Chương 1: Những vấn đề chung về thơ Nôm thế kỉ XV Chương 2: Tính triết lý trong thơ Nôm thế kỷ XV Chương 3: Tính trữ tình trong thơ Nôm thế kỷ XV 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV 1. Tiền đề xuất hiện thơ Nôm Đƣờng luật thế kỷ XV 1. Tiền đề lịch sử - xã hội Nhà nƣớc phong kiến Việt Nam đến cuối thế kỷ XIV đã lâm vào một cuộc khủng hoảng lớn với sự suy vong của nhà Trần. Sự sụp đổ của vƣơng triều nhà Trần là một tất yếu hiển nhiên, bởi vì sau khi kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi, nhà Trần duy trì chế độ nô tì và chế độ thái ấp điền trang.
Tại đây, giai cấp thống trị đàn áp bóc lột nô tì một cách vô cùng tàn nhẫn khiến đời sống của những ngƣời thấp cổ bé họng ấy ngày càng khổ cực. Chính vì vậy khoảng giữa thế kỉ XIV, nô tì đã nổi dậy chống lại triều đình. Các cuộc nổ dậy này đƣợc sự ủng hộ của nông dân tự do, địa chủ không xuất thân từ quý tộc và tầng lớp nho sĩ bình dân. Triều Trần suy thoái với sự phá vỡ của chế độ đại điền trang và chế độ nô tì.
Triều Hồ thay thế (1400) đã tiến hành cuộc cải cách có tính chất định hƣớng cho tƣơng lai, nhƣng không cải thiện đƣợc tình hình xã hội. Mặt khác chính sách của Hồ Quý Ly đụng chạm tới quyền lợi tầng lớp quý tộc họ Trần nên không đƣợc ủng hộ mà còn vấp phải sự chống cự của họ và nhiều tầng lớp dân chúng. Lợi dụng tình hình đó nhà Minh (Trung Quốc) đƣa chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" tràn vào xâm lƣợc nƣớc ta (1407). Do không đƣợc nhân dân ủng hộ nên nhà Hồ nhanh chóng bị thất bại.
Ách thống trị của giặc Minh rất phản động, đổi An Nam thành Giao Chỉ, bộ máy thống trị toàn quan lại ngƣời Hán với một hệ thống pháp luật rất hà khắc và dã man. Có thể nói, chƣa bao giờ vận mệnh dân tộc lại đen tối nhƣ khi mất nƣớc cho giặc Minh, chƣa bao giờ số phận nhân dân lại đau khổ nhƣ khi bị giặc Minh thống trị. Không những chúng biến nƣớc ta thành quận huyện, không những bóc lột nhân dân ta tàn bạo, mà còn phá hoại kho tàng văn hoá của ta. 14 Nhƣ vậy, sau gần 5 thế kỉ giành và giữ gìn độc lập (938 - 1407), đến đây đất nƣớc ta lại bị phong kiến nƣớc ngoài đô hộ.
Nhƣng chỉ hai mƣơi năm sau, độc lập dân tộc đƣợc giành lại. Ngƣời anh hùng áo vải Lê Lợi và nho sĩ Nguyễn Trãi đã thay đổi vận mệnh quốc gia. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã tập hợp đƣợc quần chúng và nhân tài trong nhân dân, chiến đấu vì dân tộc, cho nên đi đến đâu cũng đƣợc nhân dân ủng hộ. Cuối cùng đã quét sạch giặc Minh ra khỏi đất nƣớc.
Cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi đã khôi phục nền độc lập dân tộc, bảo vệ nền văn hoá dân tộc, nghĩa là nó bảo vệ khối cộng đồng dân tộc của tất cả các giai cấp trong dân tộc Việt Nam: nông dân, nô tì, thợ thủ công, thƣơng nhân, địa chủ. Tuy nhiên về nguồn gốc, cũng tức là động lực cuộc khởi nghĩa, nó lại mang tính giai cấp: nhằm giải phóng nông dân. Khi triều Hậu Lê đƣợc thiết lập, dân tộc bƣớc vào thời kì phục hƣng thứ hai trong lịch sử. Thế kỉ XV chứng kiến thành tựu xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt đạt đến đỉnh cao thịnh trị.
