Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giải quyết nguồn tin về tội phạm là giai đoạn mở đầu có ý nghĩa then chốt trong tố tụng hình sự, đóng vai trò xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để làm căn cứ ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Việc giải quyết chính xác, kịp thời nguồn tin về tội phạm tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tiếp theo; đồng thời phòng chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và hạn chế tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Về mặt chủ trương và pháp lý, đề tài được đặt trong bối cảnh triển khai chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 18/2/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) và Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội. Nghị quyết số 96 đặt ra chỉ tiêu bắt buộc đối với các cơ quan điều tra: phải thụ lý 100% tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và tỷ lệ giải quyết phải đạt trên 90%. Nhằm thể chế hóa chủ trương này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục giải quyết và các biện pháp tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết nguồn tin.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy hệ thống quy định vẫn bộc lộ một số hạn chế: cơ chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra (CQĐT) với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) chưa thực sự chặt chẽ; nhiều vụ việc kiểm sát thụ lý còn chậm trễ; tình trạng kéo dài thời gian xác minh hoặc vi phạm thủ tục tố tụng vẫn xảy ra. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của BLTTHS 2015" mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích các vấn đề lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng, từ đó đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết nguồn tin về tội phạm. Để hoàn thành mục tiêu này, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết nguồn tin về tội phạm.
  2. Nghiên cứu, đánh giá các quy định của BLTTHS năm 2015 về giải quyết nguồn tin về tội phạm.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm; chỉ ra các vướng mắc, bất cập còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  4. Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm bảo đảm, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn thi hành công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn giải quyết nguồn tin về tội phạm.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, đánh giá số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với các quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (các nguyên tắc pháp chế tại Điều 8, bảo vệ quyền con người tại Điều 11).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), trọng tâm là các Điều 4, 144, 145, 147, 148, 149, 150, 153, 157, 201, 202, 206.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
  • Quyết định số 565/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành Quy chế tiếp nhận, thu thập, quản lý, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSNDTC.
  • Quyết định số 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20/3/2015 của Bộ Công an về quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng:

  • Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu: Thu thập các giáo trình, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nghề luật, Tạp chí Pháp lý, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN) và các luận văn thạc sĩ luật học để kế thừa các giá trị lý luận.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để bóc tách từng điều luật trong BLTTHS 2015, tổng hợp số liệu thực tiễn và đánh giá mối quan hệ giữa các quy định pháp luật với kết quả áp dụng trên thực tế.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh, đối chiếu quy định của BLTTHS 2015 với BLTTHS 2003, đối chiếu Thông tư liên tịch 01/2017 với Thông tư liên tịch 06/2013 nhằm làm nổi bật những điểm sửa đổi, bổ sung mới.

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm:

  • Số liệu thống kê quốc gia về công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm giai đoạn 2020 – tháng 9/2023 từ các Báo cáo tổng kết công tác của CQĐT và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Các tài liệu giáo trình chuẩn của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và sách bình luận khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết nguồn tin về tội phạm

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho toàn bộ khóa luận, gồm khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc tố tụng chi phối:

  • Khái niệm: Dựa trên điểm d khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015, tác giả khái quát: "Nguồn tin về tội phạm là nơi phát sinh, cung cấp thông tin về vụ việc hoặc hành vi gây nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS". Trên cơ sở đó, giải quyết nguồn tin về tội phạm được định nghĩa là hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiếp nhận, xem xét và xử lý các thông tin tội phạm theo luật định để kiểm tra, xác minh có hay không dấu hiệu tội phạm, từ đó ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự cùng các quyết định tố tụng khác.
  • Đặc điểm: Tác giả xác định 5 đặc điểm riêng biệt của hoạt động giải quyết nguồn tin: (1) Chủ thể thực hiện đa dạng (CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKSND); (2) Nhiệm vụ cốt lõi là làm rõ có hay không dấu hiệu tội phạm; (3) Căn cứ kích hoạt là khi xuất hiện sự việc "có dấu hiệu tội phạm"; (4) Là hoạt động đặc thù mang đầy đủ tính chất của giai đoạn khởi tố vụ án; (5) Kết thúc bằng các quyết định tố tụng cụ thể (khởi tố, không khởi tố hoặc tạm đình chỉ).
  • Mục đích và ý nghĩa: Làm rõ vai trò thu thập thông tin, củng cố tính pháp lý cho giai đoạn khởi tố, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài liệu, chứng cứ, bắt giữ người phạm tội quả tang; đồng thời bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trước khi bước vào giai đoạn điều tra chính thức. Hoạt động này có ý nghĩa pháp lý sâu sắc và ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng trong việc bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
  • 5 nguyên tắc áp dụng: (1) Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (2) Trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đầy đủ, kịp thời mọi tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố; (3) Giải quyết đúng thẩm quyền; (4) Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự (Điều 7 BLTTHS); (5) Bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể báo tin (Điều 11 BLTTHS).

Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về giải quyết nguồn tin về tội phạm

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện khung pháp lý thực định của BLTTHS 2015 và các văn bản liên tịch hướng dẫn thi hành:

  • Chủ thể thực hiện (Điều 145): Phân định thẩm quyền giữa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKSND. Điểm mới nổi bật là Thông tư liên tịch 01/2017 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết cho Đội An ninh Công an cấp huyện. Đồng thời, VKSND được trao thẩm quyền giải quyết trực tiếp và quyền khởi tố vụ án theo khoản 3 Điều 153 trong hai trường hợp: VKS trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc trực tiếp giải quyết nguồn tin khi CQĐT có vi phạm nghiêm trọng/bỏ lọt tội phạm mà không khắc phục.
  • Thời hạn và thủ tục (Điều 147): Khắc phục mức trần 02 tháng cứng nhắc của BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 quy định thời hạn kiểm tra, xác minh ban đầu là 20 ngày; đối với vụ việc phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng; trường hợp chưa thể kết thúc thì Viện trưởng VKS cùng cấp có quyền gia hạn một lần không quá 02 tháng (tổng thời hạn tối đa là 04 tháng). Về thủ tục, Thông tư liên tịch 01/2017 bổ sung thời hạn phân loại nguồn tin bắt buộc trong vòng 24 giờ kể từ khi tiếp nhận và quy định rõ thẩm quyền kiểm tra, xác minh ban đầu của Công an cấp xã.
  • Phương pháp giải quyết (khoản 3 Điều 147): Phân tích 4 nhóm biện pháp luật định mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng trong giai đoạn này: (1) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (kèm quyền triệu tập, dẫn giải); (2) Khám nghiệm hiện trường (Điều 201); (3) Khám nghiệm tử thi (Điều 202); (4) Trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản (Điều 206).
  • Tạm đình chỉ và phục hồi giải quyết (Điều 148, 149): Đây là chế định hoàn toàn mới của BLTTHS 2015. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ khi: đã trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng nhưng chưa có kết quả. Khi lý do tạm đình chỉ không còn, cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định phục hồi với thời hạn giải quyết tiếp không quá 01 tháng.
  • Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền (Điều 150): Quy định rõ VKSND là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phân định tranh chấp giải quyết nguồn tin về tội phạm (VKS cấp trên trực tiếp giải quyết tranh chấp cấp dưới; VKSNDTC giải quyết tranh chấp giữa các CQĐT cấp tỉnh, hoặc giữa CQĐT Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và CQĐT VKSNDTC).

Chương 3: Thực tiễn giải quyết nguồn tin về tội phạm và một số giải pháp

Chương 3 tổng kết, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong giai đoạn 2020 – tháng 9/2023 và phân tích các nguyên nhân, hạn chế:

