chương 1 Với qui mô gần 40 ngàn hộ SXKD cá thể trong khi đó cả tỉnh chỉ có 1.879 DN, việc chuyển đổi hộ SXKD cá thể sang thành lập DN là rất cần thiết trong bối cảnh cả nước nói chung và tỉnh Ninh Thuận nói riêng đang có nhiều biện pháp, giải pháp cụ thể khuyết khích DN phát triển như trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là đối với những hộ SXKD cả thể có tiềm năng để chuyển đổi sang DN. Điều quan trọng là chúng ta cần tận dụng những điểm mạnh sẵn có của hộ SXKD cá thể để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của mình, bên cạnh đó cần phải từng bước khắc phục những điểm yếu của hộ SXKD cá thể nhằm tạo cơ hội hộ SXKD đủ mạnh để tiến tới thành lập DN. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận Tại Việt Nam, hộ SXKD cá thể được hiểu như sau: do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kí kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu riêng và không chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
(Điều 49 Nghị định 43/2010/NĐ-CP Ngày 15/4/2010 của chính phủ) Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể ở Việt Nam: • Hộ kinh doanh không có tư có pháp nhân: hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân do mọi tài sản của hộ kinh doanh, đều là tài sản cá nhân tạo lập ra nó. Nếu hộ kinh doanh muốn tạo con dấu, chỉ có thể sử dụng con dấu hình chữ nhật. Cá nhân lập nên hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ • Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô nhỏ: Hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động. Do đó khi chủ hộ kinh doanh muốn mở rộng quy mô sản xuất, như mở rộng chi nhánh, địa điểm kinh doanh trực thuộc hoặc thuê mướn thêm lao động ngoài số lao động được quy định thì chủ hộ buộc phải đăng kí thành lập doanh nghiệp theo quy định • Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của hộ kinh doanh: hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ sở hữu của nó.
Do vậy, về nguyên tắc chủ hộ kinh doanh phải có trách nhiệm vô thời hạn với các khoản nợ, nghĩa vụ của hộ kinh doanh bằng tất cả tài sản của mình, bao gồm cả tài sản không đưa vào hoạt động kinh doanh • Khái niệm về DN: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù một số doanh nghiệp hoặt động không hoàn toàn vì mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm của DN: • DN có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai chức năng này liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành chu kì khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp • DN có mục tiêu kinh tế cơ bản là đạt được lợi nhuận tối đa, muốn đạt được điều đó DN phải tìm cách thỏa màn người tiêu dung ngày càng tốt hơn.
• DN làm ăn trong cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh tồn tại và phát triển. Muốn làm được điều đó phải chú ý đến chiến lược kinh doanh và khả năng thích ứng với điều kiện hoàn cảnh trong từng giai đoạn. Vai trò vị trí của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vị trí quan trọng nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây hoạt động của doanh nghiệp đã có những bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần vào đà phục hồi và tăng trưởng kinh tế.
Tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề về tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo… Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế như: cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. DN phát triển, đặc biệt là DN ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hôi nhập. Có thể nói vai trò của DN không chỉ quyết định sự phát triển bền vững của về 16 mặt kinh tế mà còn quyết định đến các vấn đề về lành mạnh hóa các vấn đề xã hội. (Lê Thanh Nam, 2018) Các loại hình DN hiện nay: + Doanh nghiệp nhà nước + Công ty TNHH + Công ty cổ phần + Công ty hợp danh + Doanh nghiệp tư nhân Theo từ điển Oxford hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại hay hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nó được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định.
Có ba nhân tố ảnh hưởng đến dự định của một cá nhân đó là: (1) Thái độ về hành vi là đánh giá tích cực hay tiêu cực hành vi thực hiện; (2) Chuẩn chủ quan là ảnh hưởng của xã hội, đề cập đến sức ép của xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi và (3) Kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội thực hiện hành vi. (Arbiana Govori và cộng sự, 2013) Hành vi là xử xự của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài thông qua lời nói, cử chỉ, viêc làm nhất định. (Sheldon, 1995) Quyết định là thực hiện một hành động cụ thể nào đó. Chuyển đổi là đổi từ dạng này sang dạng khác.
