phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Ẩn ức đồng tính Chƣơng 3: Tự sự đồng tính Chƣơng 4: Từ ẩn ức đến tự sự: kiến tạo bản sắc, cộng đồng, quyền lực và những tham chiếu từ bối cảnh Việt Nam đƣơng đại. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về đồng tính ở Việt Nam 1.
Những nghiên cứu về định kiến, kì thị và phân biệt đối xử đối với người đồng tính nói riêng và cộng đòng LGBT nói chung Tiêu biểu cho mảng chủ đề này là các nghiên cứu mang tính can thiệp của các tổ chức phi chính phủ trong đó iSEE đƣợc xem là tổ chức hoạt động tích cực và có nhiều thành quả hơn cả. Các nghiên cứu của iSEE đƣợc thực hiện từ năm 2010 đến 2016 nhƣ Tổng quan về kì thị với người LGBT [30], Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên một số báo in và báo mạng [19], Báo cáo kết quả ban đầu từ khảo sát nữ yêu nữ [50], Thực trạng trẻ em đường phố LGBT [17], Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam. Tổng luận các nghiên cứu [33], “Có phải bởi vì tôi là LGBT?”: phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam [13],… đã phân tích những chiều cạnh của định kiến và kì thị đối với ngƣời đồng tính: trên phƣơng diện học thuật và trong các tài liệu chính thống là việc phổ biến những kiến thức sai lệch về ngƣời đồng tính; trên phƣơng diện truyền thông và kiến tạo dƣ luận xã hội là sự khắc họa phiến diện và mô tả lệch lạc chân dung ngƣời đồng tính, xem ngƣời đồng tính có bản năng tình dục khác thƣờng, có lối sống phóng túng, nhiều hiểm họa, có nhân cách - đạo đức phần nhiều là không tốt…; trên phƣơng diện thái độ xã hội là những quan niệm cực đoan của xã hội, cho đồng tính là một loại bệnh lý, cần đƣợc điều trị và xem đồng tính là mối họa đối với thiết chế hôn nhân tryền thống… Ngoài các nghiên cứu của iSEE, về chủ đề định kiến đối với ngƣời đồng tính, còn có 9 nghiên cứu của USAID và UNDP [53], Khuất Thu Hồng và cộng sự [131], [11], Vũ Mạnh Lợi và cộng sự [195], Phạm Thu Hoa và Đồng Thị Yến [9]. Những nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe, HIV trong cộng đồng thiểu số tính dục, đặc biệt là nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới Đáng chú ý trong mảng chủ đề này là các nghiên cứu của Khuất Thu Hồng [130], Ngo Duc Anh và cộng sự [155], Vũ Ngọc Bảo và P.
Girault [1],… Các nghiên cứu này chủ yếu cung cấp hiểu biết về tình dục đồng giới nam (MSM) ở Việt Nam, dịch tễ học về HIV và các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục trong nhóm MSM cũng nhƣ bối cảnh xã hội liên quan tới các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM. Các nghiên cứu cho thấy MSM ở Việt Nam bao gồm các nhóm nhỏ mang những chân dung khác nhau nhƣ: bóng kín, bóng lộ, mại dâm nam và nam "ẩn". Những đối tƣợng này đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm HIV từ nhiều nguyên nhân, nhƣ không nhận thức đƣợc các nguy cơ tiềm tàng và các biện pháp dự phòng HIV, ít đƣợc tiếp cận với các dịch vụ và phƣơng tiện phòng chống HIV/AIDS. Các nghiên cứu này cũng đƣa ra các khuyến nghị về chính sách và chƣơng trình nhằm công nhận sự tồn tại của MSM và nhu cầu cần thiết phải thực hiện các chƣơng trình dự phòng HIV ở cấp quốc gia nhằm giảm thiểu lây nhiễm HIV trong nhóm này.
Những nghiên cứu về đồng tính từ góc nhìn kiến tạo xã hội Theo những tƣ liệu chúng tôi có đƣợc, nghiên cứu đầu tiên về đồng tính ở Việt Nam có nhan đề “Eunuch mandarins, soldats mamzelles, effeminate boys and graceless women: French colonial contructions of Vietnamese genders” [Quan thái giám, những ngƣời lính nữ tính, các chàng trai ẻo lả và những phụ nữ kém duyên: Cấu trúc giới ở Việt Nam thời Pháp thuộc] của tác giả Frank Proschan [163] công bố trên Tạp chí Gay and Lesbian Quarterly số 8 năm 2002. Theo Proschan, đồng tính chƣa bao giờ bị coi là phạm pháp ở 10 Việt Nam trong thời Pháp thuộc và kể cả trong các giai đoạn lịch sử trƣớc đó. Ông dẫn chứng các bộ luật Hồng Đức (thời Lê) và Gia Long (thời Nguyễn) có các hình phạt đối với tội hiếp dâm, cƣỡng dâm, ngoại tình và loạn luân (giữa hai ngƣời khác giới) nhƣng không nhắc tới quan hệ đồng giới. Tuy nhiên, việc đàn ông ăn mặc quần áo phụ nữ, thiến và tự thiến bị coi là phạm pháp.
Trong thời Pháp thuộc, kê gian và đồng dâm nam cũng không hề bị cấm. Không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các thuộc địa khác, chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính. Cũng từ góc nhìn kiến tạo luận, bài viết “Social contruction of male homosexualities in Vietnam” [Kiến tạo xã hội những ngƣời đồng tính nam ở Việt Nam] của M. Blanc [65] xem xét đồng tính trong bối cảnh chuyển đổi của văn hóa Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại.
