Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Văn hóa học với đề tài "Vọng cổ nhịp 32 trong văn hóa Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Đỗ Quốc Dũng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Văn hóa học, mã số 62310640; bảo vệ năm 2020), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Long và TS. Tào Văn Ân. Hội đồng chấm luận án bao gồm các nhà khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm, TS. Bùi Thiên Hoàng Quân (phản biện độc lập); TS. Bùi Thiên Hoàng Quân, TS. Mai Mỹ Duyên, TS. Võ Thị Yến (phản biện hội đồng).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Vọng cổ nhịp 32 là một thể điệu bài bản chủ lực thuộc dòng âm nhạc truyền thống Nam Bộ, giữ vai trò trung tâm trong Đờn ca Tài tử Nam Bộ (ĐCTTNB) và nghệ thuật sân khấu Cải lương. Mặc dù bản Vọng cổ nhịp 32 có sức sống lâu bền, tham gia sâu rộng vào đời sống tinh thần của cộng đồng và được xem là bài ca cốt lõi trong sân khấu Cải lương ("phi Vọng cổ bất thành Cải lương"), nhưng trước đây chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ văn hóa học về cấu trúc, chức năng, vai trò và những đóng góp thực tế của nó trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Nam Bộ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác định vai trò, vị trí, đặc trưng và giá trị văn hóa nghệ thuật của Vọng cổ nhịp 32 trong văn hóa Nam Bộ trên cả hai phương diện ca nhạc (ĐCTTNB) và ca kịch (Cải lương); từ đó tìm ra quy luật tồn tại, phát triển và những đóng góp cụ thể của loại bài bản này trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng, đồng thời đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  • Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu tiền đề, nguồn gốc ra đời và các giai đoạn phát triển của Vọng cổ nhịp 32; vận dụng lý thuyết văn hóa và âm nhạc truyền thống để nghiên cứu hệ thống cấu trúc, chức năng của thể điệu này.
  • Nhiệm vụ 2: Khảo sát và đánh giá những đóng góp về lý luận và thực tiễn của Vọng cổ nhịp 32 trong ĐCTTNB, sân khấu Cải lương cũng như trong các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng (truyền thanh - truyền hình, lễ hội, phong tục, tiệc tùng, lao động sản xuất nông - ngư nghiệp, lực lượng vũ trang).
  • Nhiệm vụ 3: Tổng kết kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để đề xuất phương hướng khắc phục hạn chế, định hướng bảo tồn và phát triển Vọng cổ nhịp 32 trong bối cảnh đương đại.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác lập như sau:

  • Câu hỏi nghiên cứu: "Vọng cổ nhịp 32 có vai trò, vị trí, đặc trưng và giá trị như thế nào trong nhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng; và trong tiến trình của nghệ thuật âm nhạc, sân khấu truyền thống Nam Bộ? Nó đã có đóng góp những gì về mặt lý luận và thực tiễn trong từng lĩnh vực cụ thể? Trong quá trình tồn tại, phát triển, Vọng cổ nhịp 32 còn những hạn chế gì cần khắc phục, và phương hướng phát triển như thế nào trong tương lai?"
  • Giả thuyết nghiên cứu: "Vọng cổ nhịp 32 có vai trò, vị trí, đặc trưng và giá trị trong nhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng; trong tiến trình của nghệ thuật âm nhạc, sân khấu truyền thống Nam Bộ (ca nhạc và ca kịch); thì nó đã có đóng góp đáng kể về mặt lý luận và thực tiễn trong từng lĩnh vực cụ thể."

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vọng cổ nhịp 32 trong văn hóa Nam Bộ (bao gồm quy luật tồn tại, phát triển, các hình thức cấu trúc, chức năng ca nhạc, ca kịch và mối quan hệ với sinh hoạt cộng đồng).
  • Phạm vi không gian: Vùng văn hóa Nam Bộ gồm 19 tỉnh, thành phố (thuộc ba tiểu vùng: Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Thời gian văn hóa được xác định từ năm 1941 (thời điểm Vọng cổ nhịp 32 chính thức được công bố) cho đến nay.
  • Chủ thể văn hóa: Cộng đồng cư dân Nam Bộ, trong đó chủ thể điển hình là người Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản luận án được phân chia thành ba nhóm tài liệu chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ:

