Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01) với đề tài "Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Quốc Thành thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phùng Hữu Phú và PGS. Trình Mưu (bảo vệ năm 2014).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định và quán triệt trong Nghị quyết số 09-NQ của Bộ Chính trị khóa VII (1995), Văn kiện Đại hội IX (2001), Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư (2003), Văn kiện Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011).
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã khảo sát thực tiễn, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng hệ thống lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, truyền bá vào trong nước và chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, chính trị, tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vai trò của lý luận giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc xây dựng và truyền bá, các nhân tố giúp Người tìm ra con đường cứu nước, cũng như tính chủ động, sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng vẫn là một khoảng trống khoa học cần tiếp tục được luận giải sâu sắc và có căn cứ lịch sử xác thực.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm sáng rõ quá trình chuẩn bị, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc; từ đó rút ra những nhận xét khoa học về quá trình sáng lập Đảng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ cụ thể được xác định trong văn bản):
- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
- Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định con đường giải phóng dân tộc cho Việt Nam.
- Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Làm rõ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
- Rút ra nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguyễn Ái Quốc với việc xác định con đường giải phóng dân tộc, chuẩn bị tiền đề tư tưởng chính trị, tổ chức tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc (từ giai đoạn khảo sát tìm đường cứu nước năm 1911, tiếp cận Luận cương Lênin năm 1920, giai đoạn chuẩn bị 1921–1929 đến Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả luận án đã phân loại và điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
1. Các công trình nghiên cứu trong nước
- Bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước:
- Trường Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam (Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1991).
- Lê Duẩn: Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta (Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986).
- Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998).
- Nguyễn Văn Linh: Bác Hồ sống mãi với non sông (Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990).
- Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000).
- Các công trình chuyên khảo của các nhà khoa học, sử học:
- Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Chính trị quốc gia, 1997); Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam (xuất bản lần đầu 1957, lần hai 1958, in lại trong Tổng tập, tập 2, 2007) phân tích bối cảnh cuối năm 1929 – đầu năm 1930, vai trò uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong việc thống nhất các tổ chức cộng sản.
- Lê Mậu Hãn (Chủ biên): Đảng Cộng sản Việt Nam các Đại hội và Hội nghị Trung ương (Nxb. Chính trị quốc gia, 1998); chuyên khảo Học thuyết cách mạng và sự chủ động, sáng tạo của Hồ Chí Minh với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (trong Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, 2010); Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Chính trị quốc gia, 2001); Góp phần tìm hiểu tư tưởng độc lập tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh (đồng tác giả với Đinh Xuân Lâm, 1994).
- Song Thành (Chủ biên): Hồ Chí Minh tiểu sử (Nxb. Lý luận chính trị, 2006, sản phẩm đề tài cấp Nhà nước KX.11 thuộc Chương trình KX.02), dành riêng Chương 5 khảo cứu giai đoạn 11/1924 đến 02/1930.
- Phạm Xanh: Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam 1921 - 1930 (Nxb. Thông tin lý luận / Chính trị quốc gia, 2009) làm rõ diễn trình bôn-sê-vích hóa Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng.
- Mạch Quang Thắng: Hồ Chí Minh con người của sự sống (Nxb. Chính trị quốc gia, 2010) đề xuất tổ hợp 4 yếu tố cấu thành Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Trịnh Nhu: Mấy vấn đề lịch sử Việt Nam tái hiện và suy ngẫm (Nxb. Chính trị quốc gia); Về con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh (đồng tác giả với Vũ Dương Ninh, 1996).
- Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương: Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb. Chính trị quốc gia, 2013).
- Các tác giả khác: Nguyễn Khánh Toàn (1990), Hà Huy Giáp (1977), Hùng Thắng và Nguyễn Thành (1985), Đặng Xuân Kỳ (1990, 2005), Nguyễn Văn Khánh (2007), Ngô Đăng Tri (2010), Đinh Trần Dương (2002), Nguyễn Đình Thuận (2002), Đinh Xuân Lý (2007), Phạm Ngọc Dũng (2007), Lê Văn Yên (2005, 2006), Nguyễn Đình Đài (2006), Dương Phú Hiệp (2005), Bùi Đình Phong (2005).
