Chương 1: Một số vấn đề lý luận và sự điều chỉnh của pháp luật về lao động cưỡng bức. Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành với vấn đề lao động cưỡng bức. Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức ở Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƢỠNG BỨC 1.
Khái quát chung về lao động cƣỡng bức. Khái niệm lao động cưỡng bức. Ngày 28/6/1930, tại kỳ họp thứ 14, Tổ chức Lao động quốc tế - ILO đã thông qua Công ước số 29 về LĐCB (Công ước số 29), chính thức ghi nhận khái niệm LĐCB. Theo khoản 1 Điều 2 của Công ước này, “cụm từ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc có nghĩa là mọi cô ng vi ệc hoặc dịch vụ mà m ột người bị ép buộc phả i làm du ̛ới sự đe doạ của một hình phạ t nà o đó và ba ̉n thân người đó khô ng tự nguyện là m” [23].
Từ định nghĩa trên ta thấy, bất kỳ người nào đều có thể trở thành chủ thể của LĐCB khi họ thực hiện một công việc hay một dịch vụ nhất định, bất kể họ là nam giới hay nữ giới, trẻ nhỏ hay người già; họ có thể là người có hoặc không có trình độ chuyên môn đối với công việc, dịch vụ đó… Về phạm vi, khái niệm LĐCB mà Công ước số 29 đưa ra không bó hẹp dưới dạng các hành động cụ thể là “đánh đập, nhục mạ hoặc bị ép buộc”, mà nó thể hiện dưới dạng cả đe dọa và cả hành động liên quan tới bạo lực hay hạn chế thân thể hoặc tước đoạt quyền tự do và các đặc quyền khác của người lao động. Theo Công ước số 29, đối tượng của sự đe dọa hay áp dụng các hình phạt nhằm ép buộc người lao động phải thực hiện những công việc mà họ không tự nguyện không chỉ đối với người lao động mà còn với nhân thân của họ. Về công việc sử dụng LĐCB, theo khái niệm của Công ước số 29 không chỉ bó hẹp là những việc làm hợp pháp trong hợp đồng lao động mà có thể là công việc bất hợp pháp và có thể không liên quan đến quan hệ lao động [20]. Nói cách khác, công việc hoặc dịch vụ được đề cập ở đây cần được hiểu là mọi loại hình công việc, dịch vụ bất kỳ, không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp pháp hay bất hợp pháp, chính thức hay phi chính thức… Bên cạnh đó, về ý chí của chủ thể thực hiện, ta xác định bản thân họ không tự nguyện mà bị ép buộc.
Sự ép buộc ở đây không bị bó buộc dưới các dạng hành động cụ thể, mà thể hiện dưới dạng cả đe dọa và cả hành động liên quan tới bạo lực hay hạn chế thân thể hoặc tước đoạt quyền tự do và các đặc quyền khác của người lao động. Ví dụ: sử dụng vũ lực chống lại người bị cưỡng bức lao động và thân nhân của họ; bắt, giam giữ người bị cưỡng bức lao động và thân nhân của họ; áp dụng các biện pháp trừng phạt tài chính đối với người bị cưỡng bức lao động và thân nhân của họ; sa thải hoặc phân biệt đối xử khi tuyển dụng đối với người bị cưỡng bức lao động hoặc thân nhân của người đó nếu người đó không thực hiện công việc hoặc dịch vụ được yêu cầu… Có thể coi, yếu tố ý chí của chủ thể là tiêu chí quan trọng để nhận diện một công việc, một dịch vụ có phải là LĐCB hay không. Như vậy, theo Công ước 29, một hoạt động lao động được coi là LĐCB khi thỏa mãn đồng thời các tiêu chí sau: Thứ nhất, một người thực hiện một công việc hoặc một dịch vụ cho người khác. Thứ hai, người đó không tự nguyện mà bị ép buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó.
Thứ ba, người thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó bị đe dọa (bản thân họ hoặc nhân thân của họ) sẽ phải chịu một hình phạt nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó. Bên cạnh đó, ta thấy một văn kiện nền tảng của ILO là Công ước số 105 năm 1957 quy định về xóa bỏ LĐCB cũng sử dụng một cách thống nhất định nghĩa về LĐCB theo tinh thần của Công ước số 29. Công ước này không thay đổi định nghĩa cơ bản trong pháp luật quốc tế về LĐCB mà quy định rõ những mục đích nhất định không được sử dụng lao động cưỡng bức [32]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công ước số 105 không cho phép sử dụng bất kỳ hình thức nào của LĐCB như là một biện pháp cưỡng chế, giáo dục chính trị, kỷ luật lao động hay phân biệt đối xử về chủng tộc, tôn giáo… (Điều 1 Công ước số 105).
Mọi nước thành viên của ILO phê chuẩn công ước này cam kết bãi bỏ LĐCB và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của LĐCB. Điều này thể hiện hành động mạnh mẽ và dứt khoát hơn của cộng đồng quốc tế đối với việc xóa bỏ LĐCB. Xung quanh khái niệm về LĐCB, chúng ta vẫn cần phải làm rõ thêm một số nô ̣i dung liên quan sau: Thứ nhấ t, khái niệm LĐCB và thuật ngữ c ưỡng bức lao động. Hai thuâ ̣t ngữ này không hoàn toàn giố ng nhau.
