Luận án tiến sĩ thực trạng kiến thức thái độ thực hành và hiệu quả can thiệp về 6 nhiệm vụ của cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại hải dương

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hiệu quả can thiệp của cộng tác viên phục hồi chức năng tại Hải Dương, tập trung vào 6 nhiệm vụ chính.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Phục hồi chức năng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

240
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

1.1.1. Người khuyết tật

1.1.2. Khái niệm khuyết tật

1.1.3. Phân loại khuyết tật

1.1.4. Tình hình khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Kiến thức và Thái độ Cộng tác viên Phục hồi Chức năng

Nghiên cứu về kiến thức phục hồi chức năngthái độ cộng tác viên tại Hải Dương là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Cộng tác viên phục hồi chức năng đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ người khuyết tật, giúp họ hòa nhập vào cộng đồng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của họ.

1.1. Ảnh hưởng của Kiến thức đến Thái độ Cộng tác viên

Kiến thức của cộng tác viên về phục hồi chức năng có tác động lớn đến thái độ và hành vi của họ trong công việc. Nghiên cứu cho thấy rằng những cộng tác viên có kiến thức vững vàng thường có thái độ tích cực hơn đối với người khuyết tật.

1.2. Tầm quan trọng của Thái độ trong Hoạt động Phục hồi Chức năng

Thái độ của cộng tác viên không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mà còn đến sự tham gia của người khuyết tật trong các hoạt động phục hồi. Một thái độ tích cực có thể khuyến khích người khuyết tật tham gia nhiều hơn vào các chương trình phục hồi chức năng.

II. Vấn đề và Thách thức trong Nghiên cứu Cộng tác viên Phục hồi Chức năng

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao kiến thức phục hồi chức năng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu tài liệu, sự không đồng đều trong đào tạo và sự thiếu hụt nguồn lực là những yếu tố cản trở sự phát triển của cộng tác viên.

2.1. Thiếu Tài liệu và Đào tạo Chuyên sâu

Nhiều cộng tác viên không được tiếp cận với tài liệu đào tạo đầy đủ và cập nhật. Điều này dẫn đến việc họ không nắm vững các phương pháp phục hồi chức năng hiện đại.

2.2. Sự Không Đồng Đều trong Nguồn Lực Hỗ Trợ

Sự phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các khu vực cũng là một thách thức lớn. Các cộng tác viên ở vùng sâu, vùng xa thường gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các chương trình hỗ trợ.

III. Phương pháp Nghiên cứu và Giải pháp Nâng cao Kiến thức

Để nâng cao kiến thức phục hồi chức năng cho cộng tác viên, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiệu quả. Việc tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo là cần thiết để cập nhật kiến thức cho cộng tác viên.

3.1. Tổ chức Khóa Đào tạo Chuyên sâu

Các khóa đào tạo chuyên sâu về phục hồi chức năng sẽ giúp cộng tác viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình.

3.2. Sử dụng Công nghệ trong Đào tạo

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong đào tạo có thể giúp cộng tác viên dễ dàng tiếp cận tài liệu và thông tin mới nhất về phục hồi chức năng.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu tại Hải Dương

Nghiên cứu tại Hải Dương đã chỉ ra rằng việc nâng cao kiến thức và thái độ của cộng tác viên có thể cải thiện đáng kể hiệu quả phục hồi chức năng cho người khuyết tật. Các kết quả cho thấy sự thay đổi tích cực trong thái độ và hành vi của cộng tác viên sau khi tham gia các chương trình đào tạo.

4.1. Kết quả Can thiệp về Kiến thức

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sau khi tham gia các khóa đào tạo, kiến thức của cộng tác viên về phục hồi chức năng đã được cải thiện rõ rệt.

4.2. Tác động đến Thái độ và Hành vi

Sự thay đổi trong thái độ của cộng tác viên đã dẫn đến việc họ tích cực hơn trong việc hỗ trợ người khuyết tật, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ phục hồi chức năng.

V. Kết luận và Tương lai của Nghiên cứu Cộng tác viên Phục hồi Chức năng

Nghiên cứu về kiến thức và thái độ của cộng tác viên phục hồi chức năng tại Hải Dương đã chỉ ra rằng việc nâng cao kiến thức là rất cần thiết. Tương lai của chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng phụ thuộc vào sự phát triển của đội ngũ cộng tác viên.

5.1. Đề xuất Nâng cao Chất lượng Đào tạo

Cần có các chương trình đào tạo liên tục để đảm bảo cộng tác viên luôn được cập nhật kiến thức mới nhất về phục hồi chức năng.

