Luận văn thạc sĩ hus phân lập tuyển chọn và đặc tính chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt chịu ph và sinh tổng hợp cellulase để xử lý nước thải nhà máy giấy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus phân lập tuyển chọn và đặc tính chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt chịu ph và sinh tổng hợp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình phát triển của ngành sản xuất giấy và bột giấy

1.1.1. Sự phát triển của công nghiệp giấy trên thế giới

1.1.2. Sự phát triển của ngành giấy ở Việt Nam

1.2. Công nghệ sản xuất giấy - bột giấy và đặc tính của nước thải

1.2.1. Công nghệ sản xuất bột giấy và đặc tính của nước thải

1.2.1.1. Công nghệ bột hóa học

1.2.2. Công nghệ sản xuất giấy (xeo giấy) và đặc tính nước thải

1.2.3. Công nghệ xử lý nước thải nhà máy giấy

1.2.4. Các giải pháp công nghệ vi sinh ứng dụng xử lý nước thải

1.2.4.1. Phương pháp yếm khí
1.2.4.1.1. Nguyên tắc chung xử lý yếm khí
1.2.4.1.2. Quá trình công nghệ xử lý yếm khí
1.2.4.1.3. Các yếu tố chính ảnh hưởng tới hiệu suất công nghệ xử lý yếm khí
1.2.4.2. Phương pháp xử lý sinh học hiếu khí
1.2.4.2.1. Nguyên tắc xử lý hiếu khí
1.2.4.2.2. Quy trình công nghệ xử lý hiếu khí
1.2.4.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xử lý hiếu khí
1.2.4.3. Vi sinh vật phân giải cellulose
1.2.4.4. Đặc điểm của loài Bacillus trong ứng dụng xử lý nước thải
1.2.4.5. Chế phẩm vi sinh trong công nghệ xử lý nước thải

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất

2.2.1. Thiết bị và dụng cụ

2.2.2. Hóa chất và môi trường

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương phân tích xác định các thông số chất lượng nước thải

2.3.2. Hàm lượng các chất rắn lơ lửng

2.3.3. Chỉ số thể tích bùn

2.3.4. Phương pháp phân lập các chủng vi khuẩn

2.3.5. Phương pháp tuyển chọn chủng có hoạt tính cellulase

2.3.6. Định danh vi khuẩn

2.3.6.1. Phương pháp định danh dựa trên đặc tính sinh lý, sinh hóa
2.3.6.2. Định danh bằng phương pháp sinh học phân tử

2.3.7. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chủng

2.3.7.1. Chuẩn bị giống
2.3.7.2. Các yếu tố khảo sát
2.3.7.3. Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn

2.3.8. Phương pháp tạo chế phẩm

2.3.9. Thử nghiệm khả năng xử lý nước thải nhà máy giấy

2.3.9.1. Thử nghiệm khả năng xử lý nước thải nhà máy giấy quy mô 250 ml
2.3.9.2. Thử nghiệm khả năng xử lý nước thải nhà máy giấy ở quy mô 5 l

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát chỉ tiêu về chất lượng nước thải nhà máy giấy

3.2. Phân lập chủng vi khuẩn có hoạt tính cellulase

3.2.1. Tuyển chọn chủng vi khuẩn có hoạt tính cellulase cao

3.2.1.1. Tuyển chọn dựa trên phương pháp cấy chấm điểm
3.2.1.2. Tuyển chọn dựa trên phương pháp đục lỗ thạch
3.2.1.3. Tuyển chọn dựa trên phương pháp xác định hoạt tính enzyme cellulase

3.3. Định tên chủng vi khuẩn tuyển chọn

3.3.1. Đặc tính hình thái và sinh lý – sinh hóa của chủng TD

3.3.2. Định danh sinh học phân tử

3.3.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của chủng

3.3.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng của chủng
3.3.3.2. Ảnh hưởng của tốc độ lắc đến sự sinh trưởng của chủng
3.3.3.3. Ảnh hưởng của pH ban đầu đến sự sinh trưởng của chủng
3.3.3.4. Ảnh hưởng của hàm lượng pepton đến sự sinh trưởng của chủng
3.3.3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ cấp giống đến sự sinh trưởng của chủng