- Các chương trình khoa học cấp Nhà nước: Đề tài KX02-12 (Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc); Đề tài KHXH 01.06 (Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam); Chương trình KX.03 (Xây dựng Đảng trong điều kiện mới).
2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
- E. Cô-bê-lép (Liên Xô/Nga): Đồng chí Hồ Chí Minh (Nxb. Thanh niên, 1985; Nxb. Chính trị - Hành chính, 2010) phân tích các chặng đường hoạt động tại Xiêm, Trung Quốc, Liên Xô và quá trình triệu tập Hội nghị hợp nhất.
- Furuta Motoo (Nhật Bản): Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới (Nxb. Chính trị quốc gia, 1997) phân tích phương pháp Hồ Chí Minh và tính mềm dẻo trong thống nhất các tổ chức cộng sản.
- William Duiker (Mỹ): Ho Chi Minh: A Life (2000).
- Sophie Quinn-Judge: Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941 (2002).
- Archimedes L. A. Patti: Why Viet Nam? (Bản dịch tiếng Việt: Tại sao Việt Nam?).
- Huỳnh Kim Khánh: Vietnamese Communism 1925-1945 (1982).
- Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917-1923) (1989).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình đã công bố chưa làm rõ một cách toàn diện và sâu sắc bốn vấn đề cốt lõi:
- Vai trò của hệ thống lý luận cách mạng giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp xây dựng và quá trình truyền bá lý luận đó vào phong trào cách mạng trong nước.
- Các nhân tố nền tảng (yếu tố dân tộc, yếu tố thời đại, yếu tố cá nhân) tác động đến việc Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước.
- Những luận điểm phát triển và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc về lý luận giải phóng dân tộc thuộc địa so với học thuyết Mác - Lênin truyền thống.
- Tính chủ động, quyết đoán của Nguyễn Ái Quốc trong việc triệu tập Hội nghị hợp nhất và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các nguyên tắc phương pháp luận khoa học lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử Đảng và xây dựng Đảng.
- Khung phân tích: Đặt sự kiện thành lập Đảng trong tiến trình phát triển biện chứng của lịch sử dân tộc Việt Nam kết hợp với bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XX; phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa việc xác lập đường lối cứu nước, xây dựng lý luận, truyền bá tư tưởng, xây dựng tổ chức tiền thân, đào tạo cán bộ và triệu tập hội nghị hợp nhất thành lập chính đảng vô sản.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan và có hệ thống diễn trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến năm 1930 theo đúng trình tự thời gian và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp lôgíc: Khái quát, tổng kết bản chất các sự kiện lịch sử để làm nổi bật quy luật thành lập Đảng và những sáng tạo tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống và so sánh: Đặt hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong hệ thống phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa và phong trào cộng sản quốc tế; so sánh con đường cách mạng vô sản với các khuynh hướng cứu nước phong kiến và dân chủ tư sản trước đó.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nhóm tư liệu chủ yếu: Bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011); bộ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1993 - 1996); các văn kiện in trong bộ Văn kiện Đảng toàn tập (Nxb. Chính trị quốc gia, từ 1998).
- Nhóm tư liệu thứ hai: Các tác phẩm, bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nhóm tư liệu thứ ba: Các sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành (đặc biệt là Tạp chí Lịch sử Đảng) của các học giả trong nước.
- Nhóm tư liệu tham khảo mở rộng: Các tư liệu, bài phát biểu của các chính trị gia quốc tế và các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này khảo cứu, hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài thành 3 nhóm vấn đề: các công trình trong nước, các công trình nước ngoài và đánh giá kết quả, khoảng trống khoa học. Luận án khẳng định giá trị kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đây, đồng thời xác định rõ nhiệm vụ của luận án là làm sáng tỏ vai trò quyết định của lý luận giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh và sự chủ động, sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng.
