Chương 1. Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu Chương 2. Quá trình kiến tạo không gian Phố đi bộ Hồ Gươm Chương 3. Quá trình quản lý Khu phố đi bộ Hồ Gươm Chương 4.
Việc sử dụng không gian Phố đi bộ Hồ Gươm của các cá nhân và tổ chức 10 CHUONG 1. TONG QUAN TÀI LIEU, CƠ SỞ LÝ THUYET VA DIA BAN NGHIEN CUU 1. Tổng quan tài liệu 1. Các nghiên cứu về không gian Không gian là một khái niệm vô cùng trừu tượng và đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học như vũ trụ học, toán học, vật lý, triết học.
Đối với riêng lĩnh vực khoa học xã hội — nhân văn, không gian vừa có vai trò như một khái niệm công cụ quen thuộc, vừa trở thành một cách tiếp cận lý thú dé phân tích nhiều van dé trong xã hội. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về không gian nên rất khó dé đưa ra một định nghĩa chung. Thay vào đó, các học giả thường chú trọng vào việc phân loại và xác định các phạm trù khác nhau của không gian như: không gian công - không gian tư, không gian thiêng, không gian văn hóa. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về không gian công ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng.
Các sản phẩm nghiên cứu này thường tập trung vào 3 khía cạnh: Một là khảo tả quá trình kiến tạo một số không gian công cụ thể ở Việt Nam; Hai là khái quát chung về thực tiễn sử dụng không gian công, Ba là tập trung sâu vào các hình thức tương tác trong việc sử dụng những loại hình không gian công đó. Ở khía cạnh phân tích thứ nhất, các công trình thường chỉ nhìn nhận việc kiến tạo từ bề nổi — tức là những gi có thé dé dang quan sát được băng mắt thường. Trong đó, cả công trình của Nguyen Thanh Binh và của Đinh Anh Tuấn đều chỉ chú trọng đến việc kiến tạo, tổ chức và quản lý không gian từ góc độ kiến trúc. Trong khi Nguyen Thanh Binh quan tâm tới việc kiến tạo một số không gian công cộng ở Hải Phòng [Nguyen Thanh Binh 2011] thì Đinh Anh Tuấn tập trung vào việc kiến tạo không gian văn hóa công cộng ở các khu chung cư mới của Thành phó Hồ Chí Minh [Đinh Anh Tuan 2015].
Tương tự như Dinh Anh Tuan, Nguyễn Hong Giang cũng hướng sự quan tâm của mình đến việc tổ chức không gian sinh hoạt chung của một khu đô thị mới ở Hà Nội, song tiếp cận từ góc độ xã hội học — thông qua việc ghi nhận những ý kiến của các dân cư [Nguyễn Hồng Giang 2009]. 11 Đối với khía cạnh phân tích thứ hai, nổi bật trong đó là các công trình của Lisa Drummond (2000), Mandy Thomas (2002) va Sandra Kiirten (2008). Khi phan tích về thực tiễn sử dụng không gian ở các đô thị Việt Nam, Lisa Drummond đã cho thay hai phạm trù không gian công — không gian tư tai đây trái ngược han với quan niệm của xã hội phương Tây. Cụ thé, không gian công có xu hướng “hướng vào bên trong” (outside — in) với các hoạt động chiếm dụng không gian chung cho các mục đích cá nhân, còn không gian tư có xu hướng “hướng ra bên ngoài” (inside — out) vi các hoạt động riêng tư đáng lẽ chỉ diễn ra trong gia đình thì lại được người dân thực hiện tại không gian công cộng.
