Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo qua cách sử dụng từ điệp âm trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Tâm lý học 3 nghiên cứu yếu tố kỳ ảo qua cách sử dụng từ điệp âm trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

67
11
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, tác giả và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

2. CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ “KÌ ẢO” QUA CÁCH SỬ DỤNG TỪ ĐIỆP ÂM TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục

Yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ không chỉ là một đặc điểm nghệ thuật mà còn là một phương tiện thể hiện sâu sắc những giá trị nhân văn. Tác phẩm này, ra đời vào thế kỷ XVI, đã khéo léo kết hợp giữa hiện thực và huyền ảo, tạo nên một không gian văn học độc đáo. Yếu tố kỳ ảo không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn giúp người đọc cảm nhận được những khía cạnh sâu sắc của cuộc sống và con người trong xã hội phong kiến đương thời.

1.1. Khái niệm và vai trò của yếu tố kỳ ảo

Yếu tố kỳ ảo được hiểu là những hiện tượng không thể giải thích bằng lý trí, mang tính chất siêu nhiên. Trong Truyền kỳ mạn lục, yếu tố này không chỉ tạo ra sự hấp dẫn mà còn phản ánh những khát vọng, nỗi đau của con người trong xã hội phong kiến.

1.2. Tác giả Nguyễn Dữ và bối cảnh sáng tác

Nguyễn Dữ sống trong thời kỳ đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Tác phẩm của ông phản ánh những tệ nạn xã hội, đồng thời thể hiện sự khát khao về một thế giới công bằng hơn thông qua yếu tố kỳ ảo.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu yếu tố kỳ ảo

Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc phân tích ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu thường chú trọng vào nội dung mà bỏ qua hình thức, dẫn đến việc hiểu sai về giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Việc thiếu sót trong việc nghiên cứu từ điệp âm cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Những khó khăn trong việc phân tích ngôn ngữ

Ngôn ngữ trong Truyền kỳ mạn lục rất phong phú và đa dạng. Việc phân tích từ điệp âm cần phải được thực hiện một cách cẩn thận để không làm mất đi giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

2.2. Sự thiếu hụt trong các công trình nghiên cứu

Nhiều công trình nghiên cứu hiện nay chưa đi sâu vào việc phân tích yếu tố kỳ ảo qua cách sử dụng từ điệp âm, dẫn đến việc hiểu chưa đầy đủ về tác phẩm.

III. Phương pháp nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm

Để nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp thi pháp học giúp làm rõ không gian và thời gian nghệ thuật, trong khi phương pháp phân tích, tổng hợp giúp nhận diện các đặc điểm của yếu tố kỳ ảo.

3.1. Phương pháp thi pháp học

Phương pháp thi pháp học giúp làm sáng tỏ cách mà Nguyễn Dữ xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật, từ đó làm nổi bật yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm.

3.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích và tổng hợp các yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục sẽ giúp làm rõ giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa của chúng trong bối cảnh xã hội phong kiến.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo qua cách sử dụng từ điệp âm trong Truyền kỳ mạn lục không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học sau này. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố kỳ ảo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.

4.1. Giá trị nghệ thuật của yếu tố kỳ ảo

Yếu tố kỳ ảo không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn tạo ra những hình ảnh sinh động, hấp dẫn cho người đọc.

4.2. Tác động của nghiên cứu đến văn học hiện đại

Nghiên cứu này có thể làm nền tảng cho các tác phẩm văn học hiện đại, giúp các tác giả mới tìm kiếm cảm hứng từ những giá trị văn hóa truyền thống.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu yếu tố kỳ ảo

Yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ không chỉ là một phần không thể thiếu trong tác phẩm mà còn là một lĩnh vực nghiên cứu phong phú. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều khám phá mới, giúp làm sáng tỏ hơn về giá trị văn học Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của yếu tố kỳ ảo

Yếu tố kỳ ảo là một phần quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về văn học cổ điển Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội phong kiến.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu văn học

Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo có thể mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu, từ việc phân tích ngôn ngữ đến việc khám phá các giá trị văn hóa.

17/07/2025
Tâm lý học 3 nghiên cứu yếu tố kỳ ảo qua cách sử dụng từ điệp âm trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề chung Chương 2. Biểu hiện của yếu tố “kì ảo” qua cách sử dụng từ điệp âm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ 8 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.Xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, tác giả và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 1.

Xã hội Việt Nam thế kỷ XVI Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Các truyện hầu hết ở thời Lí, Trần, Hồ, Lê Sơ, và đều có yếu tố hoang đường, nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những tệ trạng mà tác giả muốn vạch trần và phê phán. Nguyễn Dữ sống ở trong khoảng cuối thế kỷ XV, nửa đầu thế kỷ XVI. Tính từ khi Lê Thánh Tông mất (năm 1497) đến khi nhà Mạc thay nhà Lê (năm 1527) thì xã hội Việt Nam đã trải qua 30 năm, triều đại phong kiến nhanh chóng bước vào thời kỳ suy thoái.