5.2. Tăng cường Hợp tác giữa Các Tổ chức

Việc tăng cường hợp tác giữa các tổ chức y tế và giáo dục sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ cho cộng tác viên trong công việc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng kiến thức thái độ thực hành và hiệu quả can thiệp về 6 nhiệm vụ của cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1. Người khuyết tật 1. Khái niệm khuyết tật Người khuyết tật là người do khiếm khuyết hoặc các điều kiện/tình trạng sức khoẻ mà bị giảm chức năng (hoạt động) và /hoặc hạn chế sự tham gia trong các mặt sinh hoạt, lao động, học tập, đời sống xã hội [11] Khuyết tật là những thuật ngữ chung cho các khiếm khuyết, hạn chế hoạt động và hạn chế sự tham gia, đề cập đến những khía cạnh tiêu cực của sự tương tác giữa cá nhân (với điều kiện sức khỏe) và các yếu tố ngữ cảnh của cá nhân đó (về môi trường và các yếu tố cá nhân) [12].

Phân loại khuyết tật [7],[13][14][15] Có nhiều cách phân loại khuyết tật, nhưng nhìn chung những cách phân chia này chỉ là tương đối. - Phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới: Trong chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Việt Nam theo Phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới gồm 7 nhóm khuyết tật khác nhau: - Khuyết tật về vận động - Khuyết tật về nhìn - Khuyết tật về nghe hoặc nói hoặc nghe và nói kết hợp - Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra hoặc giảm vị giác, khứu giác do các nguyên nhân khác nhau) - Khuyết tật về nhận thức - Rối loạn hành vi, tâm thần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Các dạng khuyết tật khác, không thuộc các nhóm trên như khuyết tật do tình trạng bệnh mãn tính ở các cơ quan nội tạng như suy tim, suy thận, suy hô hấp. - Luật Người khuyết tật phân loại theo Dạng tật và mức độ khuyết tật [16] + Dạng tật bao gồm: a) Khuyết tật vận động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; đ) Khuyết tật trí tuệ; e) Khuyết tật khác. - Phân loại theo Mức độ khuyết tật: + Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; + Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; + Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai nhóm trên.

Tình hình khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình khuyết tật trên thế giới Theo báo cáo của WHO 2014 [1]: thế giới có hơn 1000 triệu người khuyết tật chiếm khoảng 15% của dân số toàn cầu. Sự phổ biến của tình trạng khuyết tật đang tăng vì dân số già và sự gia tăng bệnh mãn tính, NKT ở các nước có thu nhập thấp cao hơn so với các nước có thu nhập cao. Khuyết tật ảnh hưởng nhiều phụ nữ, người già và người nghèo.

Người khuyết tật phải đối mặt với những rào cản khi tiếp cận với các dịch vụ, sức khỏe yếu, trình độ học vấn thấp, tham gia làm kinh tế ít hơn và tỷ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lệ nghèo đói cao hơn so người không bị khuyết tật. Theo báo cáo của WHO: nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe và cung cấp các kỹ năng chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe phải tăng gấp đôi, trong khi đó NKT bị từ chối chăm sóc y tế tăng gần gấp 3 lần và NKT bị đối xử tồi tệ tăng gần bốn lần [17]. Tình hình khuyết tật ở Việt Nam Việt Nam là nước trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, nền kinh tế đang phát triển, điều kiện chăm sóc sức khoẻ còn hạn chế. Bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều quan niệm sai lầm về khuyết tật ở cộng đồng.

Đó là những nguyên nhân quan trọng khiến cho tỷ lệ khuyết tật ở Việt Nam khá cao [18] Theo các thống kê của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009 có 6,1 triệu người khuyết tật, tương ứng với 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên. Những người có khó khăn trong việc thực hiện ít nhất một trong bốn chức năng nhìn, nghe, vận động và tập trung hoặc ghi nhớ được coi là người khuyết tật (NKT). Tỷ lệ NKT theo bốn dạng khuyết tật: các vấn đề về thị giác là phổ biến nhất, tiếp theo là chức năng vận động và tập trung hoặc ghi nhớ. Tỷ lệ khuyết tật ở phụ nữ cao hơn một chút so với nam giới ở tất cả các chức năng và các mức độ khó khăn.

Tỷ lệ người khuyết tật trong dân số nữ từ 5 tuổi trở lên là 8,4% và tỷ lệ này ở nhóm nam giới là 7,0% [19]. Người khuyết tật sống phụ thuộc vào sự hỗ trợ của gia đình nhưng lại gặp khó khăn trong hôn nhân. Sống độc thân hoặc sống trong hộ gia đình quy mô nhỏ khá phổ biến trong nhóm người trưởng thành khuyết tật so với người trưởng thành không khuyết tật. NKT có nhu cầu song lại ít nhận được sự hỗ trợ và chăm sóc trong gia đình nên những khó khăn và bất lợi mà họ gặp phải càng tăng lên gấp bội.

