Chương 1 NGUỒN TIN NỘI SINH VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về nguồn tin nội sinh trường đại học 1.1 Khái niệm, phân nhóm Khái niệm Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng: “Nguồn tin nội sinh của một tổ chức xã hội là tập hợp những thông tin được tạo nên bởi các hoạt động của chính tổ chức đó” [10, tr. Nguồn tin nội sinh của trường đại học là tập hợp. Như vậy, nguồn tin nội sinh của một trường đại học là tập hợp những thông tin được tạo ra từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu của chính trường đại học đó. Nếu coi thông tin là một tài sản của tổ chức, thì nguồn tin nội sinh thể hiện năng lực trí tuệ của tổ chức.
Trong hoạt động của tổ chức, nguồn tin nội sinh trực tiếp hỗ trợ cho công tác điều khiển và phát triển của tổ chức, vì lẽ đó, phần tỉ trọng lớn trong nguồn tin nội sinh của một tổ chức là tài liệu xám và thường là tài liệu không công bố. Tài liệu xám là “tất cả các tài liệu được đưa ra bởi các cơ quan Chính phủ, các viện nghiên cứu, các trường học, các tổ chức thương mại, công nghiệp, dưới dạng in hoặc điện tử và không thể kiểm soát được bởi các nhà xuất bản thương mại”[17, tr. Thực tế, tại các tổ chức KH&CN và các cơ sở đào tạo đại học ngoài tài liệu xám, nguồn tin nội sinh còn bao gồm cả các tài liệu đã được xuất bản. 14 Nguồn tin nội sinh được hình thành trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức.
Công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin này được các cơ quan, tổ chức tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện thực tiễn, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo hay nhu cầu thông tin của chính cơ quan, tổ chức đó. Thông thường, việc quản lý này do các cơ quan thông tin thực hiện bằng các hình thức tập trung hoặc không tập trung, triển khai xử lí thông tin và tổ chức khai thác trong hoặc ngoài tổ chức. Phân nhóm Nghiên cứu về tổ chức quản lý nguồn tin nội sinh trường đại học Th.sĩ Trần Mạnh Tuấn trong [23, tr.1] chia nguồn tin nội sinh của trường đại học, xét ở tính chất quá trình tạo ra chúng, thành các loại sau: Nguồn tin phản ánh kết quả học tập, đào tạo: Đó là các luận án, luận văn, khóa luận; tư liệu điều tra, hồ sơ thí nghiệm; hệ thống chương trình, giáo trình, đề cương bài giảng… Nguồn tin phản ánh kết quả hoạt động nghiên cứu: Thuộc loại này là các báo cáo kết quả nghiên cứu, sản phẩm đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các chương trình điều tra cơ bản, các đề án - dự án sản xuất thử, thử nghiệm; các báo cáo, tham luận khoa học, kỷ yếu hội nghị, hội thảo và các loại hình sinh hoạt học thuật khác. Nguồn tin phản ánh tiềm lực đào tạo và nghiên cứu khoa học: Bao gồm các thông tin, tài liệu về cơ cấu, quy mô, trình độ đào tạo; nguồn nhân lực khoa học, cơ sở vật chất – kĩ thuật để triển khai các hoạt động nghiên cứu, đào tạo; các thông tin phản ánh định hướng phát triển nói chung; quy mô về hợp tác trong nước và quốc tế về các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo.2 Đặc điểm, tính chất nguồn tin nội sinh trường đại học Dựa trên quan điểm của người tổ chức và lưu giữ, quản lý và khai thác thông tin thì nguồn tin nội sinh trường đại học có một số đặc trưng cơ bản sau: - Bộ phận chiếm tỷ trọng lớn của nguồn tin nội sinh trường đại học là tài liệu không công bố (tài liệu xám).
Đặc điểm này khiến cho vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ sẽ được đặc biệt quan tâm khi khai thác, sử dụng tài liệu. - Các hoạt động tạo ra nguồn tin nội sinh về cơ bản đều là các hoạt động có kế hoạch, chịu sự quản lý trực tiếp của trường Đại học dù kinh phí có thể do Nhà nước, do tài trợ từ bên ngoài hay do nguồn tự có của trường. Điều này rất thuận lợi cho việc triển khai các chính sách liên quan đến tạo lập, quản lý và khai thác thông tin. - Sự kết hợp xuất bản điện tử và phát triển nguồn tin thuận lợi.Vấn đề phát triển nguồn tin nội sinh dạng số trở nên khả thi.
Thuận lợi cho công tác hiện đại hoá hoạt động thư viện, xây dựng thư viện số… Mặt khác, các trường Đại học có thể nghĩ đến kế hoạch trở thành các nhà cung cấp thông tin lên Internet. - Nguồn tin nội sinh được hình thành theo chu kỳ, thường đa dạng và có số lượng lớn. Chúng tạo nên các nhóm có các đặc điểm và việc khai thác, sử dụng có nhiều khác biệt.3 Vai trò của nguồn tin nội sinh trường đại học Trong trường đại học, nguồn tin nội sinh là nguồn nguyên liệu yếu tố tiềm lực đặc biệt quan trọng để triển khai các hoạt động đào tạo, nghiên cứu. Mọi loại hình hoạt động đào tạo, nghiên cứu của trường đại học đều cần đến loại nguồn tin này.