  • Kết quả đạt được: Công tác tiếp nhận, xử lý nguồn tin được chuẩn hóa và phân cấp rõ ràng. Các CQCSĐT cấp huyện đều bố trí 01 cán bộ chuyên trách (cấp tỉnh bố trí 03 cán bộ); VKSND cấp huyện thực hiện kiểm sát đối với hơn 10.500 đơn vị Công an cấp xã. VKSNDTC ban hành Quyết định số 565/QĐ-VKSTC tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho CQĐT VKSNDTC. Tỷ lệ giải quyết nguồn tin hàng năm duy trì ở mức cao, đạt từ trên 91% đến 97% (vượt chỉ tiêu Quốc hội giao).
  • 8 nhóm hạn chế, tồn tại trong thực tiễn:
    1. Khâu thụ lý, phân loại, xử lý ban đầu chưa kịp thời do lượng đơn thư tăng nhanh trong khi biên chế cán bộ còn thiếu.
    2. Thời gian xác minh tại một số địa phương bị kéo dài, dẫn đến vi phạm thủ tục về thời hạn; tỷ lệ vụ án được khởi tố sau xác minh ở một số khâu còn thấp.
    3. Sự chỉ đạo, kiểm tra nghiệp vụ của lãnh đạo cấp trên ở một số đơn vị chưa thường xuyên, thiếu đôn đốc quyết liệt.
    4. Phối hợp liên ngành VKSND - CQĐT ở một số nơi còn mang tính hình thức, VKS còn tâm lý thụ động, coi mình là cơ quan "phối hợp" thuần túy.
    5. Trình độ, năng lực chuyên môn của một bộ phận Điều tra viên, Kiểm sát viên chưa đồng đều, còn chủ quan, chậm cập nhật văn bản hướng dẫn.
    6. Bất cập lớn trong công tác giám định pháp y tâm thần (thời gian giám định kéo dài, đối tượng trốn tránh) và khó khăn về kinh phí giám định đối với các vụ án an ninh quốc gia.
    7. Thiếu cơ chế ràng buộc và chế tài xử lý đối với các tổ chức liên quan (ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà mạng viễn thông, các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Tiki, Sendo và các nền tảng xuyên biên giới Facebook, Zalo, Viber, WeChat, Telegram) trong việc chậm cung cấp dữ liệu, chứng cứ điện tử, buộc CQĐT phải tạm đình chỉ giải quyết vụ việc.
    8. Nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế; tâm lý e ngại bị trả thù, không hợp tác hoặc muốn tự hòa giải các vụ việc xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu thực tiễn

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện bức tranh thực tiễn giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023 với tổng số 585.348 nguồn tin được tiếp nhận, thụ lý.

Năm Số nguồn tin tiếp nhận Khởi tố VAHS Không khởi tố Các quyết định khác Tạm đình chỉ / Đang giải quyết Vi phạm thủ tục giải quyết Tỷ lệ giải quyết đạt được
2020 133.157 65.643 36.823 18.782 11.909 389 (0,29%) 91,0% (121.248 tin, vượt 3% chỉ tiêu QH)
2021 137.266 69.231 40.428 16.151 11.456 93 (0,068%, có 7 tin quá hạn) 91,6% (125.810 tin)
2022 146.347 76.344 42.351 14.421 13.231 142 (0,00097%) 91,0% (133.116 tin)
2023 (đến 9/2023) 168.578 90.372 43.128 14.051 21.027 167 (0,001%) 147.551 tin (tăng 13,5% so với 2022)
Tổng cộng 585.348 - - - - - Đạt >91% đến 97% hàng năm

Bên cạnh đó, số liệu thực tiễn phản ánh mức độ áp dụng các quy định mới của BLTTHS 2015 trong giai đoạn 2020 - 2023:

  • Có 129.379 nguồn tin phải đề nghị VKSND gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh theo khoản 2 Điều 147 (chiếm 22% tổng số nguồn tin thụ lý).
  • Có 61.631 nguồn tin phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết theo Điều 148 (chiếm 10,5% tổng số nguồn tin thụ lý).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Bổ sung quy định giới hạn số lần tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin nhằm tránh tình trạng kéo dài vụ việc vô thời hạn; ban hành chế tài pháp lý bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp viễn thông, sàn thương mại điện tử và nền tảng số trong việc cung cấp chứng cứ điện tử; hoàn thiện quy chuẩn chi phí và thời hạn giám định tư pháp, đặc biệt là giám định pháp y tâm thần.
  2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động: Tăng cường biên chế chuyên trách phân loại đơn thư; đổi mới công tác phối hợp liên ngành giữa CQĐT và VKSND ngay từ khâu tiếp nhận ban đầu; nâng cao năng lực cho đội ngũ Điều tra viên và Kiểm sát viên; tăng cường tập huấn chuyên môn cho lực lượng Công an cấp xã khi tiếp nhận, xử lý ban đầu nguồn tin về tội phạm.

Đóng góp của công trình

So với các công trình nghiên cứu trước đó, khóa luận đã:

  • Hệ thống hóa đầy đủ các quy định mới của BLTTHS 2015 và Thông tư liên tịch 01/2017 về thẩm quyền của Công an cấp xã, thẩm quyền khởi tố trực tiếp của VKS và cơ chế tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết nguồn tin.
  • Cung cấp chuỗi số liệu thực tiễn cập nhật từ năm 2020 đến tháng 9/2023 trên phạm vi toàn quốc, lượng hóa cụ thể tỷ lệ gia hạn xác minh (22%) và tỷ lệ tạm đình chỉ (10,5%).
  • Nhận diện những điểm nghẽn thực tiễn phát sinh từ không gian mạng, thương mại điện tử và công tác giám định tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu số liệu thống kê chung ở cấp độ toàn quốc trong giai đoạn 2020 – tháng 9/2023, do đó chưa đi sâu phân tích đặc thù giải quyết nguồn tin theo từng nhóm tội danh cụ thể (như nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm công nghệ cao) hoặc so sánh chi tiết giữa các vùng địa bàn hành chính khác nhau.