  • Trần Bạch Đằng (1986), Nam Bộ đất và người, NXB Trẻ: Đề cập sơ lược sở thích của người dân Nam Bộ, đặc biệt là vùng Tây Nam Bộ, đối với ĐCTTNB, Cải lương và bản Vọng cổ.
  • Sơn Nam (2000), Cá tính miền Nam, NXB Trẻ: Nêu bật thị hiếu của nông dân Nam Bộ yêu thích ca nhạc Tài tử và Vọng cổ trong các dịp hội hè, đám tiệc.
  • Lý Tùng Hiếu (2012), Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ, NXB Tổng hợp: Khẳng định sự gắn bó của người dân với ĐCTTNB và bản Vọng cổ.
  • Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam và (2014b), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, NXB Văn hóa - Văn nghệ: Đánh giá giá trị của Vọng cổ nhịp 32 trong ĐCTTNB và Cải lương, nhấn mạnh hiện tượng đào kép ca Vọng cổ nhịp 32 hay thì được đoàn hát trọng đãi và trả lương cao.

Nhóm các công trình nghiên cứu về Đờn ca Tài tử và Cải lương:

  • Giai đoạn trước năm 1975: Võ Tấn Hưng với Cổ nhạc canh tân (1954) và Cổ nhạc tầm nguyên (1958); Trịnh Thiên Tư với Ca nhạc cổ điển – điệu Bạc Liêu (1962); Vương Hồng Sển với Hồi ký 50 năm mê hát (1968); Trần Văn Khải với Nghệ thuật sân khấu Việt Nam (1970). Các công trình này ghi chép về lịch sử và bước đầu ghi nhận sự xuất hiện của Vọng cổ nhịp 32.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Đắc Nhẫn (1987), Tìm hiểu âm nhạc Cải lương, NXB Văn nghệ TP.HCM; Trương Bỉnh Tòng (1996), Nhạc Tài tử - Nhạc sân khấu Cải lương, NXB Sân khấu (phân tích hơi điệu Bắc - Oán của Vọng cổ); Đỗ Dũng (2003), Sân khấu Cải lương Nam Bộ, NXB Trẻ và (2007), Âm nhạc Cải lương tính năng giai điệu và nhạc cụ, NXB Sân khấu; Lại Minh Lương (2004), Ba ngàn năm cung điệu Việt Nam, NXB Tổng hợp (khảo sát thang âm ngũ cung trong Vọng cổ); Trần Phước Thuận (2007), Tác giả cổ nhạc Bạc Liêu, NXB Văn hóa - Thông tin; Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2011), Góp phần nghiên cứu Đờn ca Tài tử Nam Bộ, NXB Âm nhạc; Đỗ Dũng (2013a), Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ Vọng cổ, NXB Văn hóa - Văn nghệ.

Nhóm các tài liệu hội thảo khoa học chuyên đề:

  • Hội thảo “Nhạc sĩ Cao Văn Lầu” (1989 tại Bạc Liêu) do Bộ Văn hóa và Thông tin cùng UBND tỉnh Bạc Liêu tổ chức (gồm 27 tham luận, tiêu biểu có ý kiến của GS. Trần Văn Khê và tác giả Lê Duy Hạnh về tính kế thừa truyền thống và hiện đại của Vọng cổ nhịp 32).
  • Hội thảo “90 năm – Bản Dạ cổ hoài lang” (2009 tại Trường Đại học Sân khấu & Điện ảnh TP.HCM) với 13 tham luận đi sâu vào tính học thuật, hình thức cấu trúc và các dị bản.
  • Hội thảo “Nghệ thuật âm nhạc phương Đông – Bản sắc và giá trị” (2014 tại Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM) với 43 tham luận, trong đó có 8 bài về nhạc Lễ, ĐCTTNB, Cải lương và Vọng cổ nhịp 32.
  • Hội thảo “Văn hóa Cải lương Nam Bộ” (2016 tại Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM) với 24 tham luận, trong đó có 4 tham luận khảo sát nguồn gốc và giá trị nghệ thuật của Vọng cổ nhịp 32.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận Vọng cổ nhịp 32 từ góc độ âm nhạc học, lịch sử sân khấu hoặc ngôn ngữ ca từ một cách rời rạc. Chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống dưới góc độ văn hóa học về cấu trúc - chức năng của Vọng cổ nhịp 32, làm rõ quy luật thích nghi của nó trong mạng lưới sinh hoạt văn hóa cộng đồng và phương hướng bảo tồn trong thời đại mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm khoa học sau:

