CHƯƠNG 1: MOT S6 VAN DE CHUNG VE TOI SỬ DỤNG MẠNG MAY TÍNH, MẠNG VIỄN THONG PHU ONG TIEN ĐIỆN TU THỰC HIEN HANH VI CHIEM ĐOẠT TÀI SAN 1. Khái quatvé Tội sử dung mang máy tính, mạng viễn thong phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sàn 1.1 Định nghĩa về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông phương tiện điện từ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Thứ what, khái quát về mạng tuáy tính, mang viễn thông và phương tiệu điệu tư Trước khi di sâu vào tìm hiểu về khái niém: “Tôi sử dụng mang máy tính, mang viễn thông phương tiện điện tử thực hiên hành vi chiêm đoạt tai sản” là gì, ta cần phải hiểu về mang máy tinh, mang viễn thông và phương tiên điện tử là gì, dong vai tro như thé nào trong việc hình thành loại tdi nay. Theo định nghĩa học thuật, “mang máy tính” (computer network) được xác định là một tập hợp các máy tinh và các thiết bị khác két nổi với nhau có khả nang chia sé đữ liệu và tai nguyên. Những thiết bị kết nổi này có thể giao tiếp với nhau thông qua các kénh truyền thông khác nhau, chẳng han như kết nổi có đây hoặc không dây.
Mục đích chính của môt mang máy tính là hỗ tro việc trao đổi thông tin và tai nguyên giữa các thiết bi thành phần của nó! Theo luật học, “mang” được quy định tại khoản2 Điều3 Luật an toàn thông tin mang 2015 như sau: Mang là môi trường trong đó thông tin được cung cập, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mang viễn thông và mang may tính Mặc đủ không quy định rõ hơn và chi tiệt hơn về thuật ngữ này, song ta có thé hiéu rang meng máy tinh là mang viễn thông kỹ thuật sô được sử dụng dé kết nói các máy tinh lại với nhau thông qua các thiết bi nói kết mang (hay thiệt bị điện tử) va phương tiện truyền thông (giao thức mạng, môi trường truyền dẫn) theo một cầu trúc và các máy tính. này trao đôi thông tin, dữ liệu qua lại với nhau. Thuật ngữ “viễn thông” (telecommunication) có nghiie là việc truyền tải các biéu diễn thông tin giữa các địa điểm ở xa bằng phương tiên điện tử Thông tin này có thể ở 7_F. Ross (2017) Comper Networking: A Top-down Approach.
Tth edition, Hoboken, New Jersey: Pearson dang thoại, video hoặc dữ liệu được tạo bởi máy tinh”. Theo khoản 10 Điêu 3 Luật viễn thông năm 2009, mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cập dich vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông “Phương tiện điện tử” (electronic devices) ám chỉ các thiết bi hoặc công nghệ sử dung điện tử dé truyền tải, xử lý, hoặc lưu trữ thông tin ví du như điện thoại, máy tinh, máy quay phim, thiết bi gia đụagÌ,. Thuật ngữ "phương tiện điện tử" không có một dinh nghiia chính xác và cu thể trong lĩnh vực khoa học, tuy nhiên, căn cứ theo khoản2 Điêu3 Luật giao dich điện tử năm 2023, “plưương tiện điện tử” là phan cứng, phân mêm, hệ thống thông tin hoặc phương tiên khác hoạt đông dua trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dan không day, quang hoc, điện từ hoặc công nghệ khác tương từ Nhìn chung “mang máy tính” và “mạng viễn thông" thường được sử dụng như nheu trong nhiều tinh huéng, nhung cũng có thé có sự khác biệt tuỳ thuộc vào ngữ cảnh: và ngữ nghĩa cu thé. Mang máy tinh thường bao gồm các thiết bị điện tử như máy tinh, router, switch, và modem dé tạo ra một hệ thống kết nối và truyền đữ liệu.
Do đó, có thê nói rằng "phương tiện điện tử" có thé là mét phần của "mang máy tinh," nhưng không hoàn toàn tương đương và ngược lại. Trong nghiên cứu khoa học, đã có nhiéu quan điểm. về môi trường công nghệ thông tin (CNTT) hay môi trường mang viễn thông (MVT) nhung tựu chung lại thì chúng được hiểu là mdi trường không gian mạng như sau: Môi trường không gian mang là mỗi trường nhân tao, được tao ra từ sự kết nỗi ha tang công nghệ thông tin, trong đó thông tin dit liệu được cung cấp, truyền đùa, thu thập, xir lý. lưu trữ và trao đồi; là nơi con người thông qua các công cu kỹ thuật giao tiếp, tương tác với nhan không bị giới han bởi không gian và thời gian Mang máy tính được phân loai dựa trên 02 tiêu chí chính đó là: phân loại dựa vào pham vị kết nội và phân loai dựa trên chức nang của máy tinh Phân loại dua vào phạm vi kết nội tính tới thời điểm hiện tai có tổng công 10 loại khác nhau (ví du: mạng LAN; meng GAN, mang HAN,.), còn phân loại theo chức năng máy tính gồm có 03 loại chính: mô hình mạng ngang hang, mô hình khách — chủ; và mô hình mang may tinh dựa trên website.
?)tps:ffegvarkosh ac avbitstreans/123456789/33161/1/Unit-3 pat Lamon Y. Chang, Peter Grabosky (2017), The govemunce of cyberspace, Monash University & Australian National University , Australia * Nguyễn Quý Kluyén, Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mang viễn thing theo pháp Inithinh sự Việt Nam, Luận in Tien sĩ nit hoc , Hà Nội 2021 T1 Thuật ngữ an ninh mang lần đầu tiên được sử dung bởi các nhà khoa học may tinh trên thê giới vào năm đầu những năm 1990, biểu thi hàng loạt van đề bat an liên quan đền các máy tính nổi mang với trong tâm là chuyển từ quan niém kỹ thuật đơn thuận về bảo mật may tính sang các muối de doa phát sinh từ kỹ thuật số công nghệ có thé gây ra những tác động xã hôi mang tính tan phá — tới an ninh quốc gia và/hoặc kính tê và phúc lợi xã hội của toàn dân tộc. Lừa đảo chiêm đoạt tai sản đang dân trở nên phổ biên với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Hiện nay, có những chiêu trò lừa đảo tuy không mới nhưng nhiêu người vi tâm lý hoang mang 1o lang nhẹ da cả tin vẫn trở thành nạn nhân của các hành vi lửa dao với thiệt hai lên đền hàng triệu, hang tỷ đồng, Với sự phát triển của công nghệ thông tin, mang máy tinh đang trở thành một thứ không thé thiêu đối với người dân toàn câu.
Không thé phủ nhận được những lợi ích mà nó dem lại với đời sông con người nhu một tiên ich trò chuyên, gửi thư, tra cứu thông tin,., bên cạnh đó, mang máy tinh con dem lại lợi ích lớn cho các doanh nghiệp và các cơ quan khác. Ngoài ra, lợi ich của mang may tính còn năm ở chỗ chỉ cho phép san sé liên kết một Internet duy nhất, điều này giúp cho các công ty hoàn toàn có thể nang cao bảo mật thông tin mạng cũng như giảm thiểu tối đa rủi ro đáng tiếc nêu nlyư bí mật kinh doanh bị lộ ra ngoài. Bên canh những mặt tích cực mà mang máy tinh đem lại thi vẫn còn tôn tại những mặt xâu, tiêu cực. Các đôi tượng xâu sẽ lợi dụng sự phát triển mang máy tính và nhu cầu sử dụng của người dân dé triển khai những hoạt động trái pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội nlur lừa đảo, cờ bạc, mua bán hàng cam, kích đồng gây rồi an ninh trật ty, xêm phạm an ninh quốc gia.
Trong đó, có thé nói thủ đoạn lừa dao, chiếm đoạt tài sẵn là câu chuyện dai ky dé lại bài học dat giá về ý thức cảnh giác, kỹ năng tự bảo vệ minh cho mỗi cá nhân. Thit hai, khái quát về tội sir đụng mang tuáy tinh, mang vien thông phiương tiện điệu từ thực liệu hanh vi chiém đoạt tài san Theo từ điển Oxford, từ “chiêm đoạt” (appropriation) có nghifa là hành: động lay cap dé sử dung cho riêng minh, thường là tai sản, quyên lợi và thông tin ma không có sự cho phép của chủ sở hữu và trái với pháp luật. Bên cạnh do, trong ngữ cảnh của tai chính. hoặc giao dich, "chiêm đoạt" thường am chỉ việc lợi dụng quyên lực hoặc sử dung thủ đoạn lừa đôi dé lay cap tài sản, thông tin, hoặc giá trị từ người khác mà không có sự cho phép hay sự hiểu biết của họ.
Hành vi này có thé liên quan đến việc lửa đảo, gian lân, hoặc các hoạt động pham tôi khác. Các hành vi nay thường bat hợp pháp và người thực tiện được coi là tôi phạm. Mặc du trong văn bản pháp luật Viet Nam không có quy đính hay định nghiia rõ khái tiệm về “chiêm đoạt”, tuy nhiên, trong khoa học hình sự, hành vi này được định ngiĩa như sau: Chiếm đoạt là hành vi cỗ ƒ' chuyên dich trái phép tài sản được thuôc sự quan li của chủ tài san thành tài san của mình Hanh vi chiếm đoạt bat đầu khi người thực hiện hành động dé lam mat khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, nhằm tao điều kiện cho bản thân chiêm đoạt được tai sản đó. Hanh vi này chỉ được coi là hoàn thành khí người chiếm đoạt đã thực sự kiểm soát và chiếm đoạt được tải sin đó.
Các hành vi chiêm đoạt có thê thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau nhw lửa dối, sử dung vũ lực, lợi dung chức vu hoặc quyên lực. Tuy thuộc vào cách thức chiếm đoạt, hành vi nay có thé được xem xét và phân loại thành: các tôi pham khác nhau trong nhóm tôi chiêm đoạt Vé tai sản, dưới góc độ khoa học, tai sản thường được xem xét từ góc độ kinh tế, xã hôi và quan lý tài nguyên. Các nhà khoa học kinh tê, xã hội hoc, và quản lý tài nguyên nghiên cứu về cách tai sản ảnh hưởng đền phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Trong ngữ cảnh luật học, khái niém về tài sản có sự định 16 hơn một phân và được quy dinh theo các quy đính pháp luật.
Luật pháp quy dinh về quyền sở hữu, quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến tai sản Hệ thống luật pháp cũng bảo vệ tai sản khỏi việc chiêm đoạt trái phép và xác định các quy tắc về việc chuyển giao, thừa kế và quản lý tài sản. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, quan niêm về tai sản vẫn chủ yêu là sự liệt kê và mô tả, chưa thé đạt đến mức độ tổng hop cao đối với toàn bô loại tai sản Theo Điều 105 của Bộ Luật Dân sư 2015: " Tai sản là vật, tiên, giây tờ có giá và quyên tài sản Tai sản bao gồm bat động sẵn và động sản Bắt đông sản và đông sản có thé là tài sẵn hiện có và tai sản hình thành trong tương lai”.