ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống chủ yếu ở nông thôn. Nguồn thu nhập chính của nông dân là từ sản phẩm của chăn nuôi và trồng trọt. Trong đó chăn nuôi trâu bò đã và đang góp phần quan trọng làm tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, và nâng cao nguồn thu nhập cho người chăn nuôi. Ngày nay, đời sống người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu các sản phẩm giàu chất dinh dưỡng ngày càng lớn, đặc biệt là sữa.
Bởi vậy, chăn nuôi bò sữa đang được Nhà nước chú trọng phát triển. Thức ăn là cơ sở của chăn nuôi, muốn cho chăn nuôi phát triển mạnh, vững chắc thì cần phải đảm bảo việc cung cấp thức ăn đầy đủ và cân đối cho gia súc. Bò sữa là loại động vật có dạ dày bốn túi, có khả năng tiêu hóa tốt thức ăn thô xanh nhờ có cấu tạo đặc biệt của hệ tiêu hóa cùng hệ vi sinh vật trong đó. Do vậy, vấn đề quan trọng để phát triển chăn nuôi bò sữa là phải đáp ứng đầy đủ lượng thức ăn cân bằng dinh dưỡng quanh năm, đặc biệt là thức ăn thô xanh.
Nguồn thức ăn thô xanh chính cung cấp cho đàn bò nước ta chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng, trong khi đó nhu cầu sản xuất lương thực cùng với tốc độ đô thị hoá ngày càng cao làm cho diện tích đồng cỏ tự nhiên, đất đai trồng cỏ và chăn thả trâu bò bị thu hẹp. Vào mùa đông ở miền Bắc cũng như mùa khô ở miền Nam thường khan hiếm thức ăn thô xanh làm cho ngành chăn nuôi trâu bò gặp nhiều khó khăn. Trong khi nguồn phụ phẩm nông nghiệp của nước ta rất dồi dào. Do đó, chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng ngày càng phụ thuộc nhiều vào các phụ phẩm nông nghiệp.
Vậy làm thế nào để sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi trâu bò được hiệu quả? Để làm được việc này chúng ta cần phải đưa ra các biện pháp xử lý, chế biến và bảo quản thích hợp. Một trong những biện pháp đó là phương pháp ủ chua. Phương pháp này giúp cho việc bảo quản dự trữ các loại thức ăn khi gia súc ăn thừa hoặc khi không thể phơi hết có hiệu quả cao. Việc ủ chua các loại phụ phẩm nông nghiệp giúp người chăn nuôi đảm bảo nguồn thức ăn quanh năm cho đàn gia súc.
Đặc biệt phương pháp ủ chua giúp cho thức ăn ít hao hụt các chất dinh dưỡng, hạn chế chất kháng dinh dưỡng và không bị phụ thuộc vào thời tiết mà còn nâng cao được tỷ lệ tiêu hóa thức ăn cho gia súc. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, ngành nông nghiệp Sơn La đang tích cực tìm ra cây trồng thích hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân, trong đó, cây chanh leo (Passiflora edulis) cho thấy một tiềm năng khả quan cho tỉnh miền núi Tây Bắc này. Năm 2016, tổng diện tích trồng chanh leo trên địa bàn tỉnh mới chỉ có 86 ha, năng suất 7-8 tấn quả/ha, đến tháng 6/2017 tổng diện tích chanh leo toàn tỉnh đã lên tới 487,1 ha; trong đó, các địa phương trồng nhiều nhất là huyện Mộc Châu 277 ha, Vân Hồ 43 ha, Thuận Châu 53,6 ha, Phù Yên 40 ha. Theo Quốc Định (2019) đầu năm 2019, tổng diện tích trên 1.300ha, sản lượng ước khoảng 20.
Chanh leo là một trong những loại cây trồng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mộc Châu nói riêng, cho năng suất cao, đem lại thu nhập cao cho người nông dân. Trước đây, 1ha ngô chỉ cho thu nhập khoảng 30-40 triệu thì giờ đây, chuyển sang trồng chanh leo, người dân thu nhập tăng gấp 10 lần, khoảng 300 triệu/ha (Nguyễn Nga, 2019). Do vậy, diện tích chanh leo ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, việc phát triển trồng chanh leo ở Mộc Châu dẫn đến tình trạng người dân bỏ ngô và lúa để trồng chanh leo.
Vấn đề này dẫn đến giá của cây ngô và giá rơm tăng gây ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi bò. Ngoài ra, chế biến sản phẩm từ chanh leo tạo ra nguồn phụ phẩm rất lớn là vỏ quả, nếu không được chế biến, sử dụng phù hợp sẽ gây ra những vấn đề lớn cho môi trường đó là sự ô nhiễm. Vậy, thành phần hóa hóa học và dinh dưỡng của vỏ chanh leo như thế nào? Chất lượng vỏ chanh leo ủ chua có đảm bảo để làm thức ăn cho bò sữa không? Xây dựng khẩu phần thức ăn có chứa vỏ chanh leo ủ chua như thế nào để bò sữa vẫn có thể trạng, năng suất và chất lượng sữa tốt? Từ thực tiễn đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài này. MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU - Chế biến, dự trữ vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò sữa.
