Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, đưa đất nước trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh về lĩnh vực công nghệ thông tin. Cùng với sự phổ cập sâu rộng của mạng máy tính, mạng Internet và các thiết bị di động thông minh phục vụ đời sống kinh tế - xã hội, không gian mạng cũng trở thành môi trường phát sinh nhiều phương thức phạm tội mới. Lực lượng chức năng liên tục phát hiện, triệt phá nhiều vụ án chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao có tính chất công khai, táo tợn, quy mô lớn và thậm chí mang tính chất quốc tế. Các đối tượng phạm tội thường sử dụng các thủ đoạn tinh vi như phát tán mã độc, virus, phần mềm gián điệp nhằm đánh cắp dữ liệu, làm tê liệt hệ thống, hoặc tiếp cận, đe dọa, đưa thông tin giả mạo để lừa gạt tiền bạc. Đáng chú ý, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương mà tội phạm thường nhắm tới gồm người cao tuổi, trẻ em, sinh viên, thanh niên và người lao động, thậm chí lôi kéo sinh viên tham gia làm thêm để phục vụ hoạt động phạm tội.
Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" tại Điều 290, song quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Việc nhận thức về tội danh này còn chưa đầy đủ, thiếu các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết, dẫn đến tình trạng áp dụng thiếu thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, việc định tội danh còn nhầm lẫn và một số bản án chưa phản ánh đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp mang tính thể chế nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cùng với các giải pháp mang tính thiết chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa loại tội phạm này trong thực tế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành.
- Xác định những điểm bất cập, chưa hợp lý trong quá trình áp dụng pháp luật và trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm liên quan; cùng thực trạng áp dụng pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này trên thực tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các quy định lý luận theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các tình hình, số liệu thực tiễn và bản án từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật đến nay, trong đó trọng tâm là giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, cùng các nghiên cứu chuyên khảo trong khoa học luật hình sự:
- Hệ thống văn bản pháp luật nền tảng: Điều 32 Hiến pháp năm 2013 (về bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế); Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 51 (các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự), Điều 52 (các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự), Điều 53 (tái phạm, tái phạm nguy hiểm), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và trực tiếp là Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định về khái niệm tài sản); khoản 2 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (về khái niệm mạng); khoản 10 Điều 3 Luật Viễn thông năm 2009 (về khái niệm mạng viễn thông); khoản 2 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (về khái niệm phương tiện điện tử); Luật An ninh mạng năm 2018; khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC và Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT sửa đổi, bổ sung.
- Chủ trương, đường lối: Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để phân tích cấu trúc điều luật, các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm tại Điều 290 và làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật trong từng vụ án cụ thể.
- Phương pháp thống kê, lịch sử: Thống kê các dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2018 - 2022 và xâu chuỗi quá trình phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lập pháp.
- Phương pháp bình luận và phương pháp tổng hợp: Đánh giá, bình luận tính hợp lý của các phán quyết tư pháp, tổng hợp những bất cập, vướng mắc từ thực tế xét xử để làm căn cứ đề xuất giải pháp.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu vĩ mô từ Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), báo cáo của Bộ Công an tại Phiên họp thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cùng các bản án hình sự công khai trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao (như Bản án số 56/2022/HS-ST của TAND huyện Sóc Sơn, Bản án số 163/2022/HS-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội, Bản án số 08/2022/HS-PT của TAND TP. Đà Nẵng, Bản án số 781/2023/HS-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở lý luận cho đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm kỹ thuật dưới góc độ pháp lý gồm "mạng máy tính", "mạng viễn thông", "phương tiện điện tử" và phân tích không gian mạng như một môi trường nhân tạo nơi diễn ra các tương tác không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Trên cơ sở đối chiếu định nghĩa tội phạm tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thông qua việc sử dụng phương tiện phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông và thiết bị điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản đang thuộc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, đưa vào phạm vi sở hữu của mình mà không có sự cho phép.
Tác giả phân tích bốn đặc điểm pháp lý cơ bản của tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi cố ý trực tiếp, tính phải chịu hình phạt) cùng các đặc trưng riêng biệt:
- Chủ thể: Thường là người có trình độ kỹ thuật cao (hacker) hoặc người sử dụng các công cụ, mã khai thác có sẵn (script kiddie), đa phần là người trẻ tuổi.
- Thủ đoạn và công cụ: Sử dụng các phương thức tinh vi, thay đổi liên tục; công cụ gây án là phần mềm độc hại như Trojan, Spyware, mã độc (malware), kỹ thuật lừa đảo (Phishing), thiết bị đọc trộm dữ liệu thẻ (Skimming), khai thác lỗ hổng thiết bị IoT.
- Chứng cứ và không gian phạm tội: Bằng chứng chủ yếu là chứng cứ điện tử (tệp dữ liệu, bộ nhớ lưu trữ, phần cứng, nhật ký truy cập) dễ bị xóa bỏ hoặc mã hóa; không gian phạm tội kết hợp giữa môi trường "ảo" (ẩn danh trên mạng) và môi trường "thực" (địa bàn sinh sống, rút tiền), thường có yếu tố nước ngoài hoặc máy chủ đặt tại nước ngoài.
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn từ BLHS 1985 đến trước BLHS 1999: Chưa có điều luật riêng về tội phạm công nghệ thông tin; chủ yếu xử lý theo các tội phạm truyền thống.
- Giai đoạn từ BLHS 1999 đến trước BLHS 2015: Internet vào Việt Nam ngày 19/11/1997. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 (thông qua ngày 19/6/2009, có hiệu lực từ 01/01/2010), lần đầu tiên nhà làm luật bổ sung Điều 226b quy định riêng về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Chương XIX.
- Giai đoạn từ khi ban hành BLHS 2015 đến nay: Kế thừa và phát triển Điều 226b, BLHS năm 2015 quy định tội danh này tại Điều 290 thuộc Mục 2 Chương XXI. Sau khi Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017 được ban hành, Điều 290 tiếp tục được giữ nguyên hiệu lực thi hành mà không sửa đổi nội dung.
Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương này tập trung mổ xẻ cấu thành tội phạm và khung hình phạt theo quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Khách thể của tội phạm: Khách thể trực tiếp là trật tự quản lý an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Chủ thể của tội phạm: Là chủ thể thường. Theo Điều 12 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi trường hợp phạm tội; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 290.
- Mặt khách quan của tội phạm: Bao gồm năm nhóm hành vi được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 290:
- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
- Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản (bán hàng giả, tạo sàn ảo theo mô hình Ponzi, gửi tin nhắn giả mạo tổ chức tín dụng...).
- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc và luôn có trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Dấu hiệu định khung hình phạt: Khung hình phạt tăng nặng căn cứ vào các tình tiết: phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy hiểm; số lượng thẻ giả (từ 50 đến dưới 200 thẻ, từ 200 đến dưới 500 thẻ, từ 500 thẻ trở lên); giá trị tài sản chiếm đoạt hoặc mức độ thiệt hại gây ra (từ 50 triệu đến dưới 300 triệu đồng; từ 300 triệu đến dưới 500 triệu đồng; từ 500 triệu đồng trở lên).
- Quy định về hình phạt: Hình phạt chính gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn (tối đa đến 20 năm tù). Tội danh không áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình. Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 3 trình bày các cứ liệu thực chứng từ công tác xét xử tại các Tòa án trên phạm vi toàn quốc:
- Tình hình xét xử chung: Các vụ án liên quan đến Điều 290 chiếm hơn 60% tổng số các vụ án hình sự trong lĩnh vực công nghệ thông tin được đưa ra xét xử. Theo số liệu của Bộ Công an tại Phiên họp thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ đầu năm 2022, lực lượng chức năng đã phát hiện, khởi tố 474 vụ án với 1.071 bị can liên quan đến tội phạm sử dụng công nghệ cao xâm phạm trật tự an toàn xã hội.
- Thực tiễn quyết định hình phạt giai đoạn 2018 - 2022: Thống kê của khóa luận cho thấy hình phạt chủ yếu áp dụng là tù có thời hạn. Cụ thể:
| Mức hình phạt áp dụng |
Tỷ lệ phân bổ (%) |
| Phạt tù từ 03 năm trở xuống (bao gồm cải tạo không giam giữ, tù cho hưởng án treo) |
Chiếm tỷ lệ lớn nhất |
| Phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm |
24,3% |
| Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
19,3% |
| Phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm |
3,5% |
| Tù chung thân / Tử hình |
0% (Luật không quy định) |
- Phân tích các vụ án điển hình:
- Bản án số 56/2022/HS-ST ngày 04/05/2022 của TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội: Xét xử nhóm đối tượng cầm đầu bởi Nguyễn Văn D cùng đồng phạm (Nguyễn Ngọc T, Lê Đình Minh C, Nguyễn Thanh H, Phan Quang V). Nhóm này tìm kiếm người bán hàng trên ứng dụng "Chợ tốt", dùng Zalo đăng ký sim rác giả làm người mua ở nước ngoài, dùng ứng dụng TalkU tạo số điện thoại mã vùng Hoa Kỳ (+1) gửi tin nhắn kèm đường link trang web giả mạo dịch vụ chuyển tiền quốc tế Western Union (tạo trên weebly.com). Khi bị hại nhập thông tin tài khoản ngân hàng, mật khẩu Internet banking và mã OTP, thông tin được gửi về hòm thư điện tử
qqqqqaa1122211@gmail.com của D. D đăng nhập tài khoản nạn nhân chuyển tiền về tài khoản ngân hàng mang tên Trần Đức T để chiếm đoạt của anh Đỗ Văn V 200.000.000 đồng và anh Nguyễn H.A 1.402.500 đồng. Tòa án tuyên phạt Nguyễn Văn D 08 năm tù, Phan Quang V 07 năm 06 tháng tù, Lê Đình Minh C 07 năm tù, Nguyễn Thanh H 07 năm tù theo điểm a khoản 3 Điều 290.
- Bản án số 163/2022/HS-PT ngày 24/03/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội: Xét xử Nguyễn R cùng Phan Thanh V, Lâm Thanh T thuê nhà trọ tại thị xã Quảng Trị làm địa điểm gây án. R dùng tài khoản ảo vào nhóm "Cộng đồng người Việt tại Đức" hack tài khoản Facebook "Thanh D Đặng" của bà Đặng Thị D, đọc trích xuất tin nhắn thấy mối quan hệ với bà Nguyễn Thị Thu P (Nam Định), sau đó mạo danh nhắn tin hỏi vay tiền. Bà P đã chuyển tổng cộng 530.000.000 đồng (trong đó lần đầu chuyển 80.000.000 đồng) vào tài khoản Techcombank số 19036216010014 do T cung cấp. R thuê người dùng tài khoản Facebook "OK bạn" rút tiền mặt với mức phí chiết khấu 30% chuyển qua tài khoản VietinBank mang tên Trần Quang V1 rồi giao nhận qua shipper, nạp 30.000.000 đồng vào game "Gowin". TAND tỉnh Nam Định xử phạt sơ thẩm Nguyễn R 12 năm 06 tháng tù theo điểm a khoản 4 Điều 290. TAND cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên mức án.
- Bản án số 08/2022/HS-PT ngày 19/01/2022 của TAND TP. Đà Nẵng: Nguyễn Không Q nhặt được điện thoại iPhone 7 Plus của chị Trần Thị Mỹ L, dò mật khẩu mở máy đăng nhập thành công vào ứng dụng Agribank, kiểm tra số dư hơn 20.000.000 đồng. Q mua 04 mã thẻ điện thoại (tổng trị giá 2.000.000 đồng, dùng 3 thẻ nạp game) và gọi Trần Thanh L đến để L thao tác chuyển 13.000.000 đồng sang tài khoản ngân hàng của L. TAND TP. Đà Nẵng giữ nguyên án sơ thẩm, xử phạt Trần Thanh L 12 tháng tù theo điểm b khoản 2 Điều 290.
- Vướng mắc và hạn chế pháp lý từ thực tiễn:
- Xung đột trong định tội danh giữa Điều 290 và Điều 174 (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản): Điểm a khoản 1 Điều 290 sử dụng thuật ngữ "tài khoản" nhưng không quy định rõ là tài khoản tài chính ngân hàng hay tài khoản mạng xã hội. Trong vụ án Bản án số 163/2022/HS-PT, việc bị cáo chiếm đoạt tài khoản Facebook rồi dùng tài khoản đó nhắn tin lừa dối người thân chuyển tiền mang bản chất của hành vi gian dối nhằm tạo sự tin tưởng để chiếm đoạt tài sản (dấu hiệu đặc trưng của Điều 174) chứ không trực tiếp tác động kỹ thuật để rút tiền từ hệ thống tài khoản theo mô tả của Điều 290. Việc Tòa án truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 290 trong các trường hợp này dẫn đến áp dụng pháp luật chưa thực sự chuẩn xác.
- Sai sót trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng: Cấp sơ thẩm trong Bản án số 163/2022/HS-PT đã bỏ sót tình tiết tăng nặng "Phạm tội từ 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, do bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt 03 lần độc lập nhưng Tòa án chỉ cộng gộp tổng số tiền để định khung theo điểm a khoản 4 Điều 290.
- Các giải pháp đề xuất:
- Giải pháp thể chế: Ban hành văn bản quy phạm giải thích, hướng dẫn chi tiết Điều 290 BLHS; chuẩn hóa khái niệm "tài khoản" (xác định rõ là tài khoản thanh toán, tài khoản ngân hàng, tài khoản tín dụng); phân định ranh giới pháp lý minh bạch giữa hành vi chiếm đoạt qua mạng kỹ thuật (Điều 290) và hành vi sử dụng mạng xã hội như một phương tiện liên lạc để thực hiện lừa đảo truyền thống (Điều 174).
- Giải pháp thiết chế: Tăng cường năng lực kỹ thuật số và đào tạo chuyên sâu về chứng cứ điện tử cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán; nâng cao cơ chế phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án với Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông, các ngân hàng thương mại và nhà cung cấp dịch vụ mạng viễn thông; đẩy mạnh tuyên truyền thủ đoạn phạm tội để nâng cao ý thức tự bảo vệ thông tin cá nhân của người dân.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu: Khóa luận hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về cấu thành tội phạm của Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tổng hợp và lượng hóa bức tranh xét xử thực tế giai đoạn 2018 - 2022 với 60% án công nghệ thông tin thuộc về tội danh này; đồng thời chỉ ra tỷ lệ áp dụng khung hình phạt cao nhất (từ trên 15 đến 20 năm tù) chỉ chiếm 3,5%.
- Giải pháp và kiến nghị: Tác giả đưa ra các giải pháp cụ thể: (1) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để phân biệt ranh giới cấu thành giữa Điều 290 và Điều 174 BLHS khi đối tượng hack tài khoản mạng xã hội nhằm lừa đảo chuyển tiền; (2) Hướng dẫn thống nhất nguyên tắc áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội từ 02 lần trở lên" đối với các vụ án chiếm đoạt tiền qua mạng nhiều lần mà không bỏ sót hành vi; (3) Tăng cường thiết chế phối hợp công nghệ trong giám sát giao dịch trực tuyến và quản lý sim rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ.
- Đóng góp so với các công trình trước: Khác với các giáo trình, sách chuyên khảo hay các luận văn thạc sĩ trước đây (như công trình của Đỗ Đức Hồng Hà, Phạm Văn Lợi, Nguyễn Quý Khuyến, Nguyễn Bảo Thoa, Đỗ Ngọc Quang, Phạm Mạnh Hùng) vốn chủ yếu dừng lại ở nghiên cứu nhóm tội danh công nghệ cao nói chung, hoặc nghiên cứu trên cơ sở BLHS năm 1999 cũ, khóa luận này đi sâu độc lập vào một tội danh cụ thể là Điều 290 theo văn bản luật hiện hành và cập nhật các bản án thực tế xét xử mới nhất trong giai đoạn 2021 - 2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi dữ liệu thực tiễn của khóa luận chủ yếu tập trung vào các bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật được công khai trên cổng thông tin điện tử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022; chưa bao quát hết các vụ việc đang trong giai đoạn điều tra hoặc các phương thức phạm tội ẩn danh qua ví điện tử quốc tế, tiền mã hóa do thiếu dữ liệu bản án chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giám định và thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hình sự điều chỉnh các hành vi lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ làm giả hình ảnh/giọng nói (Deepfake) và các mô hình tài chính phi tập trung để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Người học và nghiên cứu luật học: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự có thể sử dụng khóa luận để tham khảo hệ thống lý luận về cấu thành tội phạm Điều 290, phương pháp tiếp cận phân tích bản án hình sự thực tế và lịch sử lập pháp về tội phạm công nghệ cao tại Việt Nam.
- Cán bộ thực tiễn tư pháp: Là tài liệu tham khảo hữu ích cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt, đặc biệt là phần phân tích chuyên sâu tại Chương 3 về những vướng mắc khi xác định tình tiết tăng nặng "phạm tội từ 02 lần trở lên" và ranh giới phân định tội danh giữa Điều 290 và Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Tội danh quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 có nguồn gốc lập pháp từ điều luật nào trước đây?
Quy định này bắt nguồn từ Điều 226b ("Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"), được Quốc hội bổ sung vào Chương XIX Bộ luật Hình sự năm 1999 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010).
2. Khóa luận chỉ ra điểm bất cập nào trong việc sử dụng thuật ngữ "tài khoản" tại điểm a khoản 1 Điều 290?
Khóa luận phân tích: Thuật ngữ "tài khoản" trong điều luật chưa được làm rõ là tài khoản tài chính, ngân hàng hay tài khoản mạng xã hội. Nếu đối tượng chỉ chiếm quyền sử dụng (hack) tài khoản mạng xã hội (như Facebook) rồi nhắn tin lừa dối người khác chuyển tiền thì bản chất là hành vi gian dối của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) chứ không phải hành vi trực tiếp dùng công nghệ xâm nhập để chiếm đoạt tài sản trong tài khoản tài chính theo bản chất của Điều 290 BLHS.
3. Cơ cấu mức hình phạt tù đối với tội phạm này trong giai đoạn 2018 - 2022 diễn biến như thế nào?
Hình phạt chủ yếu được áp dụng là phạt tù có thời hạn. Trong đó, phạt tù từ 03 năm trở xuống chiếm tỷ lệ lớn nhất; phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm chiếm 24,3%; phạt tù từ 03 năm đến 07 năm chiếm 19,3%; mức phạt tù kịch khung từ trên 15 năm đến 20 năm chỉ chiếm 3,5%; không có trường hợp nào áp dụng tù chung thân hoặc tử hình.
4. Thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong Bản án số 163/2022/HS-PT được tác giả chỉ ra là gì?
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn R đã 03 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản độc lập đủ yếu tố cấu thành tội phạm đối với bà Nguyễn Thị Thu P, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cộng dồn số tiền chiếm đoạt (530.000.000 đồng) để định khung theo điểm a khoản 4 Điều 290 mà bỏ sót tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội từ 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
5. Trong Bản án số 56/2022/HS-ST, các bị cáo đã sử dụng những công cụ, ứng dụng nào để chiếm đoạt tài sản?
Các bị cáo sử dụng ứng dụng "Chợ tốt" để tìm kiếm nạn nhân, dùng tài khoản Zalo đăng ký bằng sim rác để liên hệ, dùng ứng dụng TalkU tạo số điện thoại ảo mã vùng Hoa Kỳ (+1) gửi tin nhắn, tạo trang web giả mạo dịch vụ Western Union qua nền tảng weebly.com để đánh cắp thông tin thẻ, mật khẩu Internet banking và mã OTP, sau đó chuyển dữ liệu về hòm thư điện tử qqqqqaa1122211@gmail.com để rút tiền.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Tô Trần Thùy Dương đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và các dấu hiệu pháp lý cấu thành của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thông qua việc khảo sát số liệu xét xử giai đoạn 2018 - 2022 và các bản án thực tế điển hình, tác giả đã làm rõ các sai sót thực tiễn trong công tác định tội danh và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Công trình mang lại những đề xuất thiết thực về mặt thể chế và thiết chế nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử đối với loại tội phạm công nghệ cao trong tình hình hiện nay.