Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Văn phòng Liên Hợp Quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC), lợi nhuận bất hợp pháp toàn cầu thu được từ khoảng 9,8 triệu người bị cưỡng bức lao động lên tới 44,3 tỷ USD mỗi năm, tương đương mức thu lợi bất chính trung bình 4.500 USD trên mỗi nạn nhân. Đáng lo ngại hơn, trong tổng số các nạn nhân bị bóc lột sức lao động trên toàn cầu, trẻ em chiếm tới 25% (tương đương 1/4) và phụ nữ chiếm khoảng 80% các trường hợp bị mua bán vì mục đích bóc lột sức lao động. Tại Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mang lại nhiều bước phát triển vượt bậc nhưng cũng làm nảy sinh các nguy cơ lao động cưỡng bức với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp. Kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vào ngày 05/3/2007, việc hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý nhằm phòng ngừa và loại trừ tình trạng này trở thành nhiệm vụ chính trị, pháp lý đặc biệt cấp thiết.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hương Quỳnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Hoài Thu tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, rà soát thực trạng áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 cùng các văn bản liên quan, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có tính khả thi cao. Phạm vi nghiên cứu bao quát các quan hệ lao động điển hình và đặc thù tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2016, trọng tâm là nhóm hành vi ép buộc người lao động, hoạt động cho thuê lại lao động và bảo vệ lao động trẻ em. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao chỉ số tuân thủ chuẩn mực quốc tế, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hơn 50 triệu người trong lực lượng lao động cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của công trình được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quyền con người phổ quát và các tiêu chuẩn lao động quốc tế cốt lõi. Cụ thể, nghiên cứu vận dụng Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc (Điều 1 và Điều 3 khẳng định mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi) cùng hệ thống chuẩn mực của ILO bao gồm Công ước số 29 năm 1930 về Lao động cưỡng bức và Công ước số 105 năm 1957 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức (văn bản đã được 174 quốc gia phê chuẩn tính đến năm 2013). Mô hình nhận diện hành vi được xây dựng dựa trên bộ 11 chỉ số đo lường chuẩn mực của ILO, bao gồm: lạm dụng hoàn cảnh khó khăn, lừa gạt, hạn chế đi lại, cách ly cô lập, bạo lực thể xác và tình dục, đe dọa dọa dẫm, giữ giấy tờ tùy thân, giữ tiền lương, trói buộc bằng nợ nần, áp bức về điều kiện sinh hoạt và bắt ép làm thêm giờ liên tục.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ 3 thuật ngữ nền tảng:

  1. Lao động cưỡng bức: Tình trạng một cá nhân bị ép buộc thực hiện công việc hoặc dịch vụ dưới sự đe dọa của một hình phạt và bản thân người đó không tự nguyện thực hiện.
  2. Cưỡng bức lao động: Hành vi trực tiếp dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn nhằm tước đoạt quyền tự do ý chí của người lao động.
  3. Lao động bắt buộc ngoại lệ: Các nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nghĩa vụ công dân thông thường hoặc nghĩa vụ lao động trong tình trạng khẩn cấp (thiên tai, dịch bệnh) được pháp luật thừa nhận.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống 89 công ước và 203 khuyến nghị của ILO, các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động 2012, các Nghị định số 45/2013/NĐ-CP, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP) và các số liệu thanh tra chuyên ngành từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Về mặt thực nghiệm, tác giả phân tích dữ liệu tổng hợp từ mẫu khảo sát gồm 500 phiếu điều tra thực tế tại các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành có nguy cơ cao như dệt may, da giày, xây dựng và chế biến thủy sản.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả khối doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp so sánh luật học (đối chiếu luật pháp Việt Nam với Đạo luật năm 1976 của Ấn Độ, Đạo luật năm 1992 của Pakistan và Bộ luật Hình sự Ba Lan) được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc chỉ rõ độ tương thích thể chế. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật lao động tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 chỉ ra 4 phát hiện chính mang tính cảnh báo:

Thứ nhất, tình trạng ép buộc làm thêm giờ và lạm dụng định mức lao động diễn ra phổ biến. Khảo sát thực tế chỉ ra 81,81% người lao động xác nhận có làm thêm giờ, trong đó 27,3% người lao động phải làm thêm vượt quá trần quy định 200 giờ mỗi năm. Đáng báo động là 22,73% người lao động khi làm thêm giờ chỉ được trả lương như giờ làm việc bình thường thay vì nhận từ 150% đến 300% đơn giá theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động 2012. Bên cạnh đó, 18% người lao động cho biết họ buộc phải làm thêm giờ vì định mức năng suất doanh nghiệp đặt ra quá cao, không thể hoàn thành trong giờ tiêu chuẩn.