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam
Chương 2 phân tích bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tác động đến sự chuyển biến nhận thức của Nguyễn Ái Quốc.
| Khái quát số liệu lịch sử theo trích dẫn từ V.I. Lênin (năm 1914) |
Diện tích |
Dân số |
| Khu vực thuộc địa của 6 nước đế quốc (Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật) |
65 triệu km² |
523,4 triệu người |
| Chính quốc của 6 nước đế quốc nói trên |
16,5 triệu km² |
437,2 triệu người |
| Riêng thuộc địa của thực dân Pháp |
10,6 triệu km² |
55,5 triệu người |
| Chính quốc Pháp |
0,5 triệu km² |
39,6 triệu người |
Chương này trình bày quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (từ ngày 01/09/1858 tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng), thiết lập ách thống trị chuyên chế về chính trị và khai thác bóc lột về kinh tế. Trước sự bế tắc của các phong trào yêu nước đương thời, ngày 05/06/1911, Nguyễn Ái Quốc (với tên gọi Văn Ba) rời bến cảng Nhà Rồng trên tàu Amiral Latouche Tréville sang phương Tây tìm đường cứu nước.
Luận điểm cốt lõi của chương là việc phân tích 3 nhân tố cơ bản giúp Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn:
- Yếu tố dân tộc: Truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập tự cường của dân tộc Việt Nam và truyền thống văn hóa xứ Nghệ.
- Yếu tố thời đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (1919) và bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin (được Nguyễn Ái Quốc tiếp cận vào tháng 07/1920 trên báo L'Humanité).
- Yếu tố cá nhân Hồ Chí Minh: Tư duy độc lập, tự chủ, óc thực tiễn, bản lĩnh kiên định và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt của Người.
Chương kết luận bằng sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua (tháng 12/1920), đánh dấu bước chuyển dứt khoát từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, xác định con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản.
Chương 3: Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 3 tập trung làm rõ hai nội dung chuẩn bị nền tảng của Nguyễn Ái Quốc:
- Chuẩn bị về tư tưởng chính trị:
- Xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc: Xuất phát từ nhận thức "không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động", Người đã đúc kết lý luận thông qua các bài viết và tập hợp thành tác phẩm Đường cách mệnh (1927).
- Truyền bá lý luận vào trong nước: Sử dụng báo chí (Le Paria, Thanh niên), các tài liệu tuyên truyền nhằm giác ngộ quần chúng công - nông, đưa lý luận thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
- Chuẩn bị về tổ chức:
- Nhận thức rõ vai trò của tổ chức lãnh đạo đối với sự thành bại của phong trào cách mạng.
- Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 06/1925) tại Quảng Châu (Trung Quốc) làm tổ chức tiền thân có tính chất quá độ.
- Mở các lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trực tiếp đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên cho cách mạng Việt Nam.
Chương 4: Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 4 tái hiện hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1929 khi phong trào cách mạng trong nước dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn), tạo ra nguy cơ chia rẽ nội bộ.
- Hoàn cảnh và nội dung Hội nghị hợp nhất: Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản và uy tín cá nhân, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động rời Xiêm sang Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản từ ngày 06/01/1930. Hội nghị quyết định hợp nhất các tổ chức thành một chính đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo các văn kiện: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
- Bước ngoặt lịch sử: Luận án phân tích sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo kéo dài hơn hai phần ba thế kỷ, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Chương 5: Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc
Chương 5 đúc kết các nhận xét khoa học về những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc trên hai phương diện chính:
- Sáng tạo về mặt tư tưởng:
- Đi từ phê phán chủ nghĩa thực dân đến lựa chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với xã hội thuộc địa.
- Sáng tạo trong việc xác định quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam: kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
- Xác định tính chất cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc lên hàng đầu.
- Sáng tạo trong hoạt động thực tiễn:
- Thể hiện tính chủ động và quyết đoán khi kịp thời tổ chức Hội nghị hợp nhất mà không thụ động chờ đợi chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản.
- Lựa chọn lộ trình tổ chức trung gian, quá độ thích hợp (từ tổ chức tiền thân Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tiến lên thành lập chính đảng cộng sản chính thức).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về tư liệu
- Sưu tầm, tập hợp và hệ thống hóa nguồn sử liệu toàn diện về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
- Khai thác, cập nhật các tư liệu mới được công bố trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, 2011) và bộ Văn kiện Đảng toàn tập.