Nó là nguồn học liệu thiết yếu của giảng viên và sinh viên trong quá trình giảng dạy và học tập. Nó cũng là tài liệu tham khảo cần thiết 16 cho các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, sinh viên triển khai các hoạt động nghiên cứu của mình. Nguồn tin nội sinh là hệ thống thông tin phản ánh tiềm lực hoạt động cũng như định hướng phát triển của trường đại học. Thông qua nguồn tin nội sinh, có thể xác định được chất lượng và trình độ đội ngũ nguồn nhân lực khoa học của trường (đặc biệt qua số lượng, cơ cấu, cấp bậc của luận văn, luận án.); nguồn tin nội sinh cũng thể hiện định hướng về mặt chiến lược và các chương trình phát triển nói chung của trường đại học; vấn đề xác định trọng tâm ưu tiên trong đào tạo, nghiên cứu, hợp tác trong nước và quốc tế trong giáo dục, đào tạo cũng có thể dựa trên nguồn tin nội sinh.
Là hệ thống thông tin phản ánh kết quả hoạt động của trường đại học. Các kết quả trong công tác đào tạo của trường được phản ánh qua hệ thống khoá luận, luận văn, luận án và hệ thống chương trình, giáo trình được tạo nên. Các thành tựu về nghiên cứu khoa học được phản ánh qua hệ thống các báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học các cấp, qua các Kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học. Ngoài ra, các tài liệu phản ánh tiềm lực đào tạo và nghiên cứu khoa học, nguồn tin phản ánh hợp tác trong nước và quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu một mặt thể hiện tiềm lực của trường, mặt khác lại phản ánh sự phát triển của trường Đại học với tư cách là chủ thể tạo ra các hoạt động nghiên cứu, đào tạo.
Như vậy, có thể nói nguồn tin nội sinh không chỉ phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện tiềm lực cũng như thành tựu hoạt động của trường đại học mà nó còn là nguồn nguyên liệu thiết yếu để tạo ra nguồn thông tin mới. Chính vì thế vấn đề quản lý, khai thác nguồn tin này thường rất được quan tâm.2 Trường Đại học Hà Nội và nhu cầu tin nội sinh tại Trường Đại học Hà Nội 1.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội Trường Đại học Hà Nội (tiền thân là Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội) được thành lập từ năm 1959 và hiện nay trở thành trường hàng đầu về đào tạo và nghiên cứu ngoại ngữ tại Việt Nam. Trường có đủ năng lực đào tạo 19 ngành tiếng, trong đó có 10 ngành tiếng đào tạo trình độ Đại học và 4 ngành tiếng đào tạo trình độ Sau đại học. Ngoài ra từ năm 2002, Trường Đại học Hà Nội được phép đào tạo Cử nhân Quản trị kinh doanh, Du lịch, Quốc tế học, Khoa học máy tính, Tài chính – Ngân hàng, Kế toán dạy bằng ngoại ngữ.
Bên cạnh các chuyên ngành về ngoại ngữ, kinh tế, khoa học XH&NV và công nghệ, Trường Đại học Hà Nội còn đào tạo cử nhân Việt Nam học cho sinh viên nước ngoài. Trường Đại học Hà Nội có năng lực trong quan hệ hợp tác quốc tế và đã có nhiều chương trình liên kết đào tạo với nhiều trường đại học trên thế giới, giảng viên của Trường chủ yếu có trình độ sau đại học. Chương trình đào tạo của Trường được xây dựng dựa trên Chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như tiếp cận chương trình quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước vào tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Trường có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu cho cán bộ, giảng viên và sinh viên toàn trường với phương tiện, thiết bị hiện đại.
Quá trình hình thành và phát triển Năm 1959, Trường Đại học Hà Nội được thành lập với tên gọi Trường Ngoại ngữ thuộc Bộ Giáo dục với nhiệm vụ đào tạo phiên dịch, bồi dưỡng 18 ngoại ngữ cho học sinh và cán bộ được tuyển chọn đi học Đại học ở nước ngoài. Công tác đào tạo của Trường chủ yếu tập trung vào tiếng Trung và Tiếng Nga với hàng nghìn học sinh được tuyển chọn. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động cho thấy việc tổ chức và quản lý toàn diện hàng nghìn học viên chuẩn bị ra nước ngoài học tập là một việc phức tạp trong khi đất nước đang chuẩn bị triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Vì vậy, năm 1960, Bộ Giáo dục đã chính thức phân tách Trường Ngoại ngữ thành 2 trường: Trường Trung cấp Ngoại ngữ và Trường Chuyên tu trực thuộc Bộ.
Theo đó, năm 1960-1961, Trường chuyển tên thành Trường bổ túc ngoại ngữ với nhiệm vụ giảng dạy sinh ngữ và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ, thanh niên, học sinh chuẩn bị ra nước ngoài học tập chuyên môn. Trong thời gian này, Trường hoạt động với rất nhiều khó khăn do thiếu giáo viên và cơ sở vật chất. Sau 3 năm vượt khó, Trường đã bồi dưỡng về chính trị và ngoại ngữ cho hàng ngàn lưu học sinh và nghiên cứu sinh đi học ở tất cả các nước trong phe XHCN. Ngay khi Trường đang đi vào thế ổn định và phát triển thì tình hình quốc tế có nhiều biến động lớn dẫn tới lượng sinh viên được cử đi học liên tục giảm.
Mặt khác lượng chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc sang công tác ở nước ta cũng giảm dần, nhu cầu đào tạo phiên dịch không cao. Vì vậy, năm 1963- 1964, Trường tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu giảng dạy và biên soạn giáo trình, bồi dưỡng năng lực cán bộ, giảng viên.