Như vậy, ý định chuyển đổi từ hộ SXKD cá thể lên doanh nghiệp là hộ có ý muốn chuyển đổi từ loại hình họ đang sở hữu là hộ SXKD cá thể sang loại hình doanh nghiệp.2 Lý thuyết liên quan Trong nghiên cứu của Edwards (1954), tác giả này đã xem xét các lý thuyết ra quyết định. Theo nghiên cứu, trong một thời gian dài, các nhà kinh tế học và các nhà khoa học trong các lĩnh vực khác liên tục phát triển lý thuyết toán học liên 17 quan đến cách thức con người thực hiện các lựa chọn trong số các phương án thay thế. Các lý thuyết này tập trung vào khái niệm giá trị chủ quan (Subjective value), tiện ích (utility) của các phương án thay thế mà người ra quyết định phải lựa chọn. Các tác giả này, giả định rằng con người hành động một cách lý trí, nói cách khác, con người sẽ lựa chọn các phương án nhằm tối đa hóa lợi ích hoặc lợi ích kỳ vọng.
Các lý thuyết Attribution, Lý thuyết Schema, Lý thuyết Viễn cảnh (Prospect), lý thuyết không chắc chắn (Ambugity theory), Lý thuyết trò chơi (Game theory), và Lý thuyết lợi ích kỳ vọng (Expected Utility theory) được thảo luận trong nghiên cứu này. Bên cạnh đó, khái niệm Văn hóa cũng được nhắc lại, và mối quan hệ giữa văn hóa và việc ra quyết định cũng được làm rõ. Nhiều tổ chức đã áp dụng mô hình Văn hóa – Đạo đức để ra quyết định (Cutural – Ethical Model). Nhiều lĩnh vực tri thức của con người đã nghiên cứu sâu về lý thuyết ra quyết định.
Các lý thuyết đã cho thấy rằng lựa chọn và hành vi biểu hiện cho các đặc tính căn bản của hiện tượng ra quyết định và chúng liên quan đến quá trình tư duy và phản ứng. Một “quyết định” là một phản ứng với một tình huống và bao gồm sự phán xét, kỳ vọng, hay sự đánh giá. Các lý thuyết tâm lý, và quy chuẩn đã đưa ra các giả định khác nhau để giải thích cho tiến trình ra quyết định. Mô hình ra quyết định tâm lý (Descriptive, Psycological decision theory) tập trung vào việc giải thích cách thức quyết định của các cá nhân.
Ngược lại, lý thuyết quy chuẩn, duy lý (Normative, Rational decision theory) giải thích việc những người ra quyết định cần quyết định ra sao. Lý thuyết tâm lý không bao quát hết những nguyên tắc căn bản con người sử dụng khi giải quyết các vấn đề. Các phương pháp duy lý giải thích cách thức người ra quyết định phân tích các kết quả của từng kịch bản khác nhau để đi đến quyết định cuối cùng. Mô hình ra quyết định tâm lý cho rằng có tồn tại một cơ chế đặc biệt thông qua đó con người thu thập thông tin và giải thích cho các vấn đề của môi trường xung quanh.
Nói cách khác, quy trình tâm lý được dựa trên nguyên tắc cho rằng niềm tin 18 và giá trị của một người có thể tác động đến quá trình xử lý thông tin của bản thân người đó. Mô hình ra quyết định duy lý thiết lập một cơ chế cân đo giữa lựa chọn và giá trị. Các phương pháp duy lý dẫn đến sự tối đa hóa kết quả đầu ra bằng việc nhấn mạnh quy trình lựa chọn hơn là cái gì được lựa chọn. Một phương án thay thế nào đó sẽ luôn được lựa chọn nếu giá trị của phương án này cao hơn giá trị của các phương án tiềm năng khác.
Cả hai lý thuyết lựa chọn tâm lý hay duy lý đều được lý thuyết hóa và thảo luận về ý nghĩa của giá trị, niềm tin, và hành vi. Nhiều nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu về văn hóa, và một khái niệm văn hóa được đồng thuận cũng chứa đựng các khái niệm giá trị, niềm tin, và hành vi. Văn hóa đưa ra các yếu tố cho các cá nhân giải quyết các vấn đề của họ trong việc thích nghi với bên ngoài hoặc phối hợp bên trong.