Thứ hai, hành vi giữ lương và chậm trả lương kéo dài biến tướng thành công cụ khống chế người lao động. Điển hình như vụ việc tranh chấp tại Bệnh viện Đa khoa Thành An - Sài Gòn khiến gần 200 y bác sĩ đình công do bị nợ lương hơn 8 tháng sau khi phải đóng khoản tiền cam kết từ 50 đến 100 triệu đồng; hay vụ ngừng việc tập thể của hơn 1.000 công nhân Công ty TNHH Grand Gain (Bình Phước) do doanh nghiệp liên tục chậm lương và cắt giảm phụ cấp độc hại.

Thứ ba, vi phạm về giữ bản chính giấy tờ tùy thân và văn bằng chứng chỉ vẫn tồn tại ở khoảng 35% doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các ngành thâm dụng lao động, vi phạm nghiêm trọng Điều 20 Bộ luật Lao động 2012 nhằm hạn chế quyền tự do chuyển đổi nơi làm việc của người lao động.

Thứ tư, vấn đề quấy rối tình dục và bạo lực tại nơi làm việc chưa có cơ chế bảo vệ hữu hiệu. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng ILO, có tới 78,2% nạn nhân của hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc là nữ giới trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi, phần lớn rơi vào tình trạng cam chịu do sợ mất việc hoặc bị kỳ thị xã hội.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên xuất phát từ sự bất cân xứng vị thế kinh tế, tình trạng thiếu hụt kiến thức pháp luật của người lao động di cư và khung chế tài xử phạt hành chính hiện hành còn quá nhẹ so với lợi nhuận doanh nghiệp thu được. Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia như Ấn Độ quy định phạt tù tới 3 năm đối với hành vi cưỡng bức xiết nợ, hay Ba Lan áp dụng khung hình phạt từ 3 đến 10 năm tù đối với hành vi dùng vũ lực ép buộc lao động, trong khi Việt Nam chủ yếu xử lý bằng chế tài hành chính với mức phạt tiền chưa đủ sức răn đe.

Để minh họa trực quan các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được thể hiện qua 3 dạng đồ thị:

  1. Biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu vi phạm thời giờ làm việc (81,81% làm thêm giờ, 27,3% vượt trần 200 giờ và 22,73% bị chi trả sai đơn giá).
  2. Bảng ma trận đối chiếu 11 chỉ số của ILO với các điều khoản tương ứng trong Bộ luật Lao động 2012 nhằm làm nổi bật các khoảng trống thể chế.
  3. Biểu đồ cột phân nhóm nạn nhân bị xâm phạm thân thể và quấy rối tình dục theo giới tính và độ tuổi (nữ giới từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo 78,2%).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả xóa bỏ lao động cưỡng bức tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và nội luật hóa toàn diện các tiêu chuẩn ILO: Khẩn trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động nhằm luật hóa định nghĩa lao động cưỡng bức tương thích với Công ước số 29 và chuẩn bị các điều kiện phê chuẩn Công ước số 105. Cụ thể hóa toàn bộ 11 chỉ số nhận diện của ILO vào các nghị định hướng dẫn thi hành. Cơ quan chủ trì: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội; Mục tiêu đạt 100% mức độ tương thích quốc tế; Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2020.

  2. Hình sự hóa hành vi cưỡng bức lao động và nâng mức chế tài xử phạt: Bổ sung tội danh Cưỡng bức lao động vào Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù đối với các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, giữ giấy tờ tùy thân hoặc dùng thủ đoạn trói buộc nợ nần để ép buộc người khác làm việc. Đồng thời, tăng mức phạt tiền vi phạm hành chính đối với các hành vi giữ lương, giữ chứng chỉ lên gấp 5 lần (tối thiểu từ 50 đến 100 triệu đồng). Cơ quan đề xuất: Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Lộ trình hoàn thiện trước năm 2019.

  3. Tăng cường hiệu lực công tác thanh tra, giám sát lao động chuyên ngành: Gia tăng tối thiểu 30% tần suất các đợt thanh tra đột xuất tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp gia công may mặc, da giày và các cơ sở cho thuê lại lao động. Cơ quan thực hiện: Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố; Chỉ tiêu cam kết xử lý dứt điểm 95% các vụ khiếu nại về tiền lương và thời giờ làm việc trong thời hạn 30 ngày kể từ khi tiếp nhận.

  4. Mở rộng mạng lưới tuyên truyền và trợ giúp pháp lý miễn phí cho người lao động: Thiết lập đường dây nóng quốc gia 24/7 và các tổ tư vấn pháp lý lưu động tại các khu chế xuất nhằm cung cấp dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho ít nhất 100.000 lượt lao động yếu thế mỗi năm. Cơ quan phối hợp: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước; Triển khai liên tục từ năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực tiễn từ hơn 500 phiếu khảo sát và cơ sở pháp lý quốc tế từ 174 quốc gia phê chuẩn Công ước 105 để phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động và xây dựng các văn bản dưới luật về tiêu chuẩn lao động.

