CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 5 123doc • khái niệm về du lịch bền vững và du lịch sinh thái: Trong phần này tác giả nêu lên các khái niệm chủ yếu như: Khái niệm về du lịch bền vững, khái niệm về DLST, trong đó khái niệm DLST được công nhận rộng rãi trên thế giới là: “Du lịch sinh thái là việc đi lại của có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương”.(Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế -TIES) Và định nghĩa về DLST ở Việt Nam: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Tổng Cục Du lịch) + Một số đề xuất bổ sung của tác giả luận án về lý luận DLST: a/ Về khái niệm DLST chung: “DLST là dạng du lịch tích cực, đây là loại hình du lịch chú trọng đến việc phát triển tình cảm và trách nhiệm của người tham gia đối với vẻ đẹp thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa bản địa. Gắn hoạt động với giáo dục môi trường tự nhiên-xã hội để nâng cao hiểu biết cho du khách về thiên nhiên-sinh thái, về các giá trị lịch sử-văn hóa truyền thống của điểm đến. Từ đó đề cao trách nhiệm của người tham gia và góp phần bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thiên - tài nguyên nhân văn và lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương một cách bền vững”. b/ Khái niệm DLST biển - đảo: là một loại hình DLST cụ thể, đề cập đến hoạt động du lịch dựa vào môi trường biển và bờ, có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường thiên nhiên, các giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân đang sinh sống ở vùng duyên hải và hải đảo.
DLST biển-đảo chú trọng đề cao sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào việc hoạch định quản lý và khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch biển-đảo trên cơ sở bảo tồn và phát triển bền vững tạo điều kiện mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho toàn cộng đồng. DLST biển-đảo có thể chia làm 3 khu vực không gian hoạt động cơ bản: khu vực bờ và mép nước; khu vực mặt nước và hải đảo; khu vực dưới mặt nước và đáy biển. Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển DLST: Phần này tác giả đã làm rõ các nguyên tắc, các điều kiện cơ bản của DLST bền vững: -Về những nguyên tắc của DLST bền vững: như sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững, bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa; thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả; phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch của địa phương, vùng và của quốc gia; tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. - Về các điều kiện cơ bản để phát triển DLST: yêu cầu ở đó phải tồn tại các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao, có sức hấp dẫn du khách; về tính chất điều kiện tổ chức quản lý của con người; hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do hoạt động DLST gây ra cho tự nhiên và môi trường; thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch.3 Phát triển DLST bền vững ở vùng bờ biển và hải đảo: trong phần này ngoài khái niệm không gian DLST vùng bờ-hải đảo, tác giả nêu lên các giai đoạn phát triển của DLST vùng ven biển, hải đảo; sự tác động của DLST ven biển đến môi trường để làm cơ sở cho việc phân tích hiện trạng ở chương 2.
Từ những khái niệm được nêu trên luận án còn đi sâu đề cập đến nội dung quy hoạch phát triển bền vững cho DLST biển đảo với phân vùng 3 đới quy hoạch cơ bản như sau: Bảng 1.1:Các loại khả năng tải ưu tiên trong quy hoạch các đới DLST ven biển Không gian DLST Môi trường vùng bờ và hải đảo Khả năng tải ưu tiên Đới dịch vụ và Vùng đất phía trong bờ và đảo Khả năng tải kinh tế tiện nghi DLST Cồn cát và các đồi đá ven đảo Khả năng tải sinh thái Đới đệm …………………………………… Khả năng tải xã hội Đới hoạt động ……………………………………. nghỉ dưỡng, thể. thao, khám phá,. Biển Khả năng tải sinh thái (Nguồn: Pearce và Kirk, Wong,P.4 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST 1.5 Tài nguyên du lịch sinh thái: xác định đây là nguồn lực cơ bản để tổ chức hoạt động nên tác giả nêu rõ khái niệm, tính chất phân bố của tài nguyên DL-DLST.