3.3.4. Chế phẩm BioTD

3.3.5. Thử nghiệm khả năng xử lý nước thải của chủng B

3.3.5.1. Thử nghiệm xử lý quy mô 250 ml
3.3.5.2. Thử nghiệm xử lý nước thải quy mô bình 5 l

3.3.6. Tốc độ lắng của bùn sau xử lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC BẢNG

PHỤ LỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vi khuẩn chịu nhiệt và pH trong sản xuất cellulase

Nghiên cứu về vi khuẩn chịu nhiệtpH là một lĩnh vực quan trọng trong công nghệ sinh học, đặc biệt trong việc sản xuất cellulase để xử lý nước thải giấy. Việc tìm kiếm các chủng vi khuẩn có khả năng hoạt động hiệu quả trong điều kiện khắc nghiệt giúp nâng cao hiệu suất xử lý nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

1.1. Tầm quan trọng của cellulase trong xử lý nước thải

Cellulase là enzyme có khả năng phân giải cellulose, một thành phần chính trong nước thải từ ngành sản xuất giấy. Việc sử dụng cellulase giúp giảm thiểu lượng chất thải và cải thiện chất lượng nước thải sau xử lý.

1.2. Đặc điểm của vi khuẩn chịu nhiệt và pH

Vi khuẩn chịu nhiệt và pH có khả năng sinh trưởng và phát triển trong môi trường khắc nghiệt, giúp duy trì hoạt động enzyme trong các điều kiện không thuận lợi. Điều này rất quan trọng trong việc xử lý nước thải từ nhà máy giấy.

II. Vấn đề ô nhiễm từ nước thải giấy và thách thức trong xử lý

Nước thải từ ngành sản xuất giấy chứa nhiều chất độc hại, bao gồm chất rắn lơ lửng, lignin và hóa chất tẩy trắng. Những chất này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Việc xử lý nước thải hiệu quả là một thách thức lớn đối với các nhà máy giấy.

2.1. Thành phần và tính chất của nước thải giấy

Nước thải giấy thường chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ và vô cơ, với chỉ số COD và BOD vượt mức cho phép. Điều này đòi hỏi các phương pháp xử lý hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm.

2.2. Thách thức trong việc xử lý nước thải

Các phương pháp xử lý hiện tại như vật lý, hóa học thường tốn kém và không hiệu quả. Do đó, cần phát triển các phương pháp sinh học sử dụng vi khuẩn để xử lý nước thải một cách hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu vi khuẩn chịu nhiệt và pH

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp phân lập và tuyển chọn vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt và pH cao. Các chủng vi khuẩn được đánh giá dựa trên khả năng sinh tổng hợp cellulase và hiệu quả xử lý nước thải.

3.1. Quy trình phân lập vi khuẩn

Quy trình phân lập bao gồm việc thu thập mẫu nước thải, nuôi cấy và xác định các chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt và pH cao. Các phương pháp như cấy chấm điểm và đục lỗ thạch được áp dụng để đánh giá hoạt tính cellulase.

3.2. Đánh giá hoạt tính cellulase của vi khuẩn

Hoạt tính cellulase của các chủng vi khuẩn được xác định thông qua các thử nghiệm enzyme, giúp lựa chọn được các chủng vi khuẩn có khả năng xử lý nước thải hiệu quả nhất.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các chủng vi khuẩn phân lập có khả năng chịu nhiệt và pH cao, đồng thời có hoạt tính cellulase mạnh. Những chủng này có thể được ứng dụng trong xử lý nước thải từ nhà máy giấy, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

4.1. Hiệu quả xử lý nước thải từ vi khuẩn

Các thử nghiệm cho thấy vi khuẩn có khả năng giảm đáng kể các chỉ số ô nhiễm trong nước thải, như COD và BOD, nhờ vào hoạt động của cellulase.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong ngành công nghiệp giấy

Việc ứng dụng các chủng vi khuẩn này trong xử lý nước thải không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn tiết kiệm chi phí cho các nhà máy giấy.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về vi khuẩn chịu nhiệt và pH để sản xuất cellulase mở ra hướng đi mới trong xử lý nước thải giấy. Việc phát triển các chế phẩm vi sinh vật có thể giúp cải thiện hiệu quả xử lý nước thải, đồng thời bảo vệ môi trường.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong bảo vệ môi trường

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong việc xử lý nước thải mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm từ ngành công nghiệp giấy.

5.2. Hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chủng vi khuẩn mới, cũng như tối ưu hóa quy trình sản xuất cellulase để nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus phân lập tuyển chọn và đặc tính chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt chịu ph và sinh tổng hợp cellulase để xử lý nước thải nhà máy giấy

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 43,3 % khu công nghiệp Việt Nam có công trình xử lý nƣớc thải tập trung, tuy nhiên thực tế trong số này, nhiều công trình hoạt động chƣa đạt hiệu quả cao. Nƣớc thải của ngành sản xuất giấy là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Nƣớc thải nhà máy giấy chứa chất rắn lơ lửng, bột giấy, lignin, hóa chất tẩy trắng, chất phụ gia và các chất hữu cơ hòa tan là những hợp chất có độc tính sinh thái cao, có nguy cơ gây ung thƣ, rất khó phân hủy trong môi trƣờng. Các chỉ số về chất lƣợng nƣớc thải công nghiệp sản xuất giấy cao hơn giới hạn cho phép rất nhiều, cụ thể: Trong giai đoạn sản xuất bột giấy, hàm lƣợng TSS: 2000 mg/l, COD: 2500 mg/l, BOD5:1900 mg/l, pH: 6,4 – 7,5; trong giai đoạn xeo giấy hàm lƣợng TSS: 3500 mg/l, COD: 2500 mg/l, BOD5:2000 mg/l, pH: 7,5 – 9 [27,29].

Hiện nay, có nhiều phƣơng pháp xử lý nƣớc thải nhƣ: phƣơng pháp vật lý, phƣơng pháp cơ học, phƣơng pháp hóa học, tuy nhiên, các phƣơng pháp này có chi phí cao và chƣa xử lý triệt để nguồn ô nhiễm. Xử lý sinh học là phƣơng pháp có nhiều ƣu điểm, do thân thiện với môi trƣờng và khắc phục đƣợc các hạn chế của phƣơng pháp khác[29]. Nƣớc thải nhà máy giấy có tỷ lệ BOD5/COD ≥ 0,5, thích hợp để xử lý sinh học. Đặc tính của nƣớc thải nhà máy giấy là môi trƣờng nghèo dinh dƣỡng chứa nhiều cellulose, nhiệt độ cao - biến động từ 36oC lên tới 70oC, pH thấp và nằm trong dải từ 5 – 10.

Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân lập, tuyển chọn và đặc tính chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt, chịu pH và sinh tổng hợp cellulase để xử lý nước thải nhà máy giấy”. Mục tiêu của đề tài: - Phân lập và tuyển chọn đƣợc chủng vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt độ cao, chịu axit và có hoạt tính cellulase cao; - Xác định đƣợc ảnh hƣởng một số yếu tố đến sự sinh trƣởng của chủng vi khuẩn phân lập đƣợc; - Tạo đƣợc chế phẩm xử lý nƣớc thải nhà máy giấy; VŨ THỊ DINH 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCTRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN - Thử nghiệm ứng dụng vi khuẩn trong xử lý nƣớc thải nhà máy giấy. Đồi tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Nƣớc thải của nhà máy giấy An Hòa và cụm công nghiệp giấy Phú Lâm. - Vi khuẩn có khả năng xử lý nƣớc thải nhà máy giấy, sinh trƣởng trong điều kiện nhiệt độ cao, pH thấp.

- Thử nghiệm xử lý nƣớc thải nhà máy giấy quy mô phòng thí nghiệm (quy mô 250 ml và 5 l). Nội dung nghiên cứu: - Khảo sát một số chỉ tiêu về chất lƣợng nƣớc thải nhà máy giấy. - Phân lập, tuyên chọn chủng vi khuẩn bản địa có hoạt tính phân hủy cellulose cao, có khả năng sinh trƣởng trong môi trƣờng nhiệt độ cao và pH thấp. Định tên chủng vi khuẩn sinh tổng hợp cellulase.