Tỷ lệ NKT ‘chưa bao giờ kết hôn’, góa bụa, ly hôn/ly thân cao hơn so với người không khuyết tật ở tất cả các nhóm tuổi trưởng thành [19]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Người khuyết tật chịu nhiều thiệt thòi trong giáo dục: Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009 cho thấy hai trong số các chỉ số giáo dục chủ yếu, bao gồm tỷ lệ biết đọc, biết viết và tỷ lệ đi học ở NKT thấp hơn so với người không khuyết tật. Tỷ lệ biết đọc, biết viết ở NKT trưởng thành (76,3%) thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này ở người không khuyết tật trưởng thành (95,2%). Giữa phụ nữ và nam giới cũng có sự chênh lệch về tỷ lệ biết đọc, biết viết.

Tỷ số biết đọc, biết viết giữa nam và nữ trong nhóm thanh thiếu niên khuyết tật là 0,8 và trong nhóm thanh thiếu niên khuyết tật nặng là 0,6. Người khuyết tật gặp khó khăn khi tham gia lực lượng lao động NKT ở cả thành thị và nông thôn có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn người không khuyết tật. Mức độ khuyết tật càng nặng thì tỷ lệ tham gia lực lượng lao động càng thấp và vì thế tỷ lệ thất nghiệp càng cao [19]. Điều kiện sống và mức sống của NKT khó khăn hơn đôi chút so với người không khuyết tật, mức sống hộ gia đình của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật.

Do hạn chế về kiến thức y học thông thường tại cộng đồng và chưa có một hệ thống phát hiện khuyết tật đầy đủ nên những NKT thường được phát hiện khi đã muộn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho khả năng phục hồi của NKT bị hạn chế. Nhận thức về khuyết tật của cộng đồng, nhìn chung vẫn còn chưa đúng, năng lực, trình độ của NKT còn chưa được đánh giá hết, hậu quả là NKT vẫn còn bị hạn chế trong việc tham gia các công việc gia đình và các hoạt động xã hội như thể thao, văn hoá, lễ hội, đi học. hay tham gia các tổ chức đoàn thể, chính quyền.

NKT, mặc dù là một bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng nhưng họ vẫn là những người yếm thế trong xã hội [11],[13],[15]. NKT vẫn gặp nhiều khó khăn cả về kinh tế và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NKT, đặc biệt là người khuyết tật nặng rất dễ bị tổn thương trên hầu hết mọi mặt của cuộc sống, nhất là về giáo dục, sự tham gia vào lực lượng lao động, việc làm và hôn nhân [20] Trong những năm qua, Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ hơn hỗ trợ NKT thông qua việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia hỗ trợ NKT giai đoạn 2006 -2010 của Chính phủ và thể hiện ở việc Chính phủ tham gia ký Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (Convention on the Right of Person with Disabilities - CRPD) năm 2007 và gần đây là việc Quốc hội ban hành Luật Người khuyết tật có hiệu lực từ 01/1/2011[16]. Do đó, họ cần được Chính phủ hỗ trợ đáng kể về mặt xã hội [19].

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 1. Định nghĩa Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) được Tổ chức Y tế Thế giới khởi xướng dựa trên Tuyên bố Alma-Ata năm 1978 [4]. Chương trình được đẩy mạnh như một chiến lược để cải thiện sự tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật ở các nước có thu nhập thấp và trung bình bằng sử dụng tối đa các nguồn lực địa phương. Thông qua sự nỗ lực hợp tác của các tổ chức Liên Hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của người khuyết tật, PHCNDVCĐ đã mở ra một chiến lược đa ngành để giải quyết nhu cầu đa dạng hơn của người khuyết tật (NKT), đảm bảo sự tham gia và hòa nhập trong xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của NKT [21],[22].

Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên đoàn Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thống nhất định nghĩa về Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: “PHCNDVCĐ là một chiến lược phát triển của cộng đồng nhằm giúp cho người lớn và trẻ em khuyết tật tiếp cận được các dịch vụ về PHCN, bình đẳng về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cơ hội và hoà nhập xã hội. PHCNDVCĐ được thực hiện nhờ vào những nỗ lực tổng hợp của bản thân NKT, gia đình NKT, cộng đồng, và các dịch vụ thích hợp về y tế, giáo dục, việc làm và xã hội. Các chương trình PHCN DVCĐ được đẩy mạnh như một chiến lược để cải thiện sự tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật ở các nước có thu nhập thấp và trung bình bằng sử dụng tối đa các nguồn lực địa phương. Trong những năm qua, thông qua sự nỗ lực hợp tác của các tổ chức khác của Liên Hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của người khuyết tật, PHCNDVCĐ đã mở ra một chiến lược đa ngành để giải quyết nhu cầu đa dạng hơn của người khuyết tật (NKT), đảm bảo sự tham gia và hòa nhập trong xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của NKT [24],[25].

Mục tiêu của chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [23],[26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