Theo Luật Du lịch: “tài nguyên DL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là các yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Có hai loại tài nguyên du lịch: tài nguyên du lịch thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn. Về đặc điểm của tài nguyên DLST: tài nguyên DLST có các đặc điểm sau: tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên có giá trị vô cùng to lớn và đặc sắc; Tài nguyên DLST rất nhạy cảm với các tác động; Tài nguyên DLST có thời gian khai thác khác; Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác ngay tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch.6 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển DLST bền vững: gồm 3 tiêu chuẩn cơ bản: Tiêu chuẩn về kinh tế; tiêu chuẩn về xã hội, con người; tiêu chuẩn về môi trường cả 3 tiêu chuẩn đều có vai trò quan trọng như nhau trong tương tác và vận động giúp cân bằng phát triển DLST bền vững.7 DLST dựa vào cộng đồng góp phần phát triển bền vững: tác giả nêu lên tính tất yếu cộng đồng trong việc tham gia phát triển DLST, ở một địa bàn phát triển hoạt động DLST nếu không có sự tham gia của cộng đồng nói chung và người dân địa phương nói riêng thì không thể đạt tính bền vững.8 Những kinh nghiệm phát triển DLST ở một số nước Asean và những vấn đề rút ra với Việt 7 123doc Nam: 1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan : phát triển DLST văn hóa thành công tại những vùng sâu, chưa phát triển ở Chiêng Mai, Chiêng Rai, là những vùng khá tương đồng với vùng trung du đồng bằng miền núi của vùng DHCNTB.2 Kinh nghiệm của Inđônesia đã xây dựng thành công vùng DLST biển đảo Bali, gắn với việc quản lý bảo vệ môi trường, bảo tồn DLST nhân văn một cách bền vững 1.3 Kinh nghiệm của Malaysia về phát triển DLST văn hóa-cộng đồng, điển hình là việc triển khai loại hình du lịch Homestay gắn với DLST nông thôn đã thu hút nhiều du khách và cải thiện thu nhập cho nhiều vùng nghèo.4 Kinh nghiệm của Philippines về tổ chức DLST trên các vùng biển đảo san hô, đã làm tốt công tác khai thác gắn với việc bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ ĐDSH rất nghiêm ngặt và hiệu quả, tạo điều kiện cho phát triển DLST biển đảo bền vững.9 Những bài học kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và quản lý phát triển DLST có thể vận dụng ở Việt Nam và vùng DHCNTB: để phát triển có hiệu quả và bền vững DLST, các nước đó đã tập trung giải quyết các vấn đề mấu chốt như sau: - Chính phủ các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia,… đều rất chú trọng đến phát triển DLST. Các nước nói trên đều vận dụng một cách có hiệu quả mô hình quản lý: nhà nước, doanh nghiệp, và cộng đồng cùng tham gia và cùng chia sẻ lợi ích (Win - Win Model).
Chính phủ có kế hoạch định hướng ưu tiên cho phát triển DLST một cách tập trung, có chọn lọc, có trọng điểm. - Chính phủ các nước như Philippine, Malaysia, và Indonesia đưa mối quan tâm hàng đầu về việc duy trì và bảo vệ môi trường, cân bằng cảnh quan sinh thái, ĐDSH trong chính sách phát triển DLST của mình. - Các nước như Philippine, Tháilan, Indonesia và Malaysia đã hợp tác rộng rãi với các tổ chức quốc tế về du lịch và sinh thái- môi trường nhằm chuyển giao những kinh nghiệm quý báu trong quản lý và phát triển DLST. - Các Bộ ngành hữu quan ở các nước như Thái Lan, Malaysia và Philippine đều có sự phối hợp chặt chẽ với ngành du lịch để tổ chức và quản lý toàn diện về du lịch, DLST.
Chú trọng xem xét vấn đề quy hoạch phát triển các khu DLST một cách thường xuyên và nhất quán. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG DUYÊN HẢI CỰC NAM TRUNG BỘ 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội của vùng DHCNTB: phần này tác giả giới thiệu tổng quan về địa lý kinh tế của vùng với các nét chính: Vùng DHCNTB có tổng diện tích tự nhiên là 1.150 ha, rất đa dạng về thành phần thổ nhưỡng, sự phân dị sắc nét về nền nhiệt ẩm, địa hình đa dạng vừa có núi cao, vừa có trung du, đồng bằng ven biển, hải đảo đã dẫn đến sự hình thành đa dạng và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên du lịch mà những nơi khác không có được. Ngoài ra đây còn là dãi đất với nhiều di sản văn hóa Chăm pa độc đáo còn lưu giữ cho đến ngày nay. Đây chính là những yếu tố cơ bản tạo nên tài nguyên du lịch và DLST đặc sắc của vùng, 8 123doc đảm bảo cho sự phát triển DLST bền vững của vùng trong tương lai.2 Tiềm năng phát triển DLST của vùng DHCNTB: tác giả làm rõ: Về tài nguyên DLST tự nhiên của vùng: gồm các HST điển hình; các hệ thống rừng đặc dụng; hệ thống khu bảo tồn biển đảo; các cảnh quan thiên nhiên-danh thắng…Về nguồn tài nguyên DLST nhân văn vùng DHCNTB: gồm các di tích lịch sử-văn hóa; các lễ hội truyền thống tiêu biểu; các loại hình nghệ thuật,…Đây là những nguồn tài nguyên DL nói chung và DLST nói riêng rất độc đáo, có giá trị, góp phần làm nên tính độc đáo riêng biệt về DLST của vùng mà không nơi nào có được.