ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ)-một bệnh lý chuyển hóa là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ 7 trên thế giới, tỷ lệ người mắc gia tăng rất nhanh chóng theo từng năm (WHO-2020). Theo Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế (IDF), dự đoán 578 triệu người sẽ mắc bệnh ĐTĐ vào năm 2030. Con số đó sẽ tăng lên đáng kinh ngạc khoảng 700 triệu vào năm 2045. Năm 2019, uớc tính có 4,2 triệu người từ 20-79 tuổi tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến bệnh ĐTĐ.
Chi phí y tế cho bệnh ĐTĐ là 760 tỷ USD [30]. Ở Việt Nam, đến năm 2045, số người mắc ĐTĐ sẽ tăng 78,5 % tương đương gần 6,3 triệu người. Theo IDF 2019 có 6% người trưởng thành tại Việt Nam bị mắc bệnh ĐTĐ [30]. Với nhu cầu điều trị bệnh ĐTĐ, hàng loạt các thuốc tổng hợp đã được nghiên cứu và phát triển.
Nhiều thuốc tân dược được sử dụng điều trị ĐTĐ như acarbose, empagliflozin, glibenclamid, metformin,… cho hiệu quả tốt. Tuy nhiên hầu hết các thuốc đều có tác dụng phụ không mong muốn như rối loạn tiêu hóa, hạ đường huyết quá mức, tăng cân,… khi sử dụng trong thời gian dài. Vì vậy, các nhà khoa học đang quan tâm đến nghiên cứu các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu có khả năng bổ sung hoặc thay thế thuốc tân dược để điều trị ĐTĐ, với ưu điểm là nguồn dược liệu tự nhiên, phong phú, dễ sử dụng, ít tác dụng phụ. Có rất nhiều dược liệu được xác định có khả năng kiểm soát đường huyết và ít tác dụng phụ, trong đó có nhiều cây đã được nghiên cứu ở Việt Nam như Bằng lăng nước, Dây thìa canh, Giảo cổ lam, Khổ qua rừng,.
Một dược liệu tương đối mới nhưng lại phân bố rất phổ biến ở Việt Nam với trữ lượng lớn, gần đây đã được nghiên cứu cho thấy tác dụng hạ đường huyết hiệu quả đó là Bìm ba răng (Merremia tridentata L. Bìm ba răng (Merremia tridentata L.) còn được biết đến với tên gọi khác là Dây lưỡi đòng, được sử dụng để chữa các bệnh như thấp khớp, liệt nửa người, bệnh dời leo,… [22],[26],[38]. Ngoài những công dụng trên, cây còn có tác dụng hạ đường huyết rất tốt, vào năm 2020, Bìm ba răng (BBR) đã được chứng minh tác dụng hạ đường huyết trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan [21]. Nhằm phát triển dựa trên 2 kết quả nghiên cứu này và ứng dụng trên lâm sàng, một dạng bào chế hiện đại chứa cao BBR chuẩn hóa là thực sự cần thiết.
Từ những lí do trên, đề tài “Nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao bìm ba răng (Merremia tridentata L.) định hướng điều trị bệnh đái tháo đường” được thực hiện với các mục tiêu như sau: Mục tiêu tổng quát: Bào chế thành công viên nén chứa cao bìm ba răng chuẩn hóa đạt các chỉ tiêu đề ra. Mục tiêu cụ thể: 1. Chiết xuất và điều chế cao BBR; 2. Nghiên cứu công thức bào chế viên nén chứa cao BBR ở quy mô phòng thí nghiệm; 3.
Nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao BBR ở quy mô 2000 viên; 4. Thẩm định quy trịnh định lượng cynarosid trong viên nén BBR bằng phương pháp HPLC; 5. Thử tác dụng hạ đường huyết của viên nén BBR đã nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TỔNG QUAN VỀ CÂY BÌM BA RĂNG (Merremia triddentata L. Mô tả thực vật Tên Việt Nam: Bìm ba răng, Dây lưỡi đòng (miền Nam), Thuyền chài, Phong dời (miền Trung) [2],[6]. Tên khoa học: Merremia tridentata L. Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan, cây BBR có vị trí sắp xếp như sau: Hình 2.
Vị trí phân loại của Merremia tridentata L. 4 Trong từ điển cây thuốc Việt Nam xuất bản năm 2018, BBR được TS. Võ Văn Chi mô tả: là cây leo thân thảo, không quấn; thân mịn, không có lông; lá hẹp, gốc hình tim và có 2 tai ở hai bên, mỗi tai có 3 răng; cụm hoa gồm 1-2 hoa; hoa có màu vàng sữa, với trung tâm đỏ, lá đài bằng nhau, nhị đính gần gốc; quả nang cao 7 mm; hạt không có lông [6]. Cây Bìm ba răng (Merremia tridentata L.