Khái niệm văn hóa và hệ tọa độ không gian - thời gian - chủ thể (K-T-C):

  • Khái niệm văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm (1997, 2014a): "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình". Khái niệm này xác lập 4 đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh; đồng thời cung cấp mô hình tọa độ văn hóa K-T-C (Không gian - Thời gian - Chủ thể).
  • Các quan niệm về văn hóa của E.B. Tylor (1871), Đào Duy Anh (1938), Hồ Chí Minh, Phan Ngọc (2004) và định nghĩa của UNESCO (2002).

Các khung lý thuyết chuyên ngành:

  • Lý thuyết văn hóa dân gian (Đoàn Văn Chúc, Ngô Đức Thịnh): Xem xét văn hóa dân gian như một thực thể sống gắn liền với phương thức truyền khẩu và sinh hoạt cộng đồng làng xã, gia tộc.
  • Lý thuyết văn hóa đại chúng (VHĐC): Tiếp cận phương thức lan truyền và tiếp nhận sản phẩm văn hóa thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình.
  • Lý thuyết vùng văn hóa Nam Bộ (Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Hiệu & Đinh Thị Dung): Phân tích bối cảnh địa văn hóa sông nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt, vùng đất mới đa tộc người (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) tạo nên tính cách hào sảng, phóng khoáng, nhạy bén với cái mới.
  • Lý thuyết hệ thống - cấu trúc (Trần Ngọc Thêm): Khảo sát hệ thống qua tính chỉnh thể, tính cấp hệ (siêu hệ thống, hệ thống, tiểu hệ thống) và tính tương tác với môi trường.
  • Lý thuyết chức năng và chức năng văn hóa: Dựa trên quan điểm chức năng luận của H. Spencer, E. Durkheim, B. Malinowski, quan niệm chức năng văn hóa của Tạ Văn Thành (1986) và hệ thống 4 chức năng văn hóa của Trần Ngọc Thêm (Chức năng tổ chức gắn với tính hệ thống; Chức năng điều chỉnh gắn với tính giá trị; Chức năng giáo dục gắn với tính lịch sử; Chức năng giao tiếp gắn với tính nhân sinh).
  • Khái niệm âm nhạc học và Vọng cổ nhịp 32: Dựa trên định nghĩa của Huỳnh Công Tín (2009), khái niệm "lòng bản lòng câu", "láy đờn", hệ thống thang âm "Ngũ cung – thất thanh" (hò, xự, xang, xê, cống và hai âm biến thể y, phan) và sự hòa quyện của hai hơi điệu Bắc – Oán.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án áp dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học với các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình ra đời, biến đổi nhịp thức từ bản Dạ cổ hoài lang đến Vọng cổ nhịp 32.
  • Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Xác lập mối quan hệ giữa các thành tố âm nhạc, lòng bản, cấu trúc mở và chức năng văn hóa trong ĐCTTNB và Cải lương.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích chi tiết các văn bản bài bản, lời ca, cấu trúc nhịp và tổng hợp các mối quan hệ xã hội của đối tượng.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu Vọng cổ nhịp 32 với các thể điệu khác trong 20 bài bản tổ của nhạc Tài tử (như Tứ đại oán) để làm rõ tính phổ biến và khả năng biểu đạt.
  • Phương pháp định tính: Khảo sát các nguồn tư liệu văn bản, tư liệu phát thanh - truyền hình, phỏng vấn sâu nghệ nhân, nghệ sĩ và nhà nghiên cứu chuyên môn.
  • Phương pháp định lượng: Thống kê, đo lường tần suất xuất hiện của Vọng cổ nhịp 32 qua khảo sát thị hiếu công chúng, bảng cấu trúc dữ liệu và chương trình phát sóng.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Bao gồm văn bản ký âm và ca từ của bản Dạ cổ hoài lang, Vọng cổ các nhịp 4, 8, 16, 32; các trích đoạn Cải lương kinh điển; tài liệu lưu trữ từ Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan thường trú tại TP.HCM) và Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh – Truyền hình Tiền Giang; kỷ yếu các hội thảo khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 xây dựng khung lý luận về văn hóa học và xác định các thông số thực tiễn của vùng văn hóa Nam Bộ thông qua tọa độ K-T-C:

  • Không gian văn hóa (K): Vùng đất Nam Bộ có diện tích trên 66.000 km² (miền Đông khoảng 26.600 km², miền Tây khoảng 40.000 km²), mạng lưới khoảng 4.000 kênh rạch với tổng chiều dài 5.700 km, hàng năm nhận khoảng 1 tỉ tấn phù sa bồi đắp. Hệ thống kênh đào lịch sử như kênh Thoại Hà (1817), kênh Vĩnh Tế (1819-1824), kênh Bà Bèo / Rạch Chanh (1785), kênh Chợ Gạo (đầu thế kỷ XIX) đóng vai trò giao thông huyết mạch, định hình không gian văn hóa sông nước.
  • Thời gian văn hóa (T): Phân kỳ văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn hình thành văn hóa (thế kỷ XVII - giữa thế kỷ XIX); Giai đoạn phát triển văn hóa (giữa thế kỷ XIX - thập niên 1970); Giai đoạn hội nhập toàn diện (từ giữa thập niên 1970 đến nay).
  • Chủ thể văn hóa (C): Dân số Nam Bộ (theo số liệu thống kê năm 2011) là 40.316.000 người (vùng ĐBSCL: 17.167.000 người; Đông Nam Bộ: 14.149.000 người; TP.HCM: khoảng 8 triệu người). Cơ cấu dân tộc gồm người Việt chiếm khoảng 90%, người Khmer 6%, người Hoa 2%, còn lại là người Chăm và các tộc người thiểu số khác.
  • Tiến trình phát triển nhịp thức: Khảo cứu chi tiết sự phát triển từ bản Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu qua các giai đoạn mở rộng trường canh:
Dạng thức thể điệu Thời điểm ra đời Tác giả chuyển nhịp / Lời ca Cấu trúc câu và đặc điểm nhịp thức
Dạ cổ hoài lang 1919 (tại Bạc Liêu) Nhạc sĩ Cao Văn Lầu Gồm 20 câu, nhịp đôi (mỗi câu 2 nhịp; câu 4 và câu 12 là nhịp ngoại), hơi Bắc.
Vọng cổ nhịp 4 Khoảng năm 1923 Trịnh Thiên Tư (nhạc); Huỳnh Thủ Trung và Mộng Vân (viết lời ca bản "Tiếng nhạn kêu sương"). Mỗi câu 4 nhịp; bỏ "mô" 1 nhịp đầu câu, còn 3 nhịp ca từ.
Vọng cổ nhịp 8 Năm Giáp Tuất (1934) Nghệ sĩ Năm Nghĩa (soạn nhạc và lời bản "Văng vẳng tiếng chuông chùa"). Mỗi câu 8 nhịp; đầu mỗi câu bỏ 2 nhịp, còn 6 nhịp ca từ.
Vọng cổ nhịp 16 Khoảng 1938 – 1939 Bản tiêu biểu "Tôn Tẫn giả điên". Mỗi câu 16 nhịp, mở rộng không gian diễn tấu và ca từ.
Vọng cổ nhịp 32 1940 (công bố 1941) Tập thể nhạc sĩ lò Nhạc Khị (Bạc Liêu) phát triển hoàn chỉnh. Mỗi câu 32 nhịp, định hình hệ thống 6 câu cơ bản, tích hợp hơi điệu Bắc - Oán.
  • Sự hình thành Cải lương: Khái quát tiến trình từ nhạc Lễ Nam Bộ và nhạc Tài tử phát triển sang hình thức Ca ra bộ (do ban nhạc Nguyễn Tống Triều khởi xướng và du diễn tại Pháp), đến Hát chập (André Thận và Trương Duy Toản thực hiện tại Sa Đéc qua lớp "Bùi Kiệm đi thi" năm 1916 - 1917), và chính thức định hình sân khấu Cải lương với sự kiện Thầy Năm Tú (Pierre Châu Văn Tú) khai trương Gánh hát Thầy Năm Tú tại rạp Cinéma-Théâtre (Mỹ Tho) vào ngày 15-03-1918 với vở diễn "Kim Vân Kiều".