Lê Thái Tổ tổ chức xây dựng một nhà nƣớc phong kiến trung ƣơng tập quyền, trên một cơ sở xã hội khác hẳn cơ sở xã hội đời Trần. Sự nghiệp đó tiếp tục đƣợc củng cố về mọi mặt qua các đời Thái Tông, Nhân Tông. Đến nửa sau thế kỷ XV (tính từ năm 1460, năm Lê Thánh Tông lên ngôi) nhà nƣớc phong kiến thời Hậu Lê đạt đến giai đoạn cực thịnh, là quốc gia hùng cƣờng bậc nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Sau khi lên ngôi, rút kinh nghiệm lịch sử trong xây dựng nhà nƣớc Lý - Trần - Hồ và ngay trƣớc đó của Thái Tổ, Thái Tông, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng chấm dứt tình trạng xung đột trong hoàng tộc, lập lại kỉ cƣơng quốc gia, tạo lập sự ổn định chính trị để đẩy mạnh sự nghiệp phục hƣng đất nƣớc.
Nhà vua chủ trƣơng xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền cao độ nhằm tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, hạn chế sự tham chính của tầng lớp quý tộc hoàng tộc, loại trừ khả năng lộng quyền của các triều thần ở trung ƣơng và tệ nạn tập trung quyền hành của các quan lại ở địa phƣơng. Hệ thống 15 giám sát tại triều đình cũng nhƣ hệ thống chính quyền điạ phƣơng đƣợc coi trọng. Hiệu định Hoàng triều quan chế (1474) là một cuộc cải cách hành chính có hệ thống và quy mô lớn trên phạm vi cả nƣớc nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị của nhà nƣớc phong kiến pháp quyền. Trên cơ sở bình ổn chính trị, kinh tế có điều kiện phát triển.
Lê Thánh Tông chủ trƣơng khuyến nông ức thƣơng, khai hoang lập đồn điền, mở rộng đất đai, xây dựng và quản lí đê sông, đê biển và các công trình thuỷ lợi, tìm cách bình ổn thị trƣờng. Do đó, nền sản xuất của xã hội có khả năng phát triển, tạo ra một cơ sở kinh tế xã hội mới cho sự thống nhất quốc gia và thống nhất dân tộc. Vì thế, xã hội thời Hậu Lê thời Lê Thánh Tông đƣợc đánh giá là thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử xã hội phong kiến nƣớc ta. Đó cũng chính là những tiền đề quan trọng cho sự phục hƣng văn hoá, văn học của văn học thế kỷ XV.
Đặc biệt là sự ra đời của dòng thơ tiếng Việt với các cột mốc lớn, sừng sững ở vị trí hàng đầu QÂTT và HĐQÂTT. Tiền đề về văn hóa - văn học Nền văn hoá nƣớc ta cuối thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XV có sự phát triển khá đặc thù. Nếu nhƣ nền văn hoá của nhà Trần là nền văn hoá đƣợc xây dựng trên cơ sở của hình thái kinh tế điền trang, thái ấp, của thành phần kinh tế tiểu nông, tiểu thủ công thì nền văn hoá thời đại nhà Hồ có những điểm mới đƣợc quyết định bởi cải cách của Hồ Quý Ly và cuộc khởi nghĩa chống quân Minh do Lê lợi lãnh đạo thắng lợi, đem lại độc lập cho đất nƣớc. Với ý thức cải cách xã hội, Hồ Quý Ly làm cho bộ mặt văn hoá có những thay đổi đáng kể.
