Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm về cờ bạc 1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, mặc dù nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập nhưng Chính phủ mới được thành lập đã nhận thức rõ sự nguy hiểm của các hành vi cờ bạc đối với xã hội và sự phát triển bền vững của chính quyền mới. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 - văn bản pháp luật hình sự đầu tiên được Nhà nước ta quy định về tội cờ bạc để đấu tranh, ngăn chặn những nguy hại cho xã hội và an ninh quốc phòng, sắc lệnh này giữ lại các giá trị tích cực từ luật pháp phong kiến và thực dân nhưng không mâu thuẫn và trái với các mối quan hệ của xã hội mới.
Đây cũng là những tiền đề quan trọng trong các pháp luật hình sự thực định về tội phạm cờ bạc sau này.Có thể liệt kê các quy định về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc ở nước ta được các văn bản pháp luật ghi nhận, ban hành từ năm 1948 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự 1985 bao gồm: - Sắc lệnh số 168/SL ngày 14-4-1948. - Sắc lệnh số 03/SL-76 ngày 15-3-1976. - Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 về vấn đề bài trừ nạn cờ bạc. - Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc và giải quyết một phần vướng mắc của Sắc lệnh 168/SL [34, tr22].
Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 là sắc lệnh thể hiện được đường lối xử lý cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc. - Trong Sắc lệnh 168/SL quy định các tội phạm về cờ bạc như sau + Điều 1: Hành vi đánh bạc bao gồm "Tất cả các trò chơi cờ bạc dù có tính chất may rủi hay là có dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền đều coi là tội đánh bạc " hoặc “những cuộc đánh đố nhau vì tiền, những cuộc xổ số vì tiền 6 hay bằng đồ mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước thì đều được coi là hành vi đánh cờ bạc” + Điều 2: Hành vi tổ chức đánh bạc bao gồm “Những người nào tổ chức một cuộc đánh bài, đánh bạc, một trò chơi kể trong Điều 1 không cứ ở một nơi nào”, mặc dù sắc lệnh này chưa được quy định về hành vi gá bạc nhưng có quy định đối với “Những người nào giúp người khác tổ chức những cuộc nói trên, những người chủ nhà tri tình mà để người đã đánh bài, đánh bạc trong nhà mình” không cần biết có thu lợi hay không thì vẫn bị xử lý như tòng phạm với người tổ chức đánh bạc. - Sắc lệnh 168/SL cũng quy định: “Những người giúp, người khác tổ chức những cuộc chơi nói trên, những người quản lý người làm cái, lấy hồ, những người làm công khác giúp việc trực tiếp vào cuộc chơi đều bị coi là tòng phạm của người tổ chức đánh bạc và bị phạt tù từ 2 - 5 năm tù và phạt bằng tiền từ 10.” Bên cạnh việc xác định phạm vi những đối tượng bị xử lý về hình sự Sắc lệnh 168/SL cũng quy định chế tài xử lý nghiêm khắc được áp dụng đối với người phạm tội đánh bạc: - Điều 2 của Sắc lệnh 168/SL quy định hình phạt đối với người phạm tội đánh bạc là tù từ 1 năm đến 3 năm và phạt bạc (phạt tiền) từ 5. - Ngoài ra điều luật này còn quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội là có thể áp dụng hình phạt bị quản thúc từ một năm đến năm năm, các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc, tiền nong bắt được trên bàn hay trên chiếu bạc đều bị tịch thu.
- Đồng thời tại Điều 4 của Sắc lệnh 168/SL cũng thể hiện việc áp dụng hình phạt rất nghiêm khắc đối với những người thực hiện hành vi phạm tội: “Dù rằng Tòa án có xét xử tình trạng nên giảm, cũng bắt buộc hình phạt tối thiểu về tù và tiền nói trong Điều 2 và Điều 3 trên đây. Tòa án phải phạt vừa tù và tiền mà không cho bị can hưởng án treo. Nếu có trường hợp tái phạm, các hình phạt sẽ tăng gấp đôi” [7] Sắc lệnh mặc dù chưa phân biệt rõ các hình vi cờ bạc nhưng trong quy định đã có phân hóa để xử lý đối với những đối tượng tổ chức đánh bạc và những người đánh bạc này thể hiện đường lối xử lý cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc. Sắc lệnh 168/SL lúc bấy giờ là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ cho việc phòng chống, đấu tranh các tội phạm về cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng.
7 Tuy nhiên sau gần 10 năm ban hành và áp dụng đã xuất hiện những bất cập khi tình hình xã hội thay đổi, miền Bắc bắt đầu tiến hành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa dẫn theo nảy sinh các điều kiện mới về kinh tế, văn hoá, xã hội. Trước tình hình đó, nhằm mục đích bài trừ tệ nạn cờ bạc và giải quyết một phần vướng mắc của Sắc lệnh 168/SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 về Thông tư 301/VHH-HS thể hiện quan điểm xử lý tội cờ bạc là "lấy giáo dục làm chính" và cũng hướng dẫn cho các cơ quan tư pháp đường lối giải quyết vụ án là không nhất thiết phải bắt được quả tang đánh bạc mới có thể truy tố được; Có thể chứng minh bằng bất kỳ hình thức nào để chứng minh là bị can đã đánh bạc, nhưng phải thận trọng trong trường hợp này. Có bằng chứng rõ ràng thì mới truy tố, không nên suy luận hoặc chỉ dựa vào lời khai của một vài nhân chứng (Phần B mục I). Trong thông tư đã thu hẹp đối tượng bị xử lý về tội cờ bạc, xác định chỉ truy tố đối với các đối tượng bao gồm “Bọn tổ chức, bọn chứa gá, bọn xóc cái, bọn hồ lỳ, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc” và “Bọn con bạc chuyên sống bằng nghề cờ bạc hoặc đã được cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi, coi thường pháp luật.
Các đối tượng có kèm theo đặc điểm nhân thân như trên tham gia vào tổ chức, chứa gá bạc và đánh bạc thì mới xem xét để truy tố. [40, tr23] Về quy định đường lối phân hóa trong chính sách hình phạt đối với các đối tượng phạm tội, đường lối trong Thông tư 301/VHH-HS so với đường lối xử phạt của Sắc lệnh 168/SL đã giảm nhẹ đáng kể. Trong thông tư 301/VHH-HS quy định cụ thể là: “đối với những bọn trên thì xử phạt mức tối thiểu, trường phạt phạm tội nặng mới phạt trên mức tối thiểu”. Trong điều kiện và tình hình xã hội mới, Thông tư số 2098 ngày 31/5/1957, đã vận dụng Sắc lệnh 168/SL xác định những nội dung chính sau: - Về mức hình phạt: Đường lối xử lý của Thông tư này là cần phải cân nhắc kĩ giữa truy tố và không truy tố, bởi đối với những trường hợp phạm tội nhẹ thì xử phạt bị can ở mức tối thiểu là 1 năm tù thì quá nặng, còn nếu chỉ cảnh cáo thì quá nhẹ.
Vì vậy nếu thấy cần thiết phải truy tố mà tốt cho việc giáo dục thì truy tố đề nghị Tòa án xử phạt mức tối thiểu. Nếu xét thấy không cần thiết phải truy tố thì cảnh cáo ở phòng công tố rồi tha cho bị can. Thông tư này vẫn giữ nguyên mức phạt 8 tiền theo quy định của Sắc lệnh. - Về vấn đề thu tang vật: Chỉ tịch thu số tiền trên bàn hoặc trên chiếu bạc mà không tịch thu tiền trong túi các con bạc, để tránh tình trạng lạm dụng tịch thu cả tiền không phải để dùng để đánh bạc hoặc được bạc, cũng không tịch thu đồ vật do tiền được bạc mua được.
- Tinh thần mới của Thông tư là đối với các đối tượng phạm tội cờ bạc thì không cần thiết xử phạt thêm quản thúc. Sau đó Ngày 08/01/1968, TANDTC đã có Bản tổng kết số 9/NCLP với nội dung hướng dẫn đường lối xét xử các tội cờ bạc, trong đó nêu giới hạn giới hạn giữa những hành vi cần thiết phải xử lý bằng chế tài hình sự và những hành vi không cần thiết phải xử lý bằng chế tài hình sự. Đồng thời đưa ra khái niệm về các hành vi cờ bạc là "Hành vi đánh bạc là hành vi có được thua bằng tiền mặt hay không dùng tiền mặt nhưng thanh toán với nhau bằng tiền, tuy nhiên phải có động cơ mục đích sát phạt nhau". Theo khái niệm này thì hành vi đánh bạc không cần thiết thắng thua nhiều hay không mà phải có động cơ mục đích là sát phạt nhau thì mới cần phải xử lý về hình sự vì khi đó mới thể hiện được tính chất bóc lột lẫn nhau, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đánh bạc mới thể hiện rõ nét.[44] Có thể nhận thấy rằng điểm tiến bộ quan trọng trong đường lối xét xử của bản tổng kết số 9/NCPL là chính sách phân hóa rõ rệt các đối tượng bị xử lý hình sự theo tinh thần: Mức độ xử lý nặng nhẹ căn cứ vào tính chất của hành vi và nhân thân bị cáo; hành vi tổ chức, chứa gá cờ bạc nguy hiểm hơn hành vi đánh bạc, những đám bạc to nguy hiểm hơn những đám bạc ít sát phạt nhau.
Những người chuyên sống hay gần như chuyên sống về nghề cờ bạc nguy hiểm hơn những người cờ bạc máu mê, những người cờ bạc máu mê nguy hiểm hơn những con bạc cơ hội; những phần tử xấu cần xử lý nghiêm khắc hơn những người thuộc thành phần nhân dân lao động. Tại văn bản này lần đầu tiên quy định hình thức xử phạt tù và cho hưởng án treo được quy định đối với những người phạm tội cờ bạc thuộc những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Về hình phạt này vẫn dựa trên tinh thần của Sắc lệnh 168/SL, tuy nhiên có hướng dẫn xử lý đối với hình phạt tiền, xử phạt quản chế và xử lý tang vật.