Kể từ khi Lê Uy Mục (1505) lên ngôi, quan hệ sản xuất phong kiến với quyền sở hữu ruộng đất tối cao của nhà vua và quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ đã dần dần bộc lộ nhiều tính chất tiêu cực, lạc hậu của nó trước yêu cầu phát triển mới của nền sản xuất xã hội. Giai cấp phong kiến sau khi đã ổn định địa vị thống trị của mình thì xa hoa hưởng lạc, tìm mọi cách bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất của nông dân. Quý tộc, quan lại và dòng dõi nhà Lê mỗi khi nhận chức ở các địa phương, thường dựa vào quyền lực cướp ruộng đất của thôn xã để lập trang trại. Ngay cả triều đình cũng không thể chịu nổi trước sự bạo hành của của đẳng cấp mình, bèn ban hành Trị bình bảo phạm (1511) trong đó có nhiều điều khoản cấm quan lại không được cướp đoạt ruộng đất và cướp thóc lúa hoa màu của nhân dân.

Thời kỳ nhà Lê, kể từ khi Lê Thánh Tông mất (1497) trải qua sự trị vì của 6 vị vua. Lê Hiển Tông lên ngôi từ 1498 đến 1504, thọ 44 tuổi; Lê Túc Tông lên ngôi chỉ gần 1 năm (1504) thọ 17 tuổi. Lê Uy Mục làm vua 5 năm (1505 - 1509) thọ 22 tuổi; Lê Tương Dực làm vua 7 năm (1510 - 1516), thọ 24 tuổi; Lê Chiêu Tông làm vua 7 năm (1516 - 1522) thọ 26 tuổi; 9 vua Lê Cung Hoàng làm vua 6 năm (1522 - 1527) thọ 21 tuổi. Đây là thời kỳ mà dân gian thường gọi là “Vua quỷ” và “Vua lợn”.

Thái độ thiếu tôn trọng người đứng đầu xã tắc đó bắt nguồn từ một thực tế nhà vua hoang dâm vô độ, nguyên nhân đó dẫn đến kết quả là đoản thọ, trừ Lê Hiến Tông, còn trong 23 năm có 5 đời vua đều chết trẻ. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là thời điểm loạn lạc, không còn sự bình yên hưng thịnh nữa mà chế độ phong kiến đã có những khủng hoảng dẫn đến nội chiến và đất nước bị chia cắt. Khi chiến tranh nổ ra, các thế lực tranh giành ngôi vị, bao khốn khổ đổ hết lên đầu những người dân vô tội: nạn phu phen, thuế má, bắt lính khiến vợ phải xa chồng, con lìa cha mẹ…Qua đó Nguyễn Dữ đã xây dựng nên những nhân vật thuộc tầng lớp đáy của xã hội, cho người đọc thấy sự khổ đau, cùng cực của họ. Trong xã hội rối ren ấy, mọi giá trị bị đảo lộn, đạo đức bị băng hoại, vua không ra vua, quan không ra quan: “… đem hết sức dân xây dựng cung điện, vung vãi châu ngọc, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình phạt có của đút là xong, quan chức có tiền là mua được, kẻ dâng lời ngay thì phải chết, kẻ nói điều dở thì được thưởng”Chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na.

Vua đã vậy, bọn quan tham càng được nước lấn tới, trên không nghiêm dưới tất loạn. Bọn tham quan dựa vào lũ trộm cướp như lòng ruột, thích sắc đẹp, ham tiền tài, khinh người trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, quan nhỏ thì làm việc dối vua, quan lớn thì làm điều bán nước. Một xã hội mà những kẻ bề trên không quan tâm đến đời sống nhân dân, chỉ chăm lo lợi ích bản thân, dẫn đến kết cục đời sống nhân dân điêu đứng, khốn cùng: “bốn phương kém miếng, chiếc bóng nhờ người, con khóc lóc đói lòng, vợ than thân rét cật, về thì thiếu túp lều chắn gió, đi thì không chiếc nón che mưa”, “đói không thứ gì cấp dưỡng, lui không có chỗ nào tựa nương.”… trong hoàn cảnh đầy rẫy những bất công và tai ương ấy, đã có những người 10 dám đứng lên chống trả. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra: Khởi nghĩa Trần Tuân (đầu năm 1511) ở Hưng Hóa và Sơn Tây, nghĩa quân có đến hàng vạn người tiến về Từ Liêm uy hiếp kinh thành Thăng Long.

Khởi nghĩa Lê Hy, Trịnh Hưng (năm 1512) ở Nghệ An và phát triển ra Thanh Hóa. Khởi nghĩa ở Phùng Chương (năm 1515) diễn ra ở Tam Đảo. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo (năm 1516) ở Đông Triều (Quảng Ninh) nghĩa quân cạo trọc đầu chỉ để 3 chỏm tóc, gọi là quân “ba chỏm” nghĩa quân ba lần tấn công thành Thăng Long, có lần chiếm được kinh thành, vua quan nhà Lê phải chạy vào Thanh Hóa. Tuy nhiên, tất cả các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.