Đó là việc nhà Hồ chú trọng và đề cao chữ Nôm, Hồ Quý Ly đã làm cho bộ mặt văn hoá có những thay đổi đáng kể. Nhà Hồ đã cho dịch Tứ thư, Ngũ kinh ra chữ Nôm để làm tài liệu học tập và xây dựng nền học thuật dân tộc. Đến thời Hậu Lê, văn hoá đƣợc phục hƣng, Nho học đƣợc đề cao và đƣợc chọn làm hệ tƣ tƣởng chính thống để tổ chức và phát triển xã hội phong kiến.Công cuộc phục hƣng văn hóa thời Hậu Lê đƣợc tiến hành đồng bộ qua 16 cách ứng xử với văn hóa vật chất, chú ý nâng cao văn hóa - tổ chức đời sống xã hội, đặc biệt phát triển mạnh văn hóa giáo dục. Tinh thần này đƣợc cụ thể hóa bằng những hành động cụ thể, thiết thực nhƣ chú ý mở mang trƣờng học, mở rộng quy mô đào tạo nho sĩ, ngoài mục đích để chọn nhân tài bổ sung vào bộ máy quan liêu còn nhằm tạo một tầng lớp trí thức Nho học đông đảo trong xã hội.
Trong Dụ khuyến học, Lê Thánh Tông đã cực lực ca tụng Nho giáo và mở ra con đƣờng vinh hoa phú quý cho ngƣời đi học: “Kinh là một thứ sách chép đạo lý, phải dùng sức mà giảng cứu. Sử là pho sách ghi việc làm, phải hết lòng mà suy xét, khảo phép tắc của Thánh hiền đã dựng nên để tìm cái lẽ đƣơng nhiên của sự lý. Chính lời nói không gì bằng Kinh thi, Kinh thƣ; Thi, Thƣ chăm tất đƣợc. Ra hành đạo không gì trƣớc hơn Lễ, Nhạc; Lễ, Nhạc không thể thiếu… Đem văn chƣơng tô điểm đạo vua, lấy đạo đức sinh hòa trị hóa.
Giúp dân tôn chúa, ân trạch khắp cả đƣơng thời. Dƣơng danh hiển thân, sự nghiệp ghi còn muôn thuở " [19; tr 268]. Kèm theo đó là bao nhiêu thể chế nghi thức áp dụng cho ngƣời thi đỗ nhƣ danh đề bảng vàng, tên ghi bia đá, rồi lệ xƣớng danh, ban áo mũ, đãi yến, thăm Thƣợng Uyển, bái tổ vinh quy. tất cả đều nhằm làm say mê đầu óc ngƣời nho sinh cử tử.
Trọng Nho học cũng có nghĩa trọng sự học, trọng hiền tài. Văn bia Tiến sĩ còn ghi lại những ý tứ cao siêu coi nhƣ phƣơng châm đào tạo nhân tài xây dựng đất nƣớc thời Lê Thánh Tông: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nƣớc mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nƣớc yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng Thánh đế Minh vƣơng chẳng ai không lấy việc bồi dƣỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại nhƣ thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng.
Do quan tâm đến phát triển văn hóa giáo dục nên thời ấy đã đào tạo đƣợc 500 tiến sĩ - những trí thức bậc cao của dân tộc, những danh nhân mà nhân cách và học vấn của họ đã làm rạng rỡ nền văn hiến nƣớc nhà nhƣ Lƣơng Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Ngô Sĩ Liên, Thái Thuận, Hoàng Đức Lƣơng. và hàng nghìn sinh đồ, cống sinh vô danh ở khắp đất nƣớc, góp phần 17 nâng cao mặt bằng dân trí, đƣa đất nƣớc đến phồn vinh, thịnh trị. Phan Huy Chú thời sau đã khen: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn ngƣời công bằng, đời sau càng không thể theo kịp.
chọn ngƣời cốt lấy học rộng thực tài, không hạn định ở khuôn khổ mực thƣớc. Bởi thế điển chƣơng đƣợc đầy đủ, chính trị ngày càng thịnh hƣng [30; tr 271]. Vì thế, xã hội thời Hồng Đức là một xã hội trọng đạo đức, tình nghĩa, trọng kẻ có học, ƣu đãi kẻ sĩ có văn học, khuyến khích ngƣời làm văn chƣơng. Sự thắng thế của Nho giáo đã thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và khoa cử.
Quốc tử giám và Văn miếu đƣợc trùng tu và mở rộng. Giáo dục phát triển đã hình thành đội ngũ trí thức đông đảo.