CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm cho các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.
[3] Theo Khoản 13, Điều 4, Luật Kinh doanh Bảo hiểm số 08/2022/QH15 của Việt Nam thì BHNT được định nghĩa: "BHNT là hình thức bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết". [1] Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ - Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro: Đây là một trong những đặc điểm cơ bản của BHNT. Người tham gia bảo hiểm định kì sẽ đóng một khoản tiền nhỏ dựa trên sản phẩm mình đã tham gia cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm sẽ cam kết trả tiền hoặc bồi thường cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm nếu xảy ra các sự kiện bảo hiểm mà hai bên đã thỏa thuận và được thể hiện bằng văn bản là HĐBH. Nhờ khoản tiền này mà người tham gia bảo hiểm sẽ khắc phục được những hậu quả mà rủi ro gây ra và khoản tiền này giúp họ và người thân có nguồn tài chính để phục vụ cho các chi phí cần thiết.
Như vậy, BHNT vừa có tính chất tiết kiệm, vừa có tính rủi ro, trong đó tính chất tiết kiệm thể hiện ở việc chi tiêu có tính kỷ luật và có kế hoạch. Khi người được bảo hiểm không may gặp phải rủi ro trong cuộc sống từ những biến cố không mong muốn và HĐBH còn hiệu lực thì người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền chi trả lớn từ người bảo hiểm dù họ mới đóng phí một khoản tiền nhỏ. Do đó, hình thức tiết kiệm này khác với hình thức tiết kiệm khác như gửi ngân hàng. - Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham gia bảo hiểm: Người tham gia bảo hiểm khi có ý định tham gia BHNT đều có những mục đích khác nhau.
BHNT ngày nay có rất nhiều loại sản phẩm phù hợp với từng mục đích hay nhu cầu của người tham gia bảo hiểm. Chẳng hạn, khi người tham gia bảo hiểm có nhu cầu về những khoản trợ cấp hàng tháng khi họ già yếu thì họ có thể tham gia HĐBH hưu trí. Còn khi người tham gia bảo hiểm lo lắng nếu người được bảo hiểm xảy ra rủi 4 ro thì người thân sẽ không có nguồn tài chính để được chăm sóc chu đáo, như giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già… thì họ có thể tham gia HĐBH cho trường hợp tử vong. HĐBH đôi khi còn có vai trò như một tài sản đảm bảo để thực hiện nhu cầu vay vốn.
Vì lí do đó nên BHNT có thị trường ngày càng rộng và nhiều người đã có xu hướng chủ động tìm kiếm thông tin để tham gia bảo hiểm. - Thời hạn bảo hiểm nhân thọ thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp: Thời hạn trong BHNT thường kéo dài từ 5 năm trở lên. Hiện nay, thời hạn của hợp đồng BHNT rất đa dạng, ngắn hạn có thể là 5 năm, 10 năm, nhưng có những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thời gian hợp đồng lên đến 50 năm, 75 năm. Mỗi hợp đồng BHNT lại có những quy định khác nhau về STBH, những rủi ro được bảo hiểm và rủi ro loại trừ không được bảo hiểm… Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên của hợp đồng BHNT cũng rất phức tạp vì thường mỗi HĐBH nhân thọ có thể có 4 người có liên quan: Người bảo hiểm hay còn gọi là bên bán bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm hay còn gọi là bên mua bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, đây là sự khác biệt với HĐBH phi nhân thọ.
- Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp: Khác với các hình thức tiết kiệm qua ngân hàng, khi khách hàng gửi một khoản tiền tiết kiệm thì họ sẽ nhận được lãi từ khoản tiền đó, nhưng khi họ tham gia bảo hiểm thì họ phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như: Chi phí khai thác, chi phí quản lý rủi ro, chi phí quản lý hợp đồng. Những chi phí này tương đối cao ở những năm đầu khi khách hàng mới tham gia BHNT vì nếu chẳng may khách hàng mới đóng phí ở những năm đầu và xảy ra rủi ro thì công ty vẫn bồi thường khoản tiền lớn được quy định trong HĐBH. Ngoài các chi phí đó còn có các nhân tố khác tác động đến phí BHNT bao gồm: Độ tuổi của người được bảo hiểm; Ngành nghề công tác của người được bảo hiểm; Sức khỏe của người được bảo hiểm; STBH; Thời hạn tham gia bảo hiểm; Giới tính của người được bảo hiểm; Lãi suất đầu tư; Mức độ rủi ro. - Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định: Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT ra đời từ rất sớm và phát triển hàng trăm năm nay.
Ngược lại, có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT hoặc tỷ lệ người dân tham gia BHNT còn rất thấp, mặc dù đã có nhiều người thấy được ý nghĩa nhân văn của BHNT và những lợi ích mà nó mang lại. Như vậy, có thể thấy rằng cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - 5 xã hội phải phát triển, hay nói cách khác, BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.1: Các doanh nghiệp BHNT đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay TT Tên công ty Nguồn gốc Bắt đầu tại Lĩnh vực Việt Nam 1 Bảo Việt Nhân thọ Việt Nam 1996 Nhân thọ 2 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Anh 1999 Nhân thọ Prudential Việt Nam 3 Công ty TNHH Manulife Việt Nam Canada 1999 Nhân thọ 4 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Nhật 2007 Nhân thọ Dai-ichi Việt Nam 5 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Mỹ 2000 Nhân thọ AIA Việt Nam 6 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Canada 2013 Nhân thọ Sun Life Việt Nam 7 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Italy 2011 Nhân thọ Generali Việt Nam 8 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Mỹ 2005 Nhân thọ Chubb Life Việt Nam 9 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hàn Quốc 2008 Nhân thọ Hanwha Life Việt Nam 10 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Pháp 2005 Nhân thọ Mirae Asset Prévoir 11 Công ty TNHH FWD Việt Nam Hồng Kông 2007 Nhân thọ 12 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Đài Loan 2007 Nhân thọ Cathay Việt Nam 13 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Đài Loan 2010 Nhân thọ Fubon Việt Nam 14 Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhân Đài Loan 2013 Nhân thọ thọ Phú Hưng Life 15 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Anh 2011 Nhân thọ MVI Life 16 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Mỹ 2013 Nhân thọ BIDV Metlife 17 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Thái Lan - 2016 Nhân thọ MB Ageas Life Bỉ 18 Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hoàn Quốc 2022 Nhân thọ Shinhan Life Việt Nam (Nguồn: thebank. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ BHNT ngày càng có nhiều sản phẩm đa dạng, đáp ứng được rất nhiều mục đích và nhu cầu khác nhau của người tham gia bảo hiểm. Có thể là mục đích tiết kiệm cho tương lai như đảm bảo kế hoạch học vấn cho con cái, kế hoạch hưu trí, hoặc mục đích bảo vệ cho những rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống.
Do vậy, các sản phẩm BHNT đã 6 được người bảo hiểm đa dạng hóa, thậm chí thường xuyên cải tiến sản phẩm ngày càng tối ưu và có nhiều quyền lợi nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người tham gia bảo hiểm. Theo điều 3, nghị định 46/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm năm 2023 (nghị định được ban hành ngày 01/07/2023) [2], nghiệp vụ BHNT bao gồm 7 nghiệp vụ sau: - Bảo hiểm trọn đời - Bảo hiểm sinh kỳ - Bảo hiểm tử kỳ - Bảo hiểm hỗn hợp - Bảo hiểm trả tiền định kỳ - Bảo hiểm liên kết đầu tư - Bảo hiểm hưu trí 1. Bảo hiểm trọn đời Bảo hiểm trọn đời là số tiền bảo bảo hiểm được trả 1 lần cho người thụ hưởng khi người đóng bảo hiểm tử vong vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó. Với loại nghiệp vụ bảo hiểm này thời hạn bảo hiểm không xác định và phí bảo hiểm có thể đóng 1 lần hoặc định kỳ.
Bảo hiểm sinh kỳ Đây là nghiệp vụ bảo hiểm với trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định. Và người bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hoặc người thụ hưởng nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Bảo hiểm tử kỳ Đây là nghiệp vụ trái ngược với nghiệp vụ bảo hiểm sinh kỳ. Người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn nhất định, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hoặc người thụ hưởng bảo hiểm.
Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện chi trả bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Loại nghiệp vụ bảo hiểm này không có yếu tố tiết kiệm, chỉ có yếu tố bảo vệ. Bảo hiểm hỗn hợp Là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ. Với nghiệp vụ này người bảo hiểm sẽ chi trả bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hoặc thụ hưởng, khi người được bảo hiểm mất trong thời hạn thỏa thuận hoặc sau thời hạn thỏa thuận.