- Xác định cách sử dụng vỏ chanh leo trong khẩu phần cho bò sữa. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU - Đánh giá được khả năng sử dụng vỏ chanh leo trong chăn nuôi bò sữa. - Tận dụng được nguồn phụ phẩm vỏ chanh leo, giải quyết được vấn đề diện tích trồng ngô giảm để giành đất trồng chanh leo. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. Đặc điểm tiêu hóa của động vật nhai lại Động vật nhai lại được xem là xã hội cộng sinh giữa gia súc và vi sinh vật (VSV), nhờ vậy mà có khả năng sống và phát triển dựa vào khẩu phần thức ăn giàu xơ (Brockman,1993). Các nguồn phụ phẩm nông nghiệp và các loại thức ăn giàu xơ khác mà con người và động vật dạ dày đơn không thể sử dụng vẫn có thể được xem là nguồn thức ăn có giá trị cho gia súc nhai lại, chúng có khả năng tổng hợp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người từ các loại thức ăn có giá trị thấp.
Nhờ vậy, gia súc nhai lại có tiềm năng lớn để cải thiện cuộc sống con người (Beever, 1993). Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm bốn túi. Ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng. Túi thứ tư gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến phát triển mạnh.
Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm tới 85 - 90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào lộn và phân giải thức ăn. Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men kị khí: yếm khí, nhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38 - 42℃, pH từ 5,5 - 7,4. Quá trình lên men và trao đổi chất trong dạ cỏ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng, protein cho gia súc nhai lại như tham gia điều khiển lượng thức ăn ăn vào và ảnh hưởng sâu sắc đến sức sản xuất của gia súc.
Quá trình trao đổi chất trong dạ cỏ bao gồm hai quá trình chính: - Sự phân hủy các thành phần thức ăn bởi VSV (chủ yếu là carbohydrates và các hợp chất chứa nitơ). - Quá trình tổng hợp các đại phân tử cho sinh khối VSV (chủ yếu là protein, axit nucleic và lipid). Cả hai quá trình trên đều chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc khẩu phần, tốc độ chuyển dời các khẩu phần thức ăn ở các túi dạ dày trước. Dạ cỏ gia súc nhai lại có dung tích lớn và môi trường thuận lợi cho VSV yếm khí sống và phát triển.
VSV dạ cỏ đóng góp vai trò đặc biệt vào quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của vật chủ, chúng có các enzyme phân hủy liên kết, β 1-4-glucosid nằm trong vách tế bào thực vật có khả năng tổng hợp đại phân tử protein từ N-NH3. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chất chứa dạ cỏ là một hỗn hợp gồm thức ăn ăn vào, vi sinh vật dạ cỏ, các sản phẩm trao đổi trung gian, nước bọt và các chất tiết vào dạ cỏ. Đây là một hệ sinh thái rất phức hợp trong đó liên tục có sự tương tác giữa thức ăn, hệ vi sinh vật và động vật chủ. Môi trường dạ có với các đặc điểm thiết yếu cho sự lên men: độ ẩm cao 85-90%; pH dao động trong khoảng 6,4-7,0 luôn luôn được đệm bởi bicarbonate và phosphate của nước bọt, nhiệt độ khá ổn định 38-42°C và là môi trường yếm khí.
Các chất chứa luôn luôn được nhào trộn bởi sự co bóp của dạ cỏ, nhờ vậy dòng dinh dưỡng được lưu thông liên tục, sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men ra khỏi dạ cỏ và các cơ chất được nạp vào thông qua thức ăn. Có sự tiết chế vào dạ cỏ những chất cần thiết cho VSV phát triển và khuyếch tán ra ngoài những sản phẩm tạo ra trong dạ cỏ. Điều này làm cho áp suất thẩm thấu của dạ cỏ luôn ổn định. Thời gian thức ăn tồn lưu trong dạ cỏ kéo dài tạo điều kiện cho vi sinh vật công phá.
Những điêu kiện đó là lý tưởng cho sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ. Điều này được đánh giá bởi sự phong phú về chủng loại và mật độ VSV. Nước bọt đổ vào dạ cỏ liên tục và duy trì thức ăn ở dạng lỏng, tạo thuận tiện cho VSV tiêu hóa thức ăn. Cộng đồng VSV cũng ảnh hưởng đến lượng tiết nước bọt.
Các chất khí mà chủ yếu là khí CO2 và khí CH4 là sản phẩm trao đổi cuối cùng của quá trình lên men dạ cỏ. Hầu hết các chất khí được thải ra ngoài thông qua quá trình ợ hơi. Sự vận chuyển sản phẩm cuối cùng ra khỏi dạ cỏ có ảnh hưởng to lớn đến sự cân bằng sinh thái trong dạ cỏ và vì thế nó biến dạ cỏ thành môi trường lên men liên tục. Các vật liệu đã được biến hóa và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới đường tiêu hóa.
Vì vậy số lượng VSV luôn luôn duy trì ở mức ổn định.Vận tốc di chuyền chất chứa dạ cỏ xuống ruột là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình tiêu hóa dạ cỏ và nó được xác định bởi một số yếu tố như: dung tích dạ cỏ, nhu động dạ cỏ, lượng thức ăn ăn vào và quá trình lên men. Hệ VSV dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần thức ăn.