Chương 2: Cấu trúc và chức năng của Vọng cổ nhịp 32 trong nghệ thuật truyền thống Nam Bộ

Chương này tập trung phân tích hệ thống cấu trúc âm nhạc, văn bản và các chức năng văn hóa của Vọng cổ nhịp 32 trong ĐCTTNB và Cải lương:

  • Cấu trúc âm nhạc và hình thức liên kết: Vọng cổ nhịp 32 có cấu trúc mở, xây dựng trên thang âm ngũ cung biến thể (ngũ cung - thất thanh). Bản nhạc chuẩn có hệ thống 6 câu cơ bản với quy định chặt chẽ về lòng bản, điểm dứt chữ đờn (nốt trụ) và các đoạn "láy đờn" (khoảng trống âm nhạc cho nhạc công phô diễn kỹ thuật và người ca lấy hơi).
  • Các hình thức mở rộng cấu trúc:
    • Tân cổ giao duyên: Cấu trúc phối hợp gồm 4 câu Vọng cổ nhịp 32 xen kẽ với các phân đoạn tân nhạc (âm nhạc phương Tây).
    • Cấu trúc liên hợp: Vọng cổ nhịp 32 kết hợp linh hoạt với các bài bản trong 20 bài bản tổ của nhạc Tài tử, các điệu Lý, Hò, Vè, Hát ru Nam Bộ.
  • Bố cục nội dung: Luận án lập bảng thống kê bố cục nội dung cơ bản và bố cục theo thể loại của Vọng cổ nhịp 32, phân tích cấu trúc kịch tính và trữ tình trong văn bản ca từ.
  • Các chức năng văn hóa:
    • Chức năng tổ chức: Tạo lập khuôn mẫu diễn tấu cho dàn nhạc cổ và nghệ sĩ biểu diễn; là hạt nhân liên kết các tiết mục trong câu lạc bộ ĐCTTNB.
    • Chức năng điều chỉnh: Giải tỏa cảm xúc tâm lý, mang lại sự cân bằng tinh thần và niềm vui cho người dân lao động.
    • Chức năng giáo dục: Truyền tải các giá trị đạo lý truyền thống, tình yêu quê hương, đạo nghĩa vợ chồng, lòng yêu nước qua ca từ.
    • Chức năng giao tiếp: Đóng vai trò là phương tiện kết nối tình làng nghĩa xóm trong các buổi đờn ca tài tử sân đình, vườn cây, bờ kênh.
  • Vị trí trong ĐCTTNB và Cải lương: Trong ĐCTTNB, Vọng cổ nhịp 32 là một tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh. Trong Cải lương, nó trở thành bài bản chủ lực chi phối toàn bộ cấu trúc âm nhạc và tính kịch của vở diễn. Nghệ sĩ diễn xuất thành danh gắn liền với việc ca Vọng cổ nhịp 32 (như NSND Út Trà Ôn được mệnh danh là "Đệ nhất danh ca", NSƯT Út Bạch Lan, NSƯT Thanh Nga, NSND Minh Vương, NSND Thanh Tuấn, NS Minh Cảnh, Hữu Phước, Tấn Tài...).

Chương 3: Những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 và xu hướng phát triển trong văn hóa Nam Bộ

Chương 3 khảo sát thực tế những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 trong các lĩnh vực đời sống và đề xuất giải pháp phát triển:

  • Trong hoạt động văn hóa tinh thần:
    • Chương trình phát thanh và truyền hình: Xuất hiện liên tục trong các chương trình dân ca, ca nhạc dân tộc của Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan thường trú TP.HCM) và các đài địa phương (như Đài PTTH Tiền Giang), là nội dung chính trong các cuộc thi tuyển chọn giọng ca cải lương (như giải Bông Lúa Vàng, Chuông vàng vọng cổ).
    • Sinh hoạt lễ hội và phong tục: Hiện diện trong các lễ hội Kỳ yên, lễ hội cúng đình, miễu, đám tiệc gia đình (cưới hỏi, mừng thọ, liên hoan) và các sinh hoạt cộng đồng thường nhật.
    • Sinh hoạt sản xuất và lực lượng vũ trang: Gắn liền với đời sống nông - ngư nghiệp trên đồng ruộng, sông rạch; phục vụ công tác tuyên truyền, động viên tinh thần chiến sĩ trong lực lượng vũ trang.
  • Những hạn chế trong sinh hoạt cộng đồng: Hiện tượng ca tự do, tùy tiện cắt xén lòng bản, sử dụng âm thanh quá công suất trong đám tiệc gây ồn ào; một số bài sáng tác mới chạy theo thị hiếu tầm thường, lời ca sáo rỗng hoặc thiếu tính chuẩn mực văn học.
  • Nhóm giải pháp phát triển trong tương lai:
    • Khắc phục hạn chế và đổi mới sáng tạo: Nâng cao chất lượng sáng tác ca từ, giữ vững quy chuẩn lòng bản nhịp 32, ứng dụng phương pháp dàn dựng hiện đại nhưng không làm mất bản sắc cốt lõi.
    • Bảo tồn và phát huy: Đưa Vọng cổ nhịp 32 vào chương trình giảng dạy chính quy tại các trường văn hóa nghệ thuật; xây dựng cơ chế bảo tồn không gian diễn xướng Đờn ca Tài tử; hỗ trợ các câu lạc bộ nghệ nhân dân gian; tăng cường công tác phát sóng và tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tiếp cận Vọng cổ nhịp 32 một cách hệ thống dưới góc độ Văn hóa học, kết hợp khung lý thuyết văn hóa dân gian, văn hóa đại chúng, vùng văn hóa và lý thuyết cấu trúc - chức năng.
  • Làm sáng tỏ quy luật vận động của cấu trúc mở ở bản Vọng cổ nhịp 32 (khả năng dung nạp thang âm ngũ cung biến thể, kết hợp hơi điệu Bắc - Oán, dung nạp tân nhạc trong thể loại Tân cổ giao duyên và dung nạp các thể loại dân ca trong cấu trúc liên hợp).
  • Bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cấu trúc âm nhạc dân tộc với chức năng văn hóa xã hội trong không gian văn hóa Nam Bộ.

Về mặt thực tiễn:

  • Khảo cứu và hệ thống hóa đầy đủ tiến trình chuyển biến trường canh nhịp thức từ bản Dạ cổ hoài lang (nhịp 2) qua các nấc thang nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 đến nhịp 32, khẳng định vai trò sáng tạo của tập thể nhạc sĩ lò Nhạc Khị (Bạc Liêu).
  • Đánh giá thực trạng hoạt động và mức độ đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 trong nhiều môi trường thực hành xã hội: đài phát thanh - truyền hình, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, lao động sản xuất và phục vụ lực lượng vũ trang.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các nhà quản lý văn hóa, các cơ quan chức năng (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Nam Bộ) hoạch định chính sách bảo tồn, đồng thời cung cấp tài liệu phục vụ công tác đào tạo, giảng dạy âm nhạc dân tộc tại các trường nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Phạm vi nghiên cứu của luận án định vị theo chuyên ngành Văn hóa học, do đó công trình không đi sâu vào việc phân tích thuần túy các thông số vật lý thanh học, tần số âm thanh hay lịch sử tiểu sử chi tiết của tất cả các biến thể dị bản âm nhạc dân gian.
  • Dữ liệu khảo sát định lượng chủ yếu tập trung tại một số địa bàn và cơ quan truyền thông tiêu biểu ở khu vực Nam Bộ (Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam tại TP.HCM, Đài PTTH Tiền Giang), chưa thể bao quát toàn bộ 19 tỉnh thành ở mức độ đồng đều tuyệt đối.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục mở rộng khảo sát chuyên sâu sự biến đổi trong tiếp nhận thẩm mỹ của giới trẻ đối với Vọng cổ nhịp 32 trên không gian mạng và các nền tảng kỹ thuật số mới.
  • Nghiên cứu so sánh sự tiếp biến và bảo tồn bản Vọng cổ nhịp 32 trong cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các ngành Văn hóa học, Âm nhạc học, Sân khấu học, Dân tộc học; có thể sử dụng khung phân tích cấu trúc - chức năng và hệ thống phân loại thể loại (Chương 2) làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên khảo.
  • Nhà quản lý văn hóa và người hoạch định chính sách: Tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở VH, TT & DL khu vực phía Nam để xây dựng chương trình hành động bảo vệ di sản ĐCTTNB theo cam kết với UNESCO.
  • Soạn giả, nhạc sĩ, nghệ sĩ sân khấu: Tham khảo các chuẩn mực lòng bản, quy tắc gieo vần, kết cấu liên hợp và bố cục kịch bản để nâng cao chất lượng sáng tác bài vọng cổ và kịch bản Cải lương đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời vào thời gian nào, do ai sáng tác và có cấu trúc nhịp thức ban đầu như thế nào? Bản Dạ cổ hoài lang do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác vào năm 1919 tại Bạc Liêu. Cấu trúc nguyên bản gồm 20 câu, mỗi câu có 2 nhịp (nhịp đôi), mang hơi điệu Bắc, trong đó câu 4 và câu 12 là nhịp ngoại.