- Khảo các yếu tố ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng của chủngBacillus subtilis TD. - Tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý nƣớc thải nhà máy giấy và khảo sát quá trình bảo quản chế phẩm. - Nghiên cứu quá trình xử lý nƣớc thải nhà máy giấy quy mô phòng thí nghiệm (250 ml và 5 l). VŨ THỊ DINH 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCTRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.

Tình hình phát triển của ngành sản xuất giấy và bột giấy 1. Sự phát triển của công nghiệp giấy trên thế giới Giấy đƣợc ngƣời Ai Cập làm ra từ sợi dây của cây papyrus từ thời cổ đại, vào năm 3500 trƣớc Công nguyên. Đến năm 105 sau Công nguyên, ngƣời Trung Quốc đã có bƣớc đột phá mới trong công nghệ sản xuất giấy và đƣợc coi là nguồn gốc của ngành giấy, chất lƣợng giấy thời này có thể so sánh với giấy thủ công ngày nay. Qua thời gian, ngành sản xuất giấy không ngừng phát triển, từ sản xuất thủ công ban đầu bằng cách kết những cây cỏ với nhau thành tấm, đến quy mô công nghiệp với công nghệ tiên tiến, tự động hóa trong các khâu sản xuất.

Nhu cầu tiêu thụ giấy trên thế giới ngày càng tăng: Năm 2013, mức tiêu thụ giấy bình quân đầu ngƣời ở Nhật Bản đạt khoảng 130 kg/ngƣời[19]. Trong đó, nhu cầu giấy bao bì và đóng gói chiếm tỷ lệ lớn nhất với 39% tổng sản lƣợng năm 1961 và 54% trong năm 2013[33]. Để đáp ứng mức nhu cầu trên, sản lƣợng giấy không ngừng tăng qua các năm, năm 1961 sản lƣợng giấy và bột giấy thế giới khoảng hơn 70 triệu tấn, đến năm 2013 đạt khoảng 397,6 triệu tấn. Trong đó, tổng sản lƣợng giấy của bốn nƣớc Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Đức chiếm hơn một nửa, khoảng 56%[33].

Ngoài 4 cƣờng quốc giấy trên, các quốc gia kháccũng không ngừng đẩy mạnh đầu tƣ phát triển ngành giấy nhƣ: nhà máy Andritz của Anh với sản lƣợng 220.000 tấn/năm, nhà máy Metsa Group của Phần Lan với sản lƣợng 1,3 triệu tấn/năm[3]. Song song với quá trình phát triển, lƣợng nƣớc thải ngành giấy thải ra môi trƣờng đã và đang là mối nguy của cả xã hội. Tuy nhiên với thiết bị công nghệ hiện đại, chu trình sản xuất tuần hoàn khép kín, các nhà máy sản xuất giấy và bột giấy của các nƣớc phát triển trên thế giới đã giảm lƣợng nƣớccung cấp cho quá trình sản xuất và lƣợng nƣớc thải thải ra môi trƣờng tới mức tối đa: Lƣợng nƣớc cung cấp cho quá trình sản xuấtkhoảng 7 - 15 m3 nƣớc/1 tấn giấy và bột giấy; Hóa chất sử dụng trong giai đoạn nấu bột và nƣớc trắng sinh ra trong quá trình xeo giấy đƣợc tuần hoàn sử dụng lại [9]. VŨ THỊ DINH 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCTRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1.

Sự phát triển của ngành giấy ở Việt Nam Ngành giấy là một trong những ngành đƣợc hình thành từ rất sớm tại Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy đƣợc làm bằng phƣơng pháp thủ công phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân gian và vàng mã. Đến thế kỷ 20, có nhiều nhà máy giấy và bột giấy đƣợc thành lập với quy mô nhỏ (dƣới 20. Ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy ở Việt Nam đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, sản lƣợng giấy tăng trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000- 2006, sản lƣợng giấy cả năm 2010 tăng gần 10% so với năm 2009, ƣớc đạt 1,85 triệu tấn[18].

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan (TCHQ) Việt Nam, 4 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu 161,7 triệu USD giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2015. Giấy và sản phẩm từ giấy của Việt Nam có mặt tại 17 quốc gia trên thế giới, trong đó Hoa Kỳ là thị trƣờng chủ yếu, chiếm 24%, kế đến là Nhật Bản và Đài Loan chiếm 18%. và các thị trƣờng khác chiếm 23%[2]. 1: Cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu giấy và sản phẩm giấy 4 tháng 2016[2] Quy mô sản xuất của ngành giấy Việt Nam còn nhỏ: 46% doanh nghiệp có công suất dƣới 1.000 tấn/năm, 42% công suất từ 1.000 tấn/năm và chỉ có 4 doanh nghiệp có công suất trên 50.

Công suất trung bình của Việt Nam VŨ THỊ DINH 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCTRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN là 5.800 tấn giấy và 13.000 tấn bột giấy/năm, thấp hơn rất nhiều so với các nƣớc khác trên thế giới và trong khu vực[6]. Công nghệ sản xuất của ngành giấy Việt Nam nhìn chung còn rất lạc hậu. Hiện nay ở Việt Nam có 3 phƣơng pháp sản xuất bột giấy chính là: phƣơng pháp sử dụng hóa chất, phƣơng pháp cơ-lý, phƣơng pháp tái chế giấy loại, đây đều là các phƣơng pháp sử dụng nhiều hóa chất và năng lƣợng. Công nghệ sản xuất bột giấy lạc hậu và gây ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng nhƣ: công nghệ bột sulfat tẩy trắng, công nghệ sản xuất bột theo phƣơng pháp hóa nhiệt cơ, và phƣơng pháp xút không thu hồi hóa chất, hoặc công nghệ sản xuất theo phƣơng pháp kiềm lạnh[6].

Để sản xuất 1 tấn giấy cần dùng từ 200 –500 m3 nƣớc[9]. Công nghệ sản xuất giấy - bột giấy và đặc tính của nƣớc thải Công nghệ sản xuất giấy gồm hai quá trình cơ bản: Sản xuất bột giấy từ nguyên liệu thô và sản xuất giấy từ bột giấy (xeo giấy)[11]. Công nghiệp giấy và bột giấy có thể coi nhƣ hai ngành độc lập, sản xuất bột và sản xuất giấy. Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất bột giấy từ xơ sợi thực vật (tre và gỗ mềm) và giấy tái chế (giấy đã qua sử dụng, giấy phế liệu và các chất thải từ các xƣởng đóng sách[3].

Do quá trình sản xuất giấy và bột giấyvới các công nghệ hoàn toàn khác nhau nên nƣớc thải khác nhau về lƣu lƣợng và tính chất[18]. Công nghệ sản xuất bột giấy và đặc tính của nƣớc thải Quá trình sản xuất bột giấy là quá trình biến đổi các nguyên liệu gỗ hoặc phi gỗ thành xơ sợi, hay nói cách khác là phá vỡ các liên kết trong cấu trúc của nguyên liệu mà thành phần chính của nó là cellulose (40 – 45%), hemicellulose (20 – 30%), là các hợp chất cao phân tử (polyme), đƣợc bao bọc xung quanh bởi lignin (20 – 30%) và các chất trích ly (chất keo nhựa) (2 – 15%)[27].  Công nghệ bột hóa học Bản chất của công nghệ bột hóa: sử dụng hóa chất để hòa tan các thành phần không phải sợi cellulose trong nguyên liệu[18]. Các dăm gỗ đƣợc nấu với những dinh dịch hóa chất thích hợp ở nhiệt độ cao và áp suất cao với mục đích tách lignin ra khỏi gỗ, thu hồi cellulose và hemicellulose.

Quy trình làm giảm và phân hủy một VŨ THỊ DINH 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCTRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN phần cellulose và hemicellulose, tuy nhiên có khả năng loại bỏ lignin khá triệt để và sản phẩm giấy có độ bền tƣơng đối cao [3]. Hai công nghệ bột hóa chính: Công nghệ Kraft: là công nghệ nấu bột bằng kiềm (hỗn hợp NaOH và Na2S) có chức năng hòa tan lignin và hemicellulose để giải phóng sợi cellulose. Nƣớc thải - dịch nấu chứa hóa chất nấu và các hợp chất tự nhiên có trong gỗ, nhiều nhất là lignin, chứa nhiều kiềm (pH cao) và có mùi đặc trƣng của các hợp chất lƣu huỳnh, chỉ số COD và độ màu (do lignin) rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