Về hướng phát triển tiếp theo, công trình mở ra hướng nghiên cứu chuyên sâu về quy trình thu thập chứng cứ điện tử từ các nền tảng số xuyên biên giới trong giai đoạn giải quyết nguồn tin, cũng như hoàn thiện cơ chế kiểm sát trực tiếp của VKSND đối với hoạt động tiếp nhận, xử lý nguồn tin của lực lượng Công an cấp xã.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Tư pháp hình sự; đồng thời có giá trị thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ điều tra, Điều tra viên tại các cơ quan điều tra và Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Bảng so sánh và luận giải các điểm mới của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2003 tại Chương 2 (về thẩm quyền, thời hạn gia hạn 04 tháng, các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết).
  • Bảng số liệu thống kê thực tiễn toàn quốc giai đoạn 2020 – 2023 và danh mục 8 nhóm tồn tại, vướng mắc thực tiễn được phân tích tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của BLTTHS 2015 tối đa là bao lâu?

Theo Điều 147 BLTTHS 2015, thời hạn giải quyết ban đầu là không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được nguồn tin. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Nếu chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh thì Viện trưởng VKS cùng cấp có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn tối đa theo luật định là không quá 04 tháng (khắc phục giới hạn tối đa 02 tháng của BLTTHS 2003).

2. Trong giai đoạn 2020 - tháng 9/2023, tỷ lệ nguồn tin phải gia hạn xác minh và tạm đình chỉ giải quyết trên toàn quốc là bao nhiêu?

Theo số liệu báo cáo trong khóa luận, trong tổng số 585.348 nguồn tin được thụ lý:

  • Có 129.379 nguồn tin phải đề nghị VKS gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh theo khoản 2 Điều 147, chiếm 22% tổng số thụ lý.
  • Có 61.631 nguồn tin phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết theo Điều 148, chiếm 10,5% tổng số thụ lý.

3. Cơ quan có thẩm quyền được thực hiện những biện pháp cụ thể nào khi giải quyết nguồn tin về tội phạm?

Theo khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015, cơ quan có thẩm quyền được quyền tiến hành 4 hoạt động:

  1. Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (bao gồm quyền triệu tập, dẫn giải người làm chứng, bị hại, người bị tố giác).
  2. Khám nghiệm hiện trường (theo Điều 201).
  3. Khám nghiệm tử thi (theo Điều 202).
  4. Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản (theo Điều 206).

4. Khi xảy ra tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan nào có quyền phân định?

Theo quy định tại Điều 150 BLTTHS 2015, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm:

  • Tranh chấp giữa các CQĐT cấp huyện thuộc các tỉnh khác nhau do VKSND cấp tỉnh nơi đầu tiên tiếp nhận giải quyết.
  • Tranh chấp giữa các CQĐT cấp tỉnh do VKSNDTC giải quyết.
  • Tranh chấp giữa CQĐT của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và CQĐT VKSNDTC do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.

5. Khóa luận chỉ ra những vướng mắc nào trong công tác phối hợp với các tổ chức liên quan khi xác minh nguồn tin?

Khóa luận chỉ ra rằng các ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà mạng viễn thông, các sàn thương mại điện tử (Shopee, Lazada, Tiki, Sendo) và các công ty quản lý mạng xã hội (Facebook, Zalo, Viber, WeChat, Telegram) thường chậm trễ hoặc chưa phối hợp chặt chẽ trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ điện tử. Pháp luật hiện hành thiếu chế tài bắt buộc cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức này, dẫn đến việc CQĐT phải kéo dài thời gian xác minh hoặc phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin vì lý do chờ văn bản trả lời.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hương Ly đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các quy định của BLTTHS năm 2015 về giải quyết nguồn tin về tội phạm. Thông qua nguồn dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2020 – tháng 9/2023 trên quy mô toàn quốc, công trình đã phản ánh chính xác kết quả đạt được (tỷ lệ giải quyết đạt trên 91% - 97%) cùng 8 nhóm bất cập, vướng mắc trong thực tế áp dụng. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất có giá trị thực tiễn và đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam.