Nghiên Cứu Về Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV

Tài liệu nghiên cứu Tính triết lý và tính trữ tình trong thơ nôm thế kỷ xv, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Hồng Đức

Chuyên ngành

Thạc sĩ Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2017

96
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu tính triết lý và trữ tình trong QÂTT

1.2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu tính triết lý và trữ tình trong HĐQÂTT

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp của luận văn

2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV

2.1. Tiền đề xuất hiện thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV

2.1.1. Tiền đề lịch sử - xã hội

2.1.2. Tiền đề về văn hóa - văn học

2.1.3. Sự xuất hiện của thơ Nôm trước thế kỷ XV

2.2. Giới thuyết một số khái niệm, quan niệm

2.2.1. Khái niệm và đặc trưng của thơ Nôm Đường luật

2.2.2. Quan niệm “Tính triết lý” và “Tính trữ tình” trong thơ

2.3. Thống kê, phân loại thơ triết lý và thơ trữ tình trong TNĐL thế kỷ XV

2.3.1. Tiêu chí phân loại

2.3.2. Tài liệu khảo sát

2.3.3. Kết quả phân loại

2.4. Thống kê, phân loại thơ triết lý, giáo huấn trong THĐL thế kỷ XV thành các tiểu loại

2.4.1. Tiêu chí thống kê, phân loại

2.4.2. Tài liệu khảo sát

2.4.3. Kết quả phân loại

2.5. Thống kê, phân loại thơ trữ tình trong TNĐL thế kỷ XV thành các tiểu loại

2.5.1. Tiêu chí thống kê, phân loại

2.5.2. Tài liệu khảo sát

2.5.3. Kết quả phân loại

2.6. Tiểu kết chương 1

3. TÍNH TRIẾT LÝ, GIÁO HUẤN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỶ XV

3.1. Phân loại thơ triết lý của TNĐL thế kỷ XV theo cảm quan Nho giáo và cảm quan đạo lý dân tộc thành các tiểu loại

3.1.1. Tiêu chí phân loại

3.1.2. Kết quả phân loại

3.1.3. Triết lý, giáo huấn theo cảm quan Nho giáo

3.1.4. Triết lý, giáo huấn theo tư tưởng “Thiên mệnh”

3.1.5. Triết lý, giáo huấn theo “Tam cương - ngũ thường”

3.1.6. Triết lý, giáo huấn theo đạo “Trung dung”

3.1.7. Triết lý, giáo huấn theo tư tưởng “An bần lạc đạo”

3.1.8. Triết lý, giáo huấn theo cảm quan đạo lý truyền thống

3.1.9. Tình dân tộc, nghĩa đồng bào

3.1.10. Tình mẫu tử, nghĩa cha con

3.1.11. Tình anh em, nghĩa vợ chồng

3.2. Tiểu kết chương 2

4. TÍNH TRỮ TÌNH TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT THẾ KỶ XV

4.1. Trữ tình phong cảnh

4.2. Trữ tình công dân

4.3. Trữ tình tâm tình

4.4. Trữ tình thế sự

4.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV

Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV là một đỉnh cao của thi ca dân tộc, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam. Sự ra đời của thể thơ này mở rộng khả năng biểu đạt đời sống, con người, hướng tới những điều trần tục, riêng tư, giảm bớt tính ước lệ của thơ Đường luật. Thế kỷ XV được xem là “thế kỷ của Thơ Nôm Đường luật” với sự xuất hiện của hai tác phẩm lớn: Quốc âm thi tập (QÂTT) và Hồng Đức quốc âm thi tập (HĐQÂTT). QÂTT được xem là tác phẩm tiêu biểu của thơ Nôm trữ tình, còn HĐQÂTT là bước phát triển tiếp theo, kế thừa và mở ra hướng đi mới cho Thơ Nôm Đường luật trên cả nội dung và nghệ thuật. Nghiên cứu về Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Văn Hóa Thơ Nôm Thế Kỷ XV

Sự hình thành và phát triển của Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV gắn liền với bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa đặc biệt của thời đại. Sự trỗi dậy của ý thức dân tộc, sự phát triển của ngôn ngữ Nôm và sự giao thoa văn hóa đã tạo điều kiện cho sự ra đời của một thể thơ mang đậm bản sắc Việt. Theo tài liệu gốc, "Trong tiến trình dòng thơ tiếng Việt, thế kỷ XV đƣợc xem là ‘thế kỷ của thơ Nôm Đƣờng luật’ với sự xuất hiện của hai cột mộc lớn Quốc âm thi tập (QÂTT) và Hồng Đức quốc âm thi tập (HĐQÂTT)". Điều này khẳng định vai trò quan trọng của thế kỷ XV trong lịch sử Thơ ca Việt Nam.

1.2. Vai Trò của Quốc Âm Thi Tập và Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

Quốc Âm Thi TậpHồng Đức Quốc Âm Thi Tập là hai cột mốc quan trọng trong lịch sử Thơ Nôm Đường luật. QÂTT thể hiện đời sống cá nhân bằng tiếng nói dân tộc, còn HĐQÂTT kế thừa và phát triển theo hướng dân tộc hóa. Theo tài liệu gốc, QÂTT đƣợc xem là “đƣờng gƣơm thử thách, đƣờng gƣơm bậc thầy”, là tác phẩm tiêu biểu bậc nhất của thơ Nôm trữ tình thời trung đại, diễn tả đời sống cá nhân con ngƣời bằng tiếng nói dân tộc mình, và bằng cả những cách tân nghệ thuật có tính dân tộc.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Đặc Trưng Triết Lý và Trữ Tình

Luận văn tập trung vào hai đặc điểm nổi bật của Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV: tính triết lý và tính trữ tình. Tính triết lý thể hiện qua những suy tư về nhân sinh, đạo đức, xã hội, thường mang đậm dấu ấn của Nho giáo và đạo lý truyền thống. Tính trữ tình thể hiện qua những cảm xúc, tâm tư cá nhân, tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước. Nghiên cứu hai đặc điểm này giúp hiểu rõ hơn bản chất và giá trị của Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV, đồng thời nhận biết được những yếu tố tích cực của Nho giáo, đạo lý truyền thống và tinh hoa thời đại.

2.1. Tính Triết Lý Trong Thơ Nôm Nho Giáo và Đạo Lý Dân Tộc

Tính triết lý trong Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV thường thể hiện qua những suy tư về đạo đức, nhân sinh quan, thế sự. Các tác giả thường sử dụng thơ để truyền tải những tư tưởng Nho giáo, đồng thời lồng ghép những giá trị đạo lý truyền thống của dân tộc. Điều này tạo nên sự phong phú và đa dạng trong nội dung triết lý của Thơ Nôm.

2.2. Tính Trữ Tình Trong Thơ Nôm Cảm Xúc Cá Nhân và Tình Yêu Quê Hương

Tính trữ tình trong Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV thể hiện qua những cảm xúc, tâm tư cá nhân của các tác giả. Tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, con người là những chủ đề quen thuộc trong thơ trữ tình. Các tác giả thường sử dụng ngôn ngữ Nôm để diễn tả những cảm xúc chân thật, sâu sắc, tạo nên sự gần gũi và dễ đồng cảm với người đọc.

2.3. Mối Quan Hệ Giữa Triết Lý và Trữ Tình Trong Thơ Nôm

Tính triết lý và tính trữ tình không tách rời nhau trong Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV. Những suy tư triết lý thường được thể hiện qua những cảm xúc, tâm tư cá nhân, và ngược lại, những cảm xúc, tâm tư cá nhân thường được soi chiếu dưới ánh sáng của triết lý. Sự kết hợp hài hòa giữa triết lý và trữ tình tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Thơ Nôm.

III. Phương Pháp Phân Loại Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV

Để nghiên cứu một cách hệ thống về tính triết lý và trữ tình trong Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV, luận văn sử dụng phương pháp phân loại thơ theo các tiêu chí cụ thể. Thơ được phân loại thành thơ triết lý và thơ trữ tình, sau đó tiếp tục phân loại thành các tiểu loại dựa trên nội dung và chủ đề. Việc phân loại giúp làm rõ những đặc điểm riêng của từng loại thơ, đồng thời thấy được sự đa dạng và phong phú của Thơ Nôm.

3.1. Tiêu Chí Phân Loại Thơ Triết Lý và Thơ Trữ Tình

Tiêu chí phân loại thơ triết lý và thơ trữ tình dựa trên nội dung và mục đích của bài thơ. Thơ triết lý tập trung vào việc truyền tải những tư tưởng, quan niệm về nhân sinh, đạo đức, xã hội. Thơ trữ tình tập trung vào việc diễn tả những cảm xúc, tâm tư cá nhân. Sự phân biệt này giúp xác định rõ đặc trưng của từng loại thơ.

3.2. Phân Loại Thơ Triết Lý Theo Cảm Quan Nho Giáo và Đạo Lý

Thơ triết lý được phân loại theo cảm quan Nho giáo và đạo lý truyền thống. Thơ mang cảm quan Nho giáo thể hiện những tư tưởng, quan niệm của Nho giáo về vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn. Thơ mang cảm quan đạo lý truyền thống thể hiện những giá trị đạo đức, tình cảm của dân tộc.

3.3. Phân Loại Thơ Trữ Tình Theo Chủ Đề và Cảm Xúc

Thơ trữ tình được phân loại theo chủ đề và cảm xúc. Các chủ đề thường gặp là tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, con người, thế sự. Các cảm xúc thường gặp là vui, buồn, yêu, ghét, nhớ, thương. Việc phân loại theo chủ đề và cảm xúc giúp thấy được sự đa dạng và phong phú của thơ trữ tình.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Giá Trị Văn Học và Giáo Dục

Nghiên cứu về Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV có giá trị lớn trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam. Nhiều bài thơ Nôm đã được tuyển chọn giảng dạy trong sách giáo khoa ngữ văn ở nhiều cấp học. Nghiên cứu này cung cấp những kiến thức sâu sắc về đặc trưng, giá trị của Thơ Nôm, giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về nền văn học dân tộc. Đồng thời, nghiên cứu này cũng góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

4.1. Giá Trị Văn Học Của Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV

Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV có giá trị văn học to lớn, thể hiện qua nội dung tư tưởng sâu sắc, nghệ thuật biểu đạt độc đáo và sự đóng góp vào sự phát triển của văn học dân tộc. Thơ Nôm đã phản ánh chân thực đời sống xã hội, con người, đồng thời truyền tải những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp.

4.2. Giá Trị Giáo Dục Của Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV

Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV có giá trị giáo dục to lớn, giúp bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời giáo dục đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ. Những bài thơ Nôm chứa đựng những bài học sâu sắc về cuộc sống, về cách làm người, về trách nhiệm với xã hội.

4.3. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Văn Học Trung Đại

Nghiên cứu về Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV có thể được ứng dụng trong giảng dạy văn học trung đại ở các cấp học. Giáo viên có thể sử dụng những kiến thức, phân tích trong nghiên cứu để giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về đặc trưng, giá trị của Thơ Nôm, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.

V. Kết Luận Đóng Góp và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu về Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV đã làm rõ những đặc trưng cơ bản của thể thơ này, đặc biệt là tính triết lý và tính trữ tình. Luận văn đã phân loại thơ theo các tiêu chí cụ thể, phân tích những giá trị văn học và giáo dục của Thơ Nôm. Kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về Thơ Nôm và văn học trung đại Việt Nam. Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc so sánh Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV với các giai đoạn khác, hoặc nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của Thơ Nôm đối với văn hóa, xã hội Việt Nam.

5.1. Tóm Tắt Những Đóng Góp Chính Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã đóng góp vào việc làm rõ những đặc trưng cơ bản của Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV, đặc biệt là tính triết lý và tính trữ tình. Luận văn đã phân loại thơ theo các tiêu chí cụ thể, phân tích những giá trị văn học và giáo dục của Thơ Nôm.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Về Thơ Nôm Trong Tương Lai

Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc so sánh Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV với các giai đoạn khác, hoặc nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của Thơ Nôm đối với văn hóa, xã hội Việt Nam. Ngoài ra, có thể nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm cụ thể trong Thơ Nôm.

05/06/2025
Tính triết lý và tính trữ tình trong thơ nôm thế kỷ xv

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề chung về thơ Nôm thế kỉ XV Chương 2: Tính triết lý trong thơ Nôm thế kỷ XV Chương 3: Tính trữ tình trong thơ Nôm thế kỷ XV 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV 1. Tiền đề xuất hiện thơ Nôm Đƣờng luật thế kỷ XV 1. Tiền đề lịch sử - xã hội Nhà nƣớc phong kiến Việt Nam đến cuối thế kỷ XIV đã lâm vào một cuộc khủng hoảng lớn với sự suy vong của nhà Trần. Sự sụp đổ của vƣơng triều nhà Trần là một tất yếu hiển nhiên, bởi vì sau khi kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi, nhà Trần duy trì chế độ nô tì và chế độ thái ấp điền trang.

Tại đây, giai cấp thống trị đàn áp bóc lột nô tì một cách vô cùng tàn nhẫn khiến đời sống của những ngƣời thấp cổ bé họng ấy ngày càng khổ cực. Chính vì vậy khoảng giữa thế kỉ XIV, nô tì đã nổi dậy chống lại triều đình. Các cuộc nổ dậy này đƣợc sự ủng hộ của nông dân tự do, địa chủ không xuất thân từ quý tộc và tầng lớp nho sĩ bình dân. Triều Trần suy thoái với sự phá vỡ của chế độ đại điền trang và chế độ nô tì.

Triều Hồ thay thế (1400) đã tiến hành cuộc cải cách có tính chất định hƣớng cho tƣơng lai, nhƣng không cải thiện đƣợc tình hình xã hội. Mặt khác chính sách của Hồ Quý Ly đụng chạm tới quyền lợi tầng lớp quý tộc họ Trần nên không đƣợc ủng hộ mà còn vấp phải sự chống cự của họ và nhiều tầng lớp dân chúng. Lợi dụng tình hình đó nhà Minh (Trung Quốc) đƣa chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" tràn vào xâm lƣợc nƣớc ta (1407). Do không đƣợc nhân dân ủng hộ nên nhà Hồ nhanh chóng bị thất bại.

Ách thống trị của giặc Minh rất phản động, đổi An Nam thành Giao Chỉ, bộ máy thống trị toàn quan lại ngƣời Hán với một hệ thống pháp luật rất hà khắc và dã man. Có thể nói, chƣa bao giờ vận mệnh dân tộc lại đen tối nhƣ khi mất nƣớc cho giặc Minh, chƣa bao giờ số phận nhân dân lại đau khổ nhƣ khi bị giặc Minh thống trị. Không những chúng biến nƣớc ta thành quận huyện, không những bóc lột nhân dân ta tàn bạo, mà còn phá hoại kho tàng văn hoá của ta. 14 Nhƣ vậy, sau gần 5 thế kỉ giành và giữ gìn độc lập (938 - 1407), đến đây đất nƣớc ta lại bị phong kiến nƣớc ngoài đô hộ.

Nhƣng chỉ hai mƣơi năm sau, độc lập dân tộc đƣợc giành lại. Ngƣời anh hùng áo vải Lê Lợi và nho sĩ Nguyễn Trãi đã thay đổi vận mệnh quốc gia. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã tập hợp đƣợc quần chúng và nhân tài trong nhân dân, chiến đấu vì dân tộc, cho nên đi đến đâu cũng đƣợc nhân dân ủng hộ. Cuối cùng đã quét sạch giặc Minh ra khỏi đất nƣớc.

Cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi đã khôi phục nền độc lập dân tộc, bảo vệ nền văn hoá dân tộc, nghĩa là nó bảo vệ khối cộng đồng dân tộc của tất cả các giai cấp trong dân tộc Việt Nam: nông dân, nô tì, thợ thủ công, thƣơng nhân, địa chủ. Tuy nhiên về nguồn gốc, cũng tức là động lực cuộc khởi nghĩa, nó lại mang tính giai cấp: nhằm giải phóng nông dân. Khi triều Hậu Lê đƣợc thiết lập, dân tộc bƣớc vào thời kì phục hƣng thứ hai trong lịch sử. Thế kỉ XV chứng kiến thành tựu xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt đạt đến đỉnh cao thịnh trị.

Lê Thái Tổ tổ chức xây dựng một nhà nƣớc phong kiến trung ƣơng tập quyền, trên một cơ sở xã hội khác hẳn cơ sở xã hội đời Trần. Sự nghiệp đó tiếp tục đƣợc củng cố về mọi mặt qua các đời Thái Tông, Nhân Tông. Đến nửa sau thế kỷ XV (tính từ năm 1460, năm Lê Thánh Tông lên ngôi) nhà nƣớc phong kiến thời Hậu Lê đạt đến giai đoạn cực thịnh, là quốc gia hùng cƣờng bậc nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Sau khi lên ngôi, rút kinh nghiệm lịch sử trong xây dựng nhà nƣớc Lý - Trần - Hồ và ngay trƣớc đó của Thái Tổ, Thái Tông, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng chấm dứt tình trạng xung đột trong hoàng tộc, lập lại kỉ cƣơng quốc gia, tạo lập sự ổn định chính trị để đẩy mạnh sự nghiệp phục hƣng đất nƣớc.

Nhà vua chủ trƣơng xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền cao độ nhằm tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, hạn chế sự tham chính của tầng lớp quý tộc hoàng tộc, loại trừ khả năng lộng quyền của các triều thần ở trung ƣơng và tệ nạn tập trung quyền hành của các quan lại ở địa phƣơng. Hệ thống 15 giám sát tại triều đình cũng nhƣ hệ thống chính quyền điạ phƣơng đƣợc coi trọng. Hiệu định Hoàng triều quan chế (1474) là một cuộc cải cách hành chính có hệ thống và quy mô lớn trên phạm vi cả nƣớc nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị của nhà nƣớc phong kiến pháp quyền. Trên cơ sở bình ổn chính trị, kinh tế có điều kiện phát triển.

Lê Thánh Tông chủ trƣơng khuyến nông ức thƣơng, khai hoang lập đồn điền, mở rộng đất đai, xây dựng và quản lí đê sông, đê biển và các công trình thuỷ lợi, tìm cách bình ổn thị trƣờng. Do đó, nền sản xuất của xã hội có khả năng phát triển, tạo ra một cơ sở kinh tế xã hội mới cho sự thống nhất quốc gia và thống nhất dân tộc. Vì thế, xã hội thời Hậu Lê thời Lê Thánh Tông đƣợc đánh giá là thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử xã hội phong kiến nƣớc ta. Đó cũng chính là những tiền đề quan trọng cho sự phục hƣng văn hoá, văn học của văn học thế kỷ XV.

Đặc biệt là sự ra đời của dòng thơ tiếng Việt với các cột mốc lớn, sừng sững ở vị trí hàng đầu QÂTT và HĐQÂTT. Tiền đề về văn hóa - văn học Nền văn hoá nƣớc ta cuối thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XV có sự phát triển khá đặc thù. Nếu nhƣ nền văn hoá của nhà Trần là nền văn hoá đƣợc xây dựng trên cơ sở của hình thái kinh tế điền trang, thái ấp, của thành phần kinh tế tiểu nông, tiểu thủ công thì nền văn hoá thời đại nhà Hồ có những điểm mới đƣợc quyết định bởi cải cách của Hồ Quý Ly và cuộc khởi nghĩa chống quân Minh do Lê lợi lãnh đạo thắng lợi, đem lại độc lập cho đất nƣớc. Với ý thức cải cách xã hội, Hồ Quý Ly làm cho bộ mặt văn hoá có những thay đổi đáng kể.

Đó là việc nhà Hồ chú trọng và đề cao chữ Nôm, Hồ Quý Ly đã làm cho bộ mặt văn hoá có những thay đổi đáng kể. Nhà Hồ đã cho dịch Tứ thư, Ngũ kinh ra chữ Nôm để làm tài liệu học tập và xây dựng nền học thuật dân tộc. Đến thời Hậu Lê, văn hoá đƣợc phục hƣng, Nho học đƣợc đề cao và đƣợc chọn làm hệ tƣ tƣởng chính thống để tổ chức và phát triển xã hội phong kiến.Công cuộc phục hƣng văn hóa thời Hậu Lê đƣợc tiến hành đồng bộ qua 16 cách ứng xử với văn hóa vật chất, chú ý nâng cao văn hóa - tổ chức đời sống xã hội, đặc biệt phát triển mạnh văn hóa giáo dục. Tinh thần này đƣợc cụ thể hóa bằng những hành động cụ thể, thiết thực nhƣ chú ý mở mang trƣờng học, mở rộng quy mô đào tạo nho sĩ, ngoài mục đích để chọn nhân tài bổ sung vào bộ máy quan liêu còn nhằm tạo một tầng lớp trí thức Nho học đông đảo trong xã hội.

Trong Dụ khuyến học, Lê Thánh Tông đã cực lực ca tụng Nho giáo và mở ra con đƣờng vinh hoa phú quý cho ngƣời đi học: “Kinh là một thứ sách chép đạo lý, phải dùng sức mà giảng cứu. Sử là pho sách ghi việc làm, phải hết lòng mà suy xét, khảo phép tắc của Thánh hiền đã dựng nên để tìm cái lẽ đƣơng nhiên của sự lý. Chính lời nói không gì bằng Kinh thi, Kinh thƣ; Thi, Thƣ chăm tất đƣợc. Ra hành đạo không gì trƣớc hơn Lễ, Nhạc; Lễ, Nhạc không thể thiếu… Đem văn chƣơng tô điểm đạo vua, lấy đạo đức sinh hòa trị hóa.

Giúp dân tôn chúa, ân trạch khắp cả đƣơng thời. Dƣơng danh hiển thân, sự nghiệp ghi còn muôn thuở " [19; tr 268]. Kèm theo đó là bao nhiêu thể chế nghi thức áp dụng cho ngƣời thi đỗ nhƣ danh đề bảng vàng, tên ghi bia đá, rồi lệ xƣớng danh, ban áo mũ, đãi yến, thăm Thƣợng Uyển, bái tổ vinh quy. tất cả đều nhằm làm say mê đầu óc ngƣời nho sinh cử tử.

Trọng Nho học cũng có nghĩa trọng sự học, trọng hiền tài. Văn bia Tiến sĩ còn ghi lại những ý tứ cao siêu coi nhƣ phƣơng châm đào tạo nhân tài xây dựng đất nƣớc thời Lê Thánh Tông: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nƣớc mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nƣớc yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng Thánh đế Minh vƣơng chẳng ai không lấy việc bồi dƣỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại nhƣ thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng.

Do quan tâm đến phát triển văn hóa giáo dục nên thời ấy đã đào tạo đƣợc 500 tiến sĩ - những trí thức bậc cao của dân tộc, những danh nhân mà nhân cách và học vấn của họ đã làm rạng rỡ nền văn hiến nƣớc nhà nhƣ Lƣơng Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Ngô Sĩ Liên, Thái Thuận, Hoàng Đức Lƣơng. và hàng nghìn sinh đồ, cống sinh vô danh ở khắp đất nƣớc, góp phần 17 nâng cao mặt bằng dân trí, đƣa đất nƣớc đến phồn vinh, thịnh trị. Phan Huy Chú thời sau đã khen: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn ngƣời công bằng, đời sau càng không thể theo kịp.

chọn ngƣời cốt lấy học rộng thực tài, không hạn định ở khuôn khổ mực thƣớc. Bởi thế điển chƣơng đƣợc đầy đủ, chính trị ngày càng thịnh hƣng [30; tr 271]. Vì thế, xã hội thời Hồng Đức là một xã hội trọng đạo đức, tình nghĩa, trọng kẻ có học, ƣu đãi kẻ sĩ có văn học, khuyến khích ngƣời làm văn chƣơng. Sự thắng thế của Nho giáo đã thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và khoa cử.

Quốc tử giám và Văn miếu đƣợc trùng tu và mở rộng. Giáo dục phát triển đã hình thành đội ngũ trí thức đông đảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Thơ Nôm Đường Luật Thế Kỷ XV: Đặc Trưng và Đóng Góp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm và giá trị của thơ Nôm trong bối cảnh văn học thế kỷ XV. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và hình thức của thể thơ này, đồng thời nhấn mạnh những đóng góp của nó đối với nền văn học Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà thơ Nôm phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong thời kỳ lịch sử đặc biệt này.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi khám phá ngôn ngữ trong thơ ca kháng chiến, hay Luận văn thế giới tâm linh trong truyện thơ nôm, giúp bạn hiểu rõ hơn về các chủ đề tâm linh trong thơ Nôm. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam phép điệp ngữ trong thơ nguyễn khoa điềm cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về các biện pháp nghệ thuật trong thơ ca Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn học và ngôn ngữ trong các giai đoạn khác nhau.