Phân bố, sinh thái BBR là loài liên nhiệt đới, thường có ở nhiều nơi vùng đồng bằng từ vùng thấp đến độ cao 1000 m. Ở nước ta, BBR có mặt từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh [6]. Thành phần hóa học BBR được báo cáo có chứa một số flavonoid quinone, phenolic acids, tanins, saponins, p-hydroxy benzoic acid, vanillic acid, và syringic acid [29]. Tsita Tzardi đã xác định được cấu trúc hóa học của một số flavonoid đó là diosmetin, luteolin, diosmetin-7-O-β-D-glucosid và luteolin-7-O-β-D-glucosid [26].
Theo một nghiên cứu khác cho thấy sự hiện diện của ergosin phân lập từ hạt và các pyrolidin alkaloid như hygrin và nicotin phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của BBR [32]. Arunachalam và cộng sự, dùng phương pháp sắc ký lớp mỏng, đã chỉ ra rằng có sự tồn tại của sáu hợp chất phenol và hai hợp chất flavonoid trong dịch chiết axeton từ rễ cây BBR. Một nghiên cứu, đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7- O-D-glycosid (cynarosid) [2]. Từ đó có thể thấy flavonoid là nhóm chất chính hiện diện trong cây BBR.
Luteolin-7-O-D-glycosid (1) và quercitin-3-O-L-rhamnosid (2) được phân lập từ BBR (3) (4) Hình 2. Apigenin-7-O-β-D-glucosid (5) được phân lập từ BBR 7 2. Tác dụng giảm đau, kháng viêm Tác dụng kháng viêm được nghiên cứu bằng mô hình gây phù chân cấp trên chuột nhắt bởi histamine. Kết quả cho thấy dịch chiết acetone của rễ M.
tridentata cho tác dụng giảm đau và kháng viêm tốt nhất [35]. Các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng indomethacin là 48,5%. Trong mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế các yếu tố gây viêm tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng indomethacin (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M.
tridentate đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [34]. Tác dụng chống oxy hóa, chống loét, chữa lành vết thương Tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ. Thử tác dụng chống oxy hóa trên mô hình chứa DPPH và mô hình kiểm tra ABTS+.
Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate cho tác dụng chống oxy hóa rất tốt [42]. Thử tác dụng chống loét trên chuột bị gây loét, nồng độ enzyme chống oxy hóa của superoxide effutase, catalase và glutathione trong các mô dạ dày đã tăng đáng kể, cho thấy rễ cây BBR có khả năng ngăn ngừa loét dạ dày gây ra bởi ethanol [41]. BBR có khả năng phục hồi vết mổ, vết cắt và vùng tổn thương trên chuột nhắt trắng, trên mô hình có vết mổ dài 6 cm với bề dày vết thương là 1,5 cm đã hình thành nên một tổn thương có diện tích là 500 mm2 [22]. Tác dụng hạ đường huyết Dùng dịch chiết BBR đường uống ở liều 50 mg/kg, 100 mg/kg và 150 mg/kg cho chuột bình thường, chuột dung nạp glucose và chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin, mô hình sử dụng glibenclamid (10 mg/kg) làm thuốc đối chứng.
Kết quả cho thấy 8 nồng độ glucose huyết giảm đáng kể ở các lô chuột trên (glucose huyết giảm nhiều hơn ở liều 100 mg/kg và liều 150 mg/kg); có sự gia tăng đáng kể nồng độ insulin trong huyết thanh, trọng lượng cơ thể tăng và hàm lượng glycogen chứa trong gan và cơ tăng; trong khi đó, ở mô hình chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin có sự giảm đáng kể nồng độ triglycerid huyết và cholesterol toàn phần [26]. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay trong nước chưa có nhiều nghiên cứu về BBR. Dưới đây là một số nghiên cứu về BBR được thực hiện ở Việt Nam.
Năm 2018, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành chiết tách, xác định cấu trúc và định lượng một số flavonoid có trong cây Bìm ba răng (Merremia tridentata L. Kết quả đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin- 7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7-O-D- glycosid (cynarosid) [2]. Năm 2020, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao bìm ba răng (Merremia tridentata L.) trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan. Kết quả tác động hạ đường huyết trên cao nước và cồn từ rễ và thân BBR cho thấy liều ở 100 mg/kg cao T/N và T/C cây BBR cho tác dụng hạ đường huyết, liều 50 mg/kg cao T/N BBR cũng cho tác dụng hạ đường huyết nhưng không tốt bằng liều 100 mg/kg [21].
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Năm 2009, Kamalutheen và cộng sự đã tiến hành chiết xuất bột dược liệu BBR với petroleum ether, benzen, cloroform, ethanol và nước. Thử tác dụng kháng viêm của các dịch chiết với 2 mô hình là gây phù bởi carrageenan trên chuột và gây viêm khớp bởi chất phụ trợ của Freund. Indomethacin (10 mg/kg) được sử dụng làm thuốc đối chứng. Kết quả các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 9 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc chứng là 48,5%.
Mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M. tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [34]. Năm 2010, Kandhasamy Sowndhararajan, Jince Mary Joseph, Karuppusamy Arunachalam, Sellamuthu Manian, tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR.
Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ [42]. Parimelazhagan sử dụng bột rễ của BBR ngâm với nước cất trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó lọc và lấy dịch.