  2. Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và Thanh tra lao động: Cung cấp bộ công cụ 11 chỉ số nhận diện chuẩn xác của ILO để áp dụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án ép buộc lao động, giải quyết tranh chấp đình công (như vụ việc hơn 1.000 công nhân Grand Gain) hoặc xử lý các hành vi nợ lương trên 8 tháng.

  3. Người sử dụng lao động và Bộ phận Nhân sự (HR): Giúp doanh nghiệp rà soát nội quy lao động, thiết lập định mức làm thêm giờ khoa học (dưới ngưỡng 200 - 300 giờ mỗi năm theo đúng Nghị định số 45/2013/NĐ-CP), xóa bỏ các điều khoản giữ bằng cấp gốc, qua đó nâng cao uy tín thương hiệu và đáp ứng các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

  4. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Luật: Đóng vai trò là công trình nghiên cứu chuyên khảo về Luật Kinh tế và Luật Quốc tế, cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ 89 công ước ILO phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm lao động cưỡng bức theo Công ước số 29 của ILO được xác định như thế nào? Theo Khoản 1 Điều 2 Công ước số 29 năm 1930 của ILO, lao động cưỡng bức là mọi công việc hoặc dịch vụ mà một cá nhân bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của bất kỳ hình phạt nào và bản thân người đó không tự nguyện thực hiện. Định nghĩa này cấu thành từ 3 yếu tố: có hoạt động lao động, thiếu sự tự nguyện và có yếu tố đe dọa trừng phạt.

Những trường hợp nào được coi là ngoại lệ không thuộc lao động cưỡng bức? Điều 2 Công ước số 29 và Điều 107 Bộ luật Lao động 2012 quy định các ngoại lệ hợp pháp gồm: nghĩa vụ quân sự bắt buộc; nghĩa vụ công dân thông thường; lao động của người bị kết án tù dưới sự giám sát của cơ quan công quyền; và các công việc khẩn cấp huy động để cứu nạn trong hỏa hoạn, lũ lụt, dịch bệnh nhằm bảo vệ tính mạng cộng đồng.

Người sử dụng lao động giữ bản chính giấy tờ tùy thân của người lao động bị xử lý ra sao? Theo Điều 20 Bộ luật Lao động 2012 và Nghị định số 95/2013/NĐ-CP, người sử dụng lao động tuyệt đối không được giữ bản chính chứng minh nhân dân, văn bằng chứng chỉ của người lao động. Hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt tiền và buộc trả lại toàn bộ giấy tờ, do đây là một trong 11 chỉ số điển hình của hành vi cưỡng bức lao động.

Người lao động bị ép làm thêm giờ vượt quá quy định có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không? Căn cứ Điều 37 và Điều 104 Bộ luật Lao động 2012, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp nếu bị người sử dụng lao động ép buộc làm việc vượt quá 8 giờ mỗi ngày, 48 giờ mỗi tuần hoặc quá trần làm thêm 200 - 300 giờ mỗi năm mà không có sự thỏa thuận tự nguyện bằng văn bản.

Vì sao Việt Nam cần nội luật hóa đầy đủ các chỉ số lao động cưỡng bức của ILO? Việc nội luật hóa 11 chỉ số của ILO giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hơn 50 triệu lao động trong nước, đồng thời đảm bảo Việt Nam thực thi đầy đủ các cam kết lao động quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tương đồng với chuẩn mực chung của hơn 174 quốc gia trên thế giới.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về lao động cưỡng bức dựa trên Công ước số 29 và bộ 11 chỉ số nhận diện chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật lao động Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 với các con số chứng minh rõ nét: 81,81% lao động làm thêm giờ, 27,3% làm vượt trần 200 giờ và 78,2% nạn nhân bị quấy rối tại nơi làm việc là nữ giới.
  • Phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ 174 quốc gia phê chuẩn Công ước số 105 để định hình các bài học thực tiễn phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện thể chế lập pháp, hình sự hóa vi phạm, nâng cao 30% tần suất thanh tra và mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp lý.
  • Xác lập lộ trình thực thi giai đoạn 2017 - 2020 nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương Quỳnh là công trình khoa học nghiêm túc, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam. Các nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và nhà nghiên cứu hãy cùng khai thác, ứng dụng các phát hiện từ công trình này để chung tay xây dựng môi trường lao động văn minh, bình đẳng và không có lao động cưỡng bức.