Chương 1 GIỚI THIỆU 2 1. Cơ sở hình thành luận văn Thoái hóa khớp (THK) là dạng viêm khớp thường gặp nhất trong các bệnh liên quan đến khớp (Lane et al. Trên thế giới, ước tính có khoảng 9,6% nam giới và 18% nữ giới ở độ tuổi trên 60 mắc các triệu chứng của THK (WHO). Ở Việt Nam, số người trên 40 tuổi bị THK chiếm tới 23,3%.
THK gây ra cho người bệnh các cơn đau từ nhẹ đến nặng ở vùng khớp, làm giảm khả năng vận động và nặng hơn có thể gây tàn phế (Cuadra et al. Theo WHO, số người bị THK gặp tình trạng hạn chế khi vận động là 80%, và 25% trong số đó không thể tự thực hiện các hoạt động chính hàng ngày trong cuộc sống. Vì vậy, THK làm cho chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm xuống, và tăng gánh nặng chi phí y tế về chăm sóc sức khỏe (Lane et al. Chẩn đoán sớm là yếu tố quan trọng để việc điều trị bệnh THK có hiệu quả.
Hiện nay để chẩn đoán THK, tiêu chuẩn vàng là dựa vào các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân kết hợp với ảnh chụp X-quang về các thay đổi của khớp (Beyer et al. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không đủ độ nhạy để có thể phát hiện được những thay đổi trong giai đoạn sớm của bệnh. Vì vậy, cần tìm ra các dấu chứng sinh học (biomarker) mới có khả năng phát hiện sớm THK, và còn có thể dùng theo dõi tiến triển của bệnh. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chứng minh sự liên quan giữa miRNA và bệnh THK (Akhtar et al., 2010, Díaz-Prado et al., 2012, Iliopoulos et al., 2008, Jones et al., 2009, Kim et al., 2010, Le et al., 2016, Miyaki et al., 2009, Miyaki et al., 2010, Nakamura et al., 2011, Tardif et al.
Đặc biệt, các nghiên cứu mới hiện nay đang nhắm đến miRNA tuần hoàn (circulating miRNA), là các miRNA hiện diện trong dịch ngoại bào của cơ thể như huyết thanh, huyết tương, dịch hoạt khớp, nước bọt và nước tiểu,… do chúng có rất nhiều ưu 3 điểm. MicroRNA tuần hoàn không bị phân hủy bởi RNAase; rất bền vững trong các điều kiện không thuận lợi như môi trường có pH thấp hoặc cao, nhiệt độ cao; thời gian trữ mẫu kéo dài (Mi et al. Đặc biệt, việc lấy mẫu miNRA tuần hoàn không cần đến các phương pháp gây xâm lấn như khi lấy mẫu miRNA trong sụn hoặc xương. Điều này tạo thuận tiện và giảm các nguy cơ do việc lấy mẫu kiểm tra chẩn đoán cho bệnh nhân.
Một vài nghiên cứu đã chứng minh tiềm năng sử dụng miRNA tuần hoàn làm dấu chứng sinh học trong lâm sàng và là công cụ hỗ trợ chẩn đoán cho nhiều bệnh ở người như ung thư phổi, ung thư đại trực tràng và tiểu đường (Guay và Regazzi, 2013, Kumar et al. Quan trọng hơn, một số nghiên cứu cũng đã cho thấy tiềm năng sử dụng trong lâm sàng của miRNA với bệnh THK (Beyer et al., 2015, Cuadra et al., 2014, Kong et al., 2017, Murata et al. Tuy nhiên, các kết quả về miRNA tuần hoàn trong bệnh THK không có sự trùng lắp giữa các nghiên cứu. Xuất phát từ tiềm năng có thể sử dụng miRNA tuần hoàn trong chẩn đoán sớm THK và hiện tại ở Việt Nam cũng chưa có bất kỳ công bố nào về khảo sát mức độ của miRNA tuần hoàn trong bệnh THK, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xác định các miRNA tuần hoàn liên quan đến thoái hóa khớp”.
Trong đó, mức độ biểu hiện của tất cả các miRNA được tìm thấy trong huyết tương người sẽ được xác định một cách có hệ thống thông qua kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing - NGS). Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các miRNA tuần hoàn có biểu hiện bất thường liên quan đến bệnh THK ở Việt Nam nhằm hỗ trợ chẩn đoán sớm bệnh. Câu hỏi nghiên cứu Xây dựng bộ dữ liệu về mức độ biểu hiện của tất cả các miRNA có trong huyết tương của người bệnh THK và người bình thường ở Việt Nam. 4 Xác định một bộ các miRNA có sự thay đổi về mức độ biểu hiện trong THK so với người bình thường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Phân tử miRNA trong máu của bệnh nhân bị chỉ định THK và người bình thường. Phạm vi nghiên cứu: 30 bệnh nhân bị bệnh thoái hóa khớp và 30 người bình thường ở Việt Nam, thu nhận ở bệnh viện Nguyễn Tri Phương, TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật NGS để xây dựng bộ dữ liệu bao quát nhất về mức độ các miRNA tuần hoàn trong máu người bệnh THK và người bình thường.
Các miRNA tuần hoàn tiêu biểu sau đó sẽ được kiểm tra lại bằng realtime PCR (RT-qPCR) để có sự tin cậy cao. Ý nghĩa nghiên cứu Kết quả của đề tài là nền tảng cơ sở để những nghiên cứu kế tiếp phát triển các phương pháp chẩn đoán sớm và phương pháp điều trị bệnh THK hiệu quả. 5 Chương 2 CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6 2. Tổng quan về thoái hóa khớp (osteoarthritis) 2.
Thoái hóa khớp là gì? THK là bệnh mãn tính về cơ xương khớp thường gặp nhất, xảy ra ở người lớn tuổi hoặc người bị các chấn thương ở khớp, do sự mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và phân hủy sụn và xương dưới sụn (Sharma et al. Đặc điểm chính của bệnh là mất sụn khớp và xương dưới sụn bị xơ cứng. Tuy nhiên, THK còn bao gồm nhiều thay đổi của hầu như tất cả các mô chính trong toàn bộ khớp như sụn, xương dưới sụn, dịch khớp, bao hoạt dịch khớp, dây chằng khớp. (Loeser et al.
Hậu quả của THK làm cho lớp sụn khớp bị phá hủy dần dẫn đến khớp bị viêm và sưng, xương dưới sụn bị xơ hóa và các gai xương được hình thành. Người mắc THK sẽ chịu các cơn đau ở vùng khớp, bị cứng khớp nên khó khăn khi vận động, giảm chất lượng cuộc sống và nếu bị nặng có thể dẫn đến tàn phế. Các khớp thường bị ảnh hưởng bởi THK bao gồm khớp gối (knee) và khớp hông (hip). Tiếp đến là các khớp trong gần và xa (distal and proximal interphalangeal), khớp cổ tay đầu tiên (first trapeziometacarpal hay carpometacarpal), khớp cổ chân đầu tiên (first metatarsophalangeal), và các khớp mặt (facet) của cột sống.
Các khớp khuỷu tay, cổ tay, vai và mắt cá chân ít bị THK hơn. Tỷ lệ bệnh thoái hóa khớp THK là bệnh phổ biến nhất trong hơn 100 loại bệnh khác nhau liên quan đến khớp hiện nay, chiếm hơn 50% (Lane et al. Theo thống kê của WHO, tỷ lệ bệnh THK chiếm khoảng 9,6% ở nam giới và 18% ở nữ giới trên 60 tuổi trong dân số thế giới (WHO). Ước tính có hơn 300 triệu người trên thế giới đang mắc THK năm 2017, trong đó THK gối chiếm 87% (James et al.
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì số người trên 40 tuổi mắc THK là 23%. Tỷ lệ mắc bệnh THK ở nữ cao hơn nhiều so với nam giới, 80% các trường hợp THK gối là ở nữ giới (Bộ Y tế, 2016). Các giai đoạn thoái hóa khớp Một trong những hệ thống phân loại phổ biến nhất được sử dụng cho THK là hệ thống phân loại của Kellgren và Lawrence. Theo đó, dựa trên hình ảnh X-quang, THK được chia thành 4 giai đoạn theo mức độ của các thay đổi trong khớp (hình 2.