Trong tình trạng đạo đức suy đồi, nhân tình thế thái đảo điên đang trở thành một hiện thực phổ biến nhức nhối khiến con người không thể tìm được hạnh phúc và bến đỗ hạnh phúc họ có thể tìm được có lẽ là trong mái ấm gia đình. Thế nhưng, ngay cả trong gia đình con người vẫn đau đớn, tủi cực. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, trong xã hội thối nát ấy, gia đình không thể ấm êm được. Tư tưởng nam quyền, thần quyền ngự trị trong mỗi thành viên gia đình, người chồng người cha là người có quyền sinh sát trong tay, người bất hạnh nhất là những người phụ nữ chân yếu tay mềm, luôn phụ thuộc vào người đàn ông trong gia đình.

Nguyễn Dữ đã phác họa lên những người phụ nữ đẹp từ khuôn dung đến đức hạnh. Nhưng tất cả họ đều phải chịu sự bất công, không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, có khi phải quyên sinh. Đó là nàng Nhị Khanh, nàng Vũ Nương…hàng năm trời chăm sóc gia đình, chung thủy chờ chồng. Nhưng khi chồng trở về, bi kịch cuộc đời mới thật sự xảy ra với hai nàng.

Nhị Khanh đợi Trọng Quỳ trở về, nhưng chồng nàng lại là kẻ quen tính chơi bời, ham mê cờ bạc, dùng nàng làm vật đánh cược khiến nàng phải tự vẫn. Vũ Nương cũng vì sự ghen tuông mù quáng của chồng mà phải tuẫn tiết chứng minh cho sự trinh bạch của mình. Trong xã hội ấy, đâu chỉ có Vũ Nương hay Nhị Khanh mà còn biết bao người phụ nữ giống như họ, đều 11 không hạnh phúc trong mái ấm gia đình. Sống giữa bối cảnh lịch sử xã hội như vậy, là một trí thức có tâm huyết, Nguvễn Dữ đã không thể không lên tiếng.

Truyền kì mạn lục chính là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của ông đối với hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Ông mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, mượn chuyện thần linh ma quái để nói chuyện người, mượn chuyện cõi âm để nói chuyện cõi dương, cõi trần từ đó thể hiện tất cả những suy nghĩ, thái độ, quan điểm của mình về con người, về xã hội. Tác phẩm còn thể hiện ý thức xây dựng, bảo vệ tình cảm gia đình, hạnh phúc lứa đôi. Ông tập trung ca ngợi sự gắn bó chung thủy trong tình cảm vợ chồng, đặc biệt ông dành nhiều cảm hứng để đồng cảm với những bất hạnh và đề cao phẩm chất tốt đẹp ở những người phụ nữ.

Bao trùm lên tất cả những vấn đề là mơ ước về một xã hội công bằng, lí tưởng, là khát vọng về hạnh phúc cho con người của nhà văn nói riêng và nhân dân lao động nói chung.Tác giả và tác phẩm 1. Tác giả Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỉ XVI, chưa rõ năm sinh năm mất, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng (cha đỗ Tiến sĩ đời Lê Thánh Tông ), từng đi thi và đã ra làm quan, nhưng không bao lâu thì lui về ẩn dật và sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Các ghi chép về Nguyễn Dữ còn lại không nhiều, bài tựa Truyền kì mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm 1547 có thể là tài liệu ghi chép sớm nhất.

“Tập lục này là trứ tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu. Lúc nhỏ rất chăm chỉ lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền. Mới được một năm ông đã từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này để ngụ ý”.

Tuy nhiên, 12 Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục cho rằng: “Vì Ngụy Mạc cướp ngôi vua, Nguyễn Dữ thề không ra làm quan, ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến đất thị thành”. Như vậy, có thể thấy rằng, Nguyễn Dữ về ở ẩn không chỉ vì lí do chăm mẹ già mà còn vì bất mãn với kẻ cầm quyền. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp.

Trải qua mấy năm không đặt chân đến nơi đô hội, Nguyễn Dữ miệt mài ghi chép để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm Truyền kì mạn lục, qua tác phẩm có thể thấy được quan điểm sống và tấm lòng của tác giả với cuộc đời. Mượn các hình tượng nhân vật thần tiên, ma quái, loài vật, cây cỏ., Nguyễn Dữ muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn tất sẽ nảy sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ" khám phá những yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Dữ, từ đó làm nổi bật vai trò của chúng trong việc xây dựng cốt truyện và phát triển nhân vật. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Dữ mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn hóa và tâm lý xã hội thời kỳ đó.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo tài liệu Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài, nơi phân tích cách sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm của một nhà văn khác, hoặc tìm hiểu về Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu thêm về các yếu tố tâm linh trong văn học. Cuối cùng, tài liệu Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Bính cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện cảm xúc và tư tưởng trong thơ ca. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan đến văn học và ngôn ngữ Việt Nam.