Đóng góp về mặt nội dung khoa học
- Làm rõ vai trò quyết định, tính chủ động và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong toàn bộ tiến trình lịch sử sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Chứng minh luận điểm: Hệ thống lý luận cách mạng giải phóng dân tộc do Nguyễn Ái Quốc xây dựng và truyền bá trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố giữ vai trò quyết định nhất hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.
- Phân tích và luận giải một cách toàn diện các nhân tố (dân tộc, thời đại, cá nhân) cấu thành sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc, khẳng định tính đúng đắn lịch sử của con đường cứu nước này.
- Cung cấp luận cứ khoa học góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự nghiệp thành lập Đảng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung giới hạn phạm vi nghiên cứu vào quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với vai trò của cá nhân Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến đầu năm 1930; chưa đi sâu khảo sát chi tiết hoạt động của tất cả các tổ chức cơ sở đảng địa phương trong thời điểm diễn ra sự chia tách năm 1929 do giới hạn phạm vi đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục bổ sung, khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ quốc tế (từ kho lưu trữ của Quốc tế Cộng sản, lưu trữ Pháp và các nước liên quan) về giai đoạn hoạt động 1924–1930 của Nguyễn Ái Quốc.
- Mở rộng nghiên cứu sự vận dụng và phát triển sáng tạo các tư tưởng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào thực tiễn lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền giai đoạn 1930–1945.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Việt Nam; các giảng viên lý luận chính trị tại các trường đại học, học viện; cán bộ làm công tác tuyên giáo và nghiên cứu lịch sử Đảng.
- Nội dung tham khảo:
- Khung tổng quan tài liệu phong phú, bao quát các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử thành lập Đảng.
- Phương pháp luận phân tích các nhân tố hình thành con đường cứu nước và mô hình tổ chức tiền thân mang tính chất quá độ trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định những nhân tố cơ bản nào đã giúp Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc?
Luận án chỉ rõ 3 nhân tố cơ bản: (1) Yếu tố dân tộc (truyền thống yêu nước nồng nàn, văn hóa lịch sử Việt Nam và truyền thống xứ Nghệ); (2) Yếu tố thời đại (thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, Quốc tế Cộng sản và Luận cương Lênin tháng 07/1920); (3) Yếu tố cá nhân Nguyễn Ái Quốc (tư duy độc lập tự chủ, trí tuệ mẫn tiệp, óc thực tiễn và bản lĩnh chính trị kiên định).
2. Nguồn tư liệu chủ yếu nhất được tác giả sử dụng trong luận án là gì?
Nguồn tư liệu chủ yếu và được sử dụng nhiều nhất gồm: Bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011); bộ Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập, 1993–1996) và bộ Văn kiện Đảng toàn tập (bắt đầu xuất bản từ năm 1998).
3. Tác phẩm nào tập hợp các bài giảng huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu và vai trò của tác phẩm này?
Đó là tác phẩm Đường cách mệnh (1927), tập hợp các bài giảng của Người tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu từ năm 1925, đóng vai trò trang bị lý luận cách mạng giải phóng dân tộc tiền phong cho đội ngũ cán bộ cốt cán để truyền bá về nước.
4. Luận án nhận xét như thế nào về sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định các yếu tố cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam?
Luận án chỉ ra sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước thuộc địa bằng việc bổ sung phong trào yêu nước vào quy luật ra đời của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
5. Luận án gồm bao nhiêu chương và cấu trúc như thế nào?
Luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo và 5 chương nội dung (11 tiết): Chương 1 (Tổng quan tình hình nghiên cứu), Chương 2 (Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc), Chương 3 (Chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức), Chương 4 (Thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng), Chương 5 (Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quốc Thành là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về vai trò và cống hiến lịch sử của Nguyễn Ái Quốc trong việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu tin cậy và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp lôgíc chặt chẽ, luận án đã làm rõ tiến trình từ xác định con đường cách mạng vô sản, xây dựng và truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, chuẩn bị tổ chức tiền thân đến triệu tập Hội nghị hợp nhất đầu năm 1930. Công trình khẳng định tính đúng đắn, chủ động và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh.