Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận. 123doc 4 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Du lịch sinh thái (Ecotourirm) 2. Định nghĩa du lịch sinh thái Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN): “Du lịch sinh thái (DLST) là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện diện, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos – Lascurian , 1996).
Tại hội thảo “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” tháng 9 năm 1999 đưa ra định nghĩa về DLST: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa.
DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng. Đặc điểm du lịch sinh thái Đặc điểm chung của DLST: Theo các ấn phẩm của WTO và UNEP về DLST và các vấn đề liên quan (năm 2002): 1. Tất cả các hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên trong đó động lực chính của du khách là tham quan và đề cao thiên nhiên cũng như các nền văn hóa truyền thống phổ biến tại đó. Nó bao gồm việc giáo dục và giải thích.
Thông thường, nhưng không phải là luôn luôn tổ chức theo các nhóm nhỏ, do địa phương tự kinh doanh. Các tổ chức nước ngoài thuộc nhiều loại hình khác nhau cũng có thể thành lập, tổ chức và/ hoặc bán các tour du lịch dành cho nhóm nhỏ. Giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội. Giúp hỗ trợ bảo vệ các vùng tự nhiên: • Tạo ra lợi ích kinh tế cho các cộng đồng địa phương, các tổ chức và các cơ quan quản lý khu vực tự nhiên với mục đích bảo tồn.
• Cung cấp cơ hội việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương. • Nâng cao nhận thức đối với việc bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của cả những người dân địa phương và du khách. Loại hình DLST về thực chất là loại hình có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng v.
đồng thời chú trọng tới việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai. Loại hình DLST có nhiệm vụ (UNWTO, 2002): 123doc 6 -Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên. -Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang tham quan. -Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch v.
Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói trên, loại hình DLST vừa đảm bảo sự hài lòng đối với du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch và cũng là cơ hội tăng thu nhập cho người dân thông qua hoạt động du lịch, và có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch.1 Minh họa cách DLST là một phần thị trường du lịch. Cả du lịch thám hiểm và DLST phản ánh đặc điểm của du lịch thiên nhiên. Ngoài ra, DLST cũng cho thấy một số mối quan hệ với du lịch văn hóa và du lịch nông thôn.
Do đó có sự chồng chéo nhất định giữa DLST và các hình thức khác của các mô hình du lịch.1: DLST là một phân khúc thị trường du lịch Nguồn: WTO. dx Mặc dù phân khúc DLST có một số đặc điểm giống với các hình thức khác của các mô hình du lịch, Weaver (2001) làm nổi bật các tính năng quan trọng phân biệt 123doc 7 DLST từ các mô hình du lịch. Như mô tả trong Hình 2.1, cả DLST và du lịch thám hiểm theo nhánh du lịch dựa vào thiên nhiên. Du lịch dựa vào thiên nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào các điểm tham quan có liên quan trực tiếp đến môi trường tự nhiên.
DLST gắn với các điểm tham quan cũng dựa vào thiên nhiên, đó là một phần của du lịch dựa vào thiên nhiên, nhưng khác với du lịch dựa vào thiên nhiên bằng cách bao gồm các yếu tố văn hóa, giáo dục, và tính bền vững. Du lịch văn hóa và nông thôn có thể được gắn liền với DLST, DLST liên quan đến việc thẩm định các thuộc tính văn hóa. Tuy nhiên, thẩm định văn hóa là một mục tiêu thứ cấp trong DLST. Weaver (2001) nhấn mạnh hơn nữa tính chất không tiêu hao của DLST, và loại trừ các hoạt động như săn bắn và câu cá từ DLST.
DLST là tập trung hơn vào sự đánh giá cao, chứ không phải là khai thác. Như vậy có thể khái quát: DLST là loại hình du lịch nhằm khai thác triệt để điều kiện thiên nhiên của vùng. Du khách tìm đến các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn rừng nguyên sinh chưa bị tàn phá … để tìm hiểu, hưởng thụ những giây phút sống hòa mình với thiên nhiên cây cỏ. DLST dựa vào bản địa và bảo tồn, bảo vệ môi trường sinh thái và văn hóa của địa phương.
Hướng dẫn viên đóng vai trò quan trọng đối với DLST. Họ là người trung gian, làm cầu nối giữa thiên nhiên, cộng đồng của vùng và các du khách từ các địa phương đến tham quan. Họ có trách nhiệm giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa của khu vực, đồng thời giám sát các hoạt động của du khách. Thông qua hoạt động DLST, du khách có được nhận thức hiểu biết về tự nhiên, đồng thời sẽ được giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn thiên nhiên.
Hoạt động DLST mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng, tạo việc làm cho người dân địa phương.3 Du lịch sinh thái ở Việt Nam Nước Việt nam tuy nhỏ bé nhưng được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan xinh đẹp, đa dạng và độc đáo vừa mang tính chất văn hóa thế giới vừa có tính lịch sử đặc thù của dân tộc Việt nam. Với xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật như vũ bão, nhu cầu thích tìm về thiên nhiên của con người ngày càng gia tăng, những cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ, không khí trong lành là những nơi hấp dẫn của du khách thế giới. Do đó, DLST giữ vai trò quyết định sự tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam trong những năm gần đây và hứa hẹn nhiều trong tương lai. Ngoài ra, DLST còn là dịp để giới thiệu về đất nước tươi đẹp và con người Việt Nam anh hùng với thế giới một cách hữu hiệu, đem lại lợi ích trên nhiều phương diện: văn hóa, kinh tế, xã hội và phát triển bền vững (Lê Huy Bá 2006).
Các loại hình DLST ở Việt Nam: Nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long - Di sản của thế giới; Cần Giờ, Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao chàm, Cà Mau, biển kiên Giang – khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, một số vườn quốc gia Ba Bể, Hoàng Liên, Tam Đảo… có hệ sinh thái đa dạng nuôi dưỡng biết bao loài động, thực vật quý hiếm với không gian thoáng đãng rừng xanh ngút ngàn, biển cả êm đềm… bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những nét tín ngưỡng đặc sắc, những di tích khảo cổ, di tích văn hoá lịch sử,. tất cả tạo nên một nước Việt nam xinh đẹp rất gần gũi nhưng tinh khôi, rất độc đáo lại hiền hoà, duyên dáng… nhiều điểm DLST đầy hấp dẫn, quyến rũ du khách trong và ngoài nước. Nhưng mỗi nơi mỗi vẻ thích hợp cho từng loại hình DLST, du khách có thể đến tham quan, nghiên cứu, học tập, hội họp, giải trí (vi.1 Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng Loại hình du lịch này phục vụ khách du lịch thuần tuý chỉ đơn giản là tìm về với thiên nhiên có không khí trong lành tươi mát, để được hoà mình với thiên nhiên hoang dã, rừng xanh suối mát, bãi biển mênh mông, tha hồ đùa giỡn với sóng nước, thư giãn tâm hồn sau những ngày học tập và làm việc vất vả, căng thẳng. Loại hình 123doc 9 du lịch này có thể thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trong, ngoài nước và thường đến những khu bảo tồn thiên nhiên, các khu vui chơi giải trí.
có cảnh quan thơ mộng, có nhiều biệt thự để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.