Chương I: Một sé van đề lý luận về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự. Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kiến nghị. 11 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHIEN HOP KIEM TRA VIEC GIAO NOP, TIEP CAN, CONG KHAI CHUNG CU TRONG GIAI QUYET VU AN DAN SU’ 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên hop kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ 1. Khái niệm về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Pháp luật tố tụng dân sự không có quy định cụ thể về khái niệm phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Do đó, dé làm rõ khái niệm phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cần phải làm rõ một số thuật ngữ sau: Theo từ điển Tiếng Việt, “kiểm tra” là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét!. Về khái niệm “chứng cứ” được quy định tại Điều 93 của BLTTDS 2015, theo đó chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì có thật được đương sự hoặc cơ quan, tô chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án tiến hành thu thập theo trình tự, thu tục do BLTTDS quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án, yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật”.
Chứng cứ phải là những gì có thật, tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức của con người; chứng cứ phải được giao nộp, xuất trình, thu thập theo đúng trình tự thủ tục mà pháp luật quy định và liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vụ án dân sự mà Tòa án giải quyết. Khái niệm “giao nộp” được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt là hoạt động nộp cho cơ quan có trách nhiệm thu giữ”. Trong khoa học pháp lý về tố tụng dân sự, giao nộp chứng cứ được hiéu là “hoạ động t6 tung của các chủ thể tham gia tổ tung trong việc giúp cho Tòa án, Viện kiểm sát có thêm các chứng cứ xác thực của * Viện Ngôn ngữ học (2018), Từ điển Tiếng Liệt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.
> Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Š Viện Ngôn ngữ học (2002), Tir điển Tiếng Liệt phổ thông, Nxb. Thành phó Hồ Chi Minh, Hồ Chí Minh, tr. 12 vu việc dan su”.
Hay nói cách khác giao nộp chứng cứ là hoạt động mà đương su, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nộp cho Tòa án chứng cứ giúp Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, giao nộp chứng cứ được quy định là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của đương sự, xuất phat từ nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”. Do đó, hoạt động giao nộp chứng cứ có thể là hoạt động do đương sự chủ động tự thực hiện hoặc hoạt động theo yêu cầu của Tòa án nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thuật ngữ “tiếp cận” được diễn giải trong từ điển Tiếng Việt, có nghĩa là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một đối tượng nghiên cứu nào đó”.
Theo đó, về mặt ngữ nghĩa, có thể hiểu tiếp cận chứng cứ là quá trình các đương sự, cơ quan, tổ chức cá nhân khác được biết, tìm hiểu về chứng cứ theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tung dan sự quy định. Có thé thấy, trong các quy định của BLTTDS năm 2015 không có điều khoản nao đưa ra định nghĩa cụ thé về “tiếp cận chứng cứ”, tuy nhiên khi dé cập đến quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ thì khoản 8 Điều 70 BLTTDS năm 2015 xác định đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án tiến hành thu thập được. Như vậy, theo tinh than của pháp luật tố tung dân sự, tiếp cận chứng cứ được hiểu là một trong những quyển tố tụng của đương sự, cơ quan, tô chức, cá nhân khác có liên quan trong vụ án dân sy, cụ thé là quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án tiến hành thu thập nhằm dam bảo quyền tranh tụng của mình trong xét xử vụ án dân sự. 7 Bùi Thuận Yến (2016), Vé giao nộp chứng cứ - điểm mới theo quy định của Bộ luật Tố tung dan sự, Tap chí Quản lý Nhà nước, số 245, tr.
Š Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. ? Viện ngôn ngữ học (2018) Tir điển Tiếng Liệt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 1° Khoản 8, Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
13 Theo từ điển Tiếng Việt, “công khai” có nghĩa là không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết". Như vậy, có thé hiểu công khai chứng cứ là hoạt động công bố, cung cấp chứng cứ đến các chủ thể trong tố tụng dân sự, nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể này được biết, năm bắt được các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhằm phát huy tinh thần của BLTTDS năm 2015, dam bảo mọi chứng cứ được công bố va sử dụng công khai như nhau”, Tòa án với vai trò là cơ quan tố tụng tiếp nhận toàn bộ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án từ các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, có trách nhiệm thực hiện hoạt động công khai các tài liệu, chứng cứ này đến đương sự. Từ khái niệm của các hoạt động nêu trên, có thể thay, không co sự tach biệt giữa ba hoạt động giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, mà các hoạt động này đan xen lẫn nhau trong quá trình tố tụng.
Đối với các hoạt động giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ luôn làm phát sinh hai nhóm chủ thể: một bên là chủ thể có trách nhiệm công bố, cung cấp chứng cứ cho một bên khác cùng tham gia quan hệ bao gồm đương sự và Tòa án, đồng thời phat sinh một bên là các chủ thể có quyển tiếp cận chứng cứ bao gồm đương sự. Quá trình giao nộp chứng cứ, đồng thời phát sinh quyển tiếp cận, quyển nay lại đồng thời làm xuất hiện nghĩa vụ công khai chứng cứ, trong đó quá trình công khai bao gồm hoạt động kiểm tra lại việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ. Nói cách khác, trong quá trình tố tụng, các hoạt động giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ luân phiên là “mat xích”, nền tang cho nhau nhằm tạo điều kiện cho đương sự có thể tiếp cận chứng cứ trong vụ án, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự. Qua những luận giải nêu trên, có thê hiểu phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng trong quá trình chuẩn bị xét xử, là phiên họp giữa các đương sự, được tiến hành bởi Tham phan nhằm mục dich xem xét, đánh giá việc các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xuât trình, nộp, đưa ra các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; kiêm tra việc 1 Viên ngôn ngữ học (2018) Tir điển Tiếng Liệt, Nxb.
Hồng Đức, Hà Nội, tr. © Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Té tụng dân sự năm 2015. 14 thực hiện quyền được biết và tiếp cận chứng cứ của các đương sự theo nguyên tắc đâm bảo tranh tụng trong xét xử; kiểm tra việc công khai các tài liệu, chứng cứ của Tòa án. Phương thức này đảm bảo cho các bên được biết, nắm bắt được các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trao đổi chứng cứ, bé sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); trao đổi ý kiến và xác nhận những vấn dé đã thống nhất, chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật.
Đặc điển của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Thứ nhất, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được tiễn hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tuân theo các quy định của pháp luật. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được ghi nhận trong quy định tại chương XIII từ Điều 208 đến Điều 211 của BLTTDS năm 2015. Qua đó, có thé khang định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một hoạt động tố tụng dân sự và mang đầy đủ đặc điểm của hoạt động tổ tụng dân sự. Hoạt động này được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án dân sự và trước khi vụ án được đưa ra xét xử.
Để dam bảo quyên tiếp cận chứng cứ cũng như quyên sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, đưa ra các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thông thường khi giải quyết vụ án dân sự, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thường được tiến hành sau khi các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án đã được thu thập một cách đầy đủ và toàn diện. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được tổ chức thông qua một phiên họp tại trụ sở Tòa án, được tiến hành theo trình tự thủ tục pháp luật tổ tung dan sự quy định dé dam bảo tính trang nghiêm, công khai, minh bach của hoạt động tố tụng nói chung và để đâm bảo hiệu quả của phiên họp nói riêng. Các bên tham gia phiên họp có nghĩa vụ phải tuân thủ theo thủ tục pháp luật quy định và sự điều hành của Tham phán chủ trì phiên họp. 15 Thứ hai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là buổi làm việc được tô chức bởi bên thứ ba không thuộc quan hệ dân sự có tranh chấp, đó là Toà ám.