Hình chụp X-quang minh họa các giai đoạn của THK Giai đoạn 1: là giai đoạn sớm của bệnh, người bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng bất thường. Trên ảnh chụp X-quang, khe khớp có độ rộng bình thường, sụn khớp không bị bào mòn, chức năng khớp hoạt động bình thường. Tuy nhiên, có thể xuất hiện gai xương nhỏ. Giai đoạn 2: ở giai đoạn này, người bệnh có một số biểu hiện như đau khi vận động mạnh hoặc liên tục và tình trạng đau giảm xuống nếu nghỉ ngơi, buổi sáng có tình trạng cứng khớp nhưng thời gian không lâu.
Trên hình chụp X-quang, gai xương bắt đầu xuất hiện rõ và khe khớp hơi hẹp nhẹ. Giai đoạn 3: người bệnh bị các cơn đau ở khớp nhiều hơn. Xuất hiện các đặc điểm bất thường ở khớp khi chụp X-quang như có nhiều gai xương với kích thước trung bình hoặc lớn, khe khớp hẹp lại rõ, vùng sụn khớp bọc ở đầu xương bị bào mòn nhiều, xương dưới sụn đặc hơn, bề mặt khớp có thể bị biến dạng. 8 Giai đoạn 4: là giai đoạn bệnh nặng và nghiêm trọng, người bệnh rất đau và vận động khó khăn.
Trên ảnh chụp X-quang thấy khe khớp rất hẹp, có gai xương với kích thước lớn, xương dưới sụn đặc và bề mặt khớp bị biến dạng rõ ràng. Triệu chứng bệnh thoái hóa khớp Đau nhức ở vị trí khớp xương bị thoái hóa là triệu chứng nổi trội nhất của THK. Triệu chứng của cơn đau khớp có thể được thành 2 dạng là đau âm ỷ liên tục hoặc đau dữ dội gián đoạn (Hawker et al. Các cơn đau do THK tiến triển chậm và âm thầm theo thời gian.
Trong giai đoạn đầu của bệnh, sự xuất hiện của cơn đau có thể được biết trước do thực hiện các hoạt động mạnh. Tuy nhiên, càng về sau thì cơn đau xuất hiện nhiều, dữ dội hơn và không thể biết trước, việc thực hiện các hoạt động hàng ngày đều có thể ảnh hưởng và dẫn đến đau (Hawker et al. Cơn đau của THK cũng thường tăng lên theo suốt cả ngày và khi hoạt động nhiều hơn. Đáng chú ý là mức độ cơn đau không phải lúc nào cũng tương đồng với mức độ THK.
Các triệu chứng khác của THK ngoài cơn đau bao gồm sưng khớp, biến dạng khớp, chuột rút, cứng khớp vào buổi sáng, và giảm phạm vi hoạt động của khớp (Abramoff và Caldera, 2020). Các triệu chứng khác như sốt, sụt cân, xét nghiệm máu bất thường thường không có ở bệnh nhân THK. Nếu có sự hiện diện của các triệu chứng này có thể là dấu diệu cho các bệnh khác như nhiễm trùng hoặc bệnh ác tính. Các triệu chứng của THK cuối cùng dẫn đến bệnh nhân bị hạn chế vận động, suy giảm khả năng thực hiện các hoạt động yêu thích và giảm chất lượng cuộc sống.
Nghiên cứu của Fautrel và cộng sự (2005) trên 10.000 bệnh nhân cho thấy 81,5% người mắc THK bị hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày; 61,5% bị hạn chế di chuyển ra khỏi nhà và 12,8% phải ở trong nhà (Abramoff và Caldera, 2020, Fautrel et al. Bệnh nhân THK cũng bị hạn chế tham gia các hoạt động khác như chơi thể thao, đi mua sắm, làm vườn, dọn dẹp nhà… hoặc bỏ lỡ nhiều công việc so với người bình thường.