Tác giả cho rằng, quan hệ đồng tính ít đƣợc biết đến vì nó bị coi là vô đạo đức trong hệ tƣ tƣởng Nho giáo và là mối đe dọa các giá trị của gia đình truyền thống Việt Nam. Cũng theo Blanc, khái niệm đồng tính luyến ái ở Việt Nam chƣa tồn tại một cách rõ ràng vì các thực hành tính dục thay đổi rất nhanh trong vòng một thế kỉ qua và tiếng Việt vẫn còn đang thích ứng với thực tế mới này. Năm 2009, nhóm tác giả Khuất Thu Hồng, Lê Bạch Dƣơng, Nguyễn Ngọc Hƣởng ra mắt cuốn sách Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại. Chuyện dễ đùa khó nói [11].
Cuốn sách dành ra một chƣơng (khoảng 50 trang) để bàn về tình dục đồng giới với các nội dung: thuật ngữ - khái niệm, tóm tắt lịch sử của tình dục đồng giới ở Việt Nam, các diễn ngôn và cội nguồn của sự ám ảnh, kì thị về tình dục đồng giới. Những nội dung này đƣợc tiếp cận từ góc độ kiến tạo xã hội của tình dục. Những nghiên cứu về vấn đề đồng tính qua các tác phẩm văn học Nghiên cứu về đề tài đồng tính qua văn chƣơng, đáng chú ý, có các bài viết sau: “Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị của dục cảm 11 đồng tính trong văn chƣơng Việt Nam từ và về thời Pháp thuộc” của Nguyễn Quốc Vinh [51] trên trang mạng talawas.org, “Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu” trong sách Bút pháp của ham muốn của Đỗ Lai Thúy [48] và “Văn học đồng tính ở Việt Nam - từ các hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận” của Trần Ngọc Hiếu [8]. Dù có những khác nhau về đối tƣợng khảo sát nhƣng điểm chung của các nghiên cứu trên là dựa trên thuyết đồng tính (queer theory - có ngƣời dịch là thuyết lệch pha), các nghiên cứu chỉ ra rằng các tác phẩm văn học chính là nơi ngụy trang hay tự thú của những dục cảm đồng tính và việc sáng tác văn học là cách để những nghệ sĩ-đồng tính tự cởi trói cho chính mình.
Những nghiên cứu về vấn đề bản sắc ở người đồng tính và phong trào xã hội Đáng chú ý trong mảng chủ đề này là các nghiên cứu của Norton [27], [156], P. Rydstrom và cộng sự [174], Doan Bao Chau [90], Mai Thị Hạnh [7], Phạm Quỳnh Phƣơng [37], [38], [39], [40]… Norton [28], [156] nghiên cứu sự trình diễn bản sắc/căn tính của những ngƣời đồng tính qua một thực hành tín ngƣỡng, cụ thể là lên đồng. Qua việc khảo sát lễ nhạc (ở hoạt động đồng cốt) trong mối quan hệ với các vai trò giới, Norton [28], [156] lập luận rằng: việc biểu diễn nhạc lễ có tầm quan trọng thiết yếu đối với việc hoán đổi vai trò giới trong quá trình lên đồng. Những đặc điểm giới của các vị thần linh đƣợc xác định không chỉ thông qua trang phục nghi lễ và hành động của các thầy đồng, mà còn thông qua việc sử dụng các làn điệu chầu văn và những ca từ riêng dành cho các vị nam thần và nữ thần, tiêu biểu cho các đặc điểm “giống đực” và “giống cái”.
Việc hoán chuyển giới trong quá trình nhập thần cho phép cả những thầy đồng nam lẫn nữ vƣợt qua những đƣờng phân định về giới, phá vỡ những đặc điểm giới truyền thống, giúp căn tính của họ đƣợc lộ diện. 12 Trong khi đó, Horton [121] và Rydstrom cùng các cộng sự [174] lại đề cập đến sự “hữu hình hóa” ngƣời đồng tính trong mối liên hệ với các phong trào xã hội và các chiến lƣợc thƣơng thảo. Trong bài viết “'I thought I was the only one': the misrecognition of LGBT youth in contemporary Vietnam” [Tôi đã nghĩ rằng mình là ngƣời duy nhất: nhận thức sai lầm về giới trẻ LGBT trong xã hội Việt Nam đƣơng đại], Horton đã chỉ ra rằng những cuộc diễu hành vì quyền của LGBT và các cuộc thảo luận về hôn nhân đồng giới đã đẩy vấn đề đồng tính luyến ái lên vị trí trung tâm những năm gần đây. Dựa trên các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc những ngƣời đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính ở Hà Nội, bài viết đã chứng minh khả năng hiển thị ngày càng tăng của đồng tính luyến ái và nhấn mạnh những tác động tiêu cực tiềm ẩn của những nhận thức sai lầm về cộng đồng thiểu số tính dục này.
Rydstrom và các cộng sự trong bài viết “Contesting heteronormativity: the fight for lesbian, gay, bisexual and transgender recognition in India and Vietnam” [Thách thức quan niệm dị tính chuẩn mực: cuộc chiến cho sự công nhận LGBT ở Ấn Độ và Việt Nam] cũng chỉ ra rằng các cuộc tranh luận công khai gần đây về tình dục ở Ấn Độ và Việt Nam đã đƣa lại sự tăng quyền cho những ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới. Trên cơ sở các nguồn tài liệu thứ cấp và điền dã dân tộc học đƣợc thực hiện tại Delhi và Hà Nội, nghiên cứu của nhóm tác giả Rydstrom cho thấy nỗ lực to lớn của các tổ chức xã hội dân sự trong công cuộc đấu tranh vì quyền của cộng đồng LGBT. Bài viết cũng xem xét sự thƣơng lƣợng của những tổ chức này với chính phủ sở tại.