2. Mốc lịch sử chính thức đánh dấu sự ra đời của nghệ thuật sân khấu Cải lương là gì? Cải lương chính thức ra đời tại Mỹ Tho do Thầy Năm Tú (Pierre Châu Văn Tú) khởi xướng. Vào ngày 15-03-1918, Thầy Năm Tú khai trương Gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho và ra mắt vở diễn Cải lương đầu tiên mang tên "Kim Vân Kiều" (do cụ Trương Duy Toản soạn tuồng) tại rạp Cinéma-Théâtre Mỹ Tho.

3. Tiến trình phát triển nhịp thức từ Dạ cổ hoài lang đến Vọng cổ nhịp 32 trải qua các nấc thang nào? Tiến trình diễn ra liên tục qua các giai đoạn: từ Dạ cổ hoài lang nhịp 2 (1919, Cao Văn Lầu) chuyển sang Vọng cổ nhịp 4 (khoảng 1923, Trịnh Thiên Tư chuyển nhạc, bản "Tiếng nhạn kêu sương"), nhịp 8 (1934, Năm Nghĩa với bản "Văng vẳng tiếng chuông chùa"), nhịp 16 (khoảng 1938 - 1939 với bản "Tôn Tẫn giả điên"), và hoàn chỉnh ở thể thức Vọng cổ nhịp 32 (hình thành 1940, công bố chính thức năm 1941 bởi tập thể nhạc sĩ lò Nhạc Khị - Bạc Liêu).

4. Tại sao Vọng cổ nhịp 32 được khẳng định là có "cấu trúc mở"? Vọng cổ nhịp 32 có cấu trúc mở vì nó có năng lực tự biến đổi, thích ứng và dung nạp các yếu tố âm nhạc khác: kết hợp hài hòa hai hơi điệu Bắc và Oán; liên hợp linh hoạt với 20 bài bản tổ của nhạc Tài tử và các điệu dân ca (Lý, Hò, Vè, Hát ru); đồng thời tiếp biến với tân nhạc phương Tây để tạo ra thể loại Tân cổ giao duyên (4 câu Vọng cổ phối hợp tân nhạc).

5. Không gian và dân số vùng văn hóa Nam Bộ được xác định bằng những số liệu cụ thể nào trong luận án? Không gian văn hóa Nam Bộ gồm 19 tỉnh thành với diện tích trên 66.000 km², có khoảng 4.000 kênh rạch dài 5.700 km và nhận khoảng 1 tỉ tấn phù sa mỗi năm. Về mặt dân số (số liệu thống kê năm 2011), toàn vùng có 40.316.000 người (ĐBSCL 17.167.000 người, Đông Nam Bộ 14.149.000 người, TP.HCM khoảng 8 triệu người), trong đó người Việt chiếm khoảng 90%, người Khmer 6%, người Hoa 2%, còn lại là người Chăm và các dân tộc thiểu số khác.

Kết luận

Luận án "Vọng cổ nhịp 32 trong văn hóa Nam Bộ" của NCS. Đỗ Quốc Dũng là công trình nghiên cứu hệ thống, xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc về vai trò của Vọng cổ nhịp 32 trong dòng chảy văn hóa phương Nam. Công trình đã làm rõ quy luật vận động cấu trúc mở, hệ thống chức năng văn hóa đa dạng của thể điệu này trong cả hai không gian nghệ thuật ĐCTTNB và sân khấu Cải lương. Đồng thời, luận án đã minh chứng sinh động những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 đối với đời sống tinh thần cộng đồng cư dân Nam Bộ và đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong xã hội hiện đại.