Về pha ̣m vi bao trùm, có thể nói cưỡng bức lao đô ̣ng là hành đô ̣ng còn LĐCB la ̣i là mô ̣t thực tra ̣ng , mô ̣t sự viê ̣c mà tại đó trực tiếp xâm phạm đến nhân phẩm , quyề n tự do thân thể của người lao đô ̣ng. Nhưng nhin ̀ chung thì LĐCB hay c ưỡng bức lao đô ̣ng cũng đề u là biể u hiê ̣n của sự bấ t công. Hay cu ̣ thể hơn là mô ̣t cá nhân bi ̣ép buô ̣c phải làm viê ̣c dưới sự cưỡng chế của mô ̣t cá nhân hoă ̣c mô ̣t tổ chức khác. Thứ hai, trên cơ sở luật pháp quốc tế, từ kinh ngh iệm thực tiễn của các quốc gia thì việc nhận diện về LĐCB, bên cạnh một khái niệm chung cũng cần thiết quy định cụ thể các ngoại lệ và những hình thức LĐCB bị cấm gắn với việc xác định nội hàm khái niệm chung đó.
Cả hai Công ước quốc tế của ILO đã nhằm mục đích thiết lập một định nghĩa đủ rộng để bao quát tất cả các hoạt động lao động cưỡng bức hiện diện trong các vùng lãnh thổ khác nhau của thế giới, với các hình thức đặc thù khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ yếu tố lịch sử, truyền thống, kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ lại có những hình thức LĐCB khác nhau. Điều đó dẫn đến Công ước số 29 cho phép các quốc gia thực hiện sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia, từ khái niệm cho đến các hình thức nhận diện phù hợp với thực trạng LĐCB hiện có trên lãnh thổ của họ. Pháp luật quốc gia cần phân loại 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hình thức LĐCB thực tế, có tính đến kinh tế, đặc điểm xã hội và văn hóa của bối cảnh dẫn đến hành vi này.
Chỉ có điểm chung trong nghĩa vụ của các quốc gia là mục đích đảm bảo rằng thực tế LĐCB bị trừng phạt như một hành vi phạm tội, phù hợp với Điều 25 của Công ước số 29. Chính vì vậy, nếu luật pháp quốc gia sử dụng khái niệm LĐCB hoặc bắt buộc theo Công ước số 29 sẽ quá rộng và dẫn đến việc nhận diện về LĐCB hoặc bắt buộc khó khăn hơn. Do vậy, cần phân biệt giữa LĐCB với lao động bắt buộc. “Cưỡng bức” được hiểu là “dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được” trong khi “bắt buộc” được hiểu là “buộc phải làm, phải chấp nhận”.
Như vậy, cưỡng bức và bắt buộc nếu xét về ý nghĩa ngôn từ có điểm chung là một người phải thực hiện công việc hoặc dịch dụ trong điều kiện họ không tự nguyện và mong muốn thực hiện nó. Tuy nhiên, cưỡng bức gắn với việc dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực hoặc các thủ đoạn một cách trực tiếp của con người dồn người khác vào thế phải làm, dù không muốn cũng không được. Nhưng bắt buộc thì thường áp lực là gián tiếp do ngoại cảnh, chẳng hạn một người bắt buộc phải thực hiện một công việc do điều kiện hoàn cảnh kinh tế - xã hội tại địa phương hay do khả năng và điều kiện của bản thân mà không thể có công việc khác hoặc không có sự lựa chọn nào khác tốt hơn dẫn đến họ phải thực hiện công việc. Tại Văn kiện của Hội Quốc Liên, Điều B và C và tại Điều 5 của Công ước năm 1926 về chế độ nô lệ cũng như được đề cập trong Công ước số 29 thì thuật ngữ "lao động cưỡng bức" thường gợi đến lao động bị cưỡng chế bởi các nhà chức trách hoặc tư nhân trong khi thuật ngữ "lao động bắt buộc" thường được dành riêng cho các dịch vụ có tính tập quán phục vụ mục đích công cộng địa phương nhiều hơn.
Hành vi cưỡng bức lao động ở đây chủ yếu là được thực hiện trực tiếp như trói buộc người lao động bằng các khoản nợ do người sử dụng lao động tạo ra lợi dụng hoàn cảnh đói nghèo hay sự thiếu hiểu biết của người lao động tương 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng với lao động bị cưỡng bức ở mô ̣t số quố c gia như Pakistan hay ở Mỹ. Hoặc là gắn với việc giam cầm, dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, hay đe dọa kỷ luật lao động, giữ lương, bản gốc văn bằng, chứng chỉ hoặc yêu cầu người lao động đặt cọc một khoản tiền hoặc các tài sản khác để đẩy người lao động vào hoàn cảnh không thể có cơ hội rời bỏ việc làm. Nếu trong quan hệ lao động, trường hợp một người buộc phải thực hiện một công việc do điều kiện hoàn cảnh kinh tế, xã hội tại địa phương hoặc do điều kiện bản thân của người lao động mà người lao động không thể có một sự lựa chọn nào khác thì không được coi là LĐCB.