâm của TA theo lãnh thé đôi khi còn được gọi là thâm quyền của TA theo don vị hành chính lãnh thổ hay theo phạm vi lãnh thổ. Tuy nhiên, có thé nhận thay thẩm quyên dân sự sơ thâm của TA theo lãnh thé được xác định không dựa trên dấu hiệu về tính chất phức tạp hay đơn giản của vụ việc dân sự, điều kiện giải quyết vu việc cua các cấp TA. Xét về bản chất thì thẩm quyền dân sự theo lãnh thé của TA là sự phân định thâm quyền dân sự sơ thâm giữa các TA cùng cấp với nhau đối với một vụ việc dân sự cụ thê dựa trên những dấu hiệu riêng biệt sau đây: - Dau hiệu về nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự; - Dau hiệu về nơi có tài sản tranh chấp; - Dấu hiệu về nơi phát sinh sự kiện như nơi đăng ký kết hôn, nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, nơi thực hiện hop đồng.
- Dấu hiệu về nơi mà các bên thỏa thuận lựa chọn giải quyết vụ việc phát sinh hoặc bên theo ý chí của bên có yêu cầu đã được nhà lập pháp ấn định. Do vậy, có thé đưa ra kết luận về thâm quyền dân sự sơ thấm của TA theo lãnh thé như sau: “7hẩm quyên dân sự sơ thẩm của Toà án theo lãnh thổ là quyền cua một Toa an cụ thé, trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dan sự và quyết định giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục sơ thẩm, được xác định trên cơ SỞ nơi cu tru, nơi có tru sở của một trong các bên đương sự, nơi có bất động sản hoặc nơi phát sinh sự kiện hoặc các dấu hiệu khác mà pháp luật quy định ”. Ý nghĩa của việc quy định về thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo cấp và theo lãnh thé Xét về lý luận thì thâm quyền dân sự sơ thẩm của TA được tiếp cận đưới ba góc độ, đó là thâm quyền của TA theo loại việc, theo cấp TA và theo lãnh thé. Tham quyén dân sự so thâm của TA theo loại việc là nền tảng dé xác định thâm quyền dân sự sơ thâm theo cấp và theo lãnh thé.
Tham quyền dân sự sơ thẩm theo cấp TA, dựa trên cơ sở tính chất đơn giản hay phức tạp của vụ việc và khả năng giải quyết của các cấp TA là cơ sở để xác định một vụ việc sẽ thuộc thâm quyền của TA cấp tỉnh hay TA cấp huyện và là tiền đề để xác định thâm quyền theo lãnh thé của một TA cụ thé đối với vụ việc dân sự. Khi phát sinh một vụ việc dân sự tại TA, trước hết TA phải xem xét vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyên của TA hay của cơ quan chuyên môn khác dé quyết định việc thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho đương sự. Nếu TA xác định vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của TA thì phải tiếp tục xác định 4 vụ việc đó sẽ thuộc thâm quyền sơ thâm của TA cấp tỉnh hay TA cấp huyện (thâm quyền dân sự sơ thâm theo cấp). Sau khi xác định vụ việc thuộc thâm quyền sơ thâm của TA cấp nào thì phải xác định bước cuối cùng là TA cụ thể nào trong số những TA cùng cấp sẽ có thâm quyên sơ thâm vụ việc dân sự đó (thâm quyền dân sự sơ thâm của TA theo lãnh thổ).
Như vậy, giữa thâm quyền dân sự sơ thầm theo cấp và theo lãnh thô có mối liên hệ mật thiết trong việc phân định thâm quyền giữa các TA. Do vậy, việc xây dựng các quy định về thâm quyền dân sự sơ thâm theo cấp và theo lãnh thé đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định thâm quyên dân sự sơ thẩm của các TA. Việc quy định hợp lý về thâm quyền DSST của TA theo cấp và theo lãnh thổ tránh được sự chồng chéo trong việc giải quyết các vụ việc dân sự giữa các TA, khắc phục được tình trạng hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất, tạo điều kiện để vụ việc được thụ lý giải quyết một cách chính xác, khách quan, tránh đùn đây trách nhiệm giữa các TA, tạo niềm tin cho nhân dân đối với các cơ quan nha nước. Các quy định về thấm quyền DSST của TA theo cấp là cơ sở pháp lý quan trọng dé TA cấp huyện va TA cap tỉnh xác định được vụ việc dân su có thuộc thâm quyền giải quyết của TA cấp mình hay không, tạo điều kiện cho TA các cấp nhanh chóng quyết định việc thụ lý và giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự.
Ngoài ra, các quy định về thâm quyền của TA theo cấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ của cấp TA, tránh được hiện tượng vụ việc được TA thụ lý nhưng không đủ năng lực chuyên môn, điều kiện cần thiết để giải quyết vụ việc, dẫn tới những khó khăn, thậm chí sai lầm hoặc vi phạm pháp luật tố tụng khi giải quyết. Việc quy định hợp lý về thâm quyền DSST của TA theo cấp và theo lãnh thô còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, tiết kiệm được thời gian, công sức, các chi phí và giảm bớt phiền hà cho đương sự.