Không chỉ vậy, những tình trạng này còn hàm ý sự kiểm soát của nhà nước: không gian công thuộc sở hữu của nhà nước nhưng nhà nước lại không thé giải quyết triệt dé các hoạt động “biến công thành tư”, trong khi không gian tư là không gian thuộc về cá nhân, gia đình thì lại bị nhà nước vươn tay tác động đến. Bên cạnh đó, khi quan sát các không gian công ở Hà Nội, Drummond cũng nhận thấy rằng, mặc dù sự chiếm dụng loại hình không gian này cho những mục đích cá nhân đến từ cả những cư dân đô thị và những người dân di cư nông thôn — đô thị, song chính phủ Việt Nam dường như chỉ nỗ lực kiểm soát các hoạt động lan chiếm của những người di cư — những hoạt động dễ nhìn thấy và bị coi là “lạc hậu” đối với một đô thị đang cố gang tạo dựng hình ảnh “hiện đại” như Hà Nội [Drummond 2000, tr 2382 - 2387]. Trong khi đó, Mandy Thomas lại tập trung vào mối tương quan giữa cách thức sử dụng không gian công cộng ở đô thị Hà Nội với sự biến đổi chính trị của Việt Nam kế từ khi Đổi mới. Theo tác giả, không gian công cộng ở Hà Nội ké từ khi Đổi mới đã trở nên nhộn nhịp hơn so với cảnh quan đường phố yên tĩnh trong thời kỳ kinh tế tập trung trước đây, biểu hiện bằng những mục đích sử dụng hết sức đa dang: vui chơi, giải trí, ky niệm và thậm chi là cả các hành động phản kháng đối với các dự án phát triển và quy hoạch đô thị.
Đặc biệt, các hành động phan kháng đã cho thấy sự mat kiểm soát của nhà nước trong việc quan lý không gian công cộng — không gian do chính nhà nước kiến tạo và nắm quyền sở hữu, đồng thời cũng đánh dấu sự xuất hiện của xã hội dân sự ở Việt Nam đương đại [Thomas 2002]. Tương tự Thomas, Sandra Kũrten cũng hướng sự chú ý của mình vào sự biên đôi của không gian công cộng ở Hà Nội, song tác giả lại chú 12 trọng hơn vào việc phân tích những mối quan hệ quyền lực giữa hai chủ thể là nhà nước và xã hội thông qua việc kiến tạo và sử dụng không gian công cộng ở đô thị này. Cụ thể, tác giả đã đưa ra quan điểm rằng không gian công cộng ở Hà Nội là những không gian của sự thương lượng bởi đó là những cảnh quan mang tính quyền lực, thé hiện sự chi phối ý thức hệ do nhà nước tạo ra, song đó cũng là những nơi mà các công dân chọn để tiến hành các cuộc phan kháng (liên quan đến các dự án phát triển) như những hành động dé thách thức nhà nước [Kiirten 2008]. Trong khía cạnh phân tích thứ ba, đáng chú ý là công trình của Noelani Eidse và cộng sự (2008) và cua Stephanie Geertman với cộng sự (2016).
Những tương tac mà cả hai công trình này tập trung vào chủ yếu là hành động lấn chiếm và tranh chấp không gian của người dân, trong đó ít nhiều nhắc đến sự kiểm soát của các lực lượng chức năng trong thực thể Nhà nước. Khi phân tích về vấn đề bán hàng rong của những người di cư tại Hà Nội, Eidse Noelani cùng những cộng sự đã cho thấy những hành động mang tính chính trị hàng ngày của những người bán hàng, được thể hiện qua những chiến lược sinh kế khác nhau để đối phó với lực lượng công an phường và với những người bán hàng cố định tại dia bàn [Eidse, Turner và Oswin 2016]. Stephanie Geertman và cộng sự thì lại tập trung bàn luận về vấn đề chiếm đoạt không gian công cộng đề chơi những môn thé thao đường phố của một bộ phận thanh niên ở Hà Nội. Trượt ván (skateboarding) và nhào lộn trên những địa hình không bằng phăng (parkour) là hai bộ môn gắn bó mật thiết với không gian công cộng, chúng đòi hỏi người chơi phải có một không gian với độ rộng nhất định thì mới có thé thực hành.
Tuy vậy, với tình trạng không gian công cộng đang ngày càng bị thu hẹp một cách nhanh chóng, những thanh niên đam mê 2 bộ môn này không những phải đối mặt với việc cạnh tranh lẫn nhau, mà còn phải lo ngại trước một số hành động kiểm soát của lực lượng an ninh và những cư dân sinh sống tại khu vực công cộng đó [Geertman et al. Không gian thiêng cũng là một phạm trù không thể thiếu trong các nghiên cứu về không gian ở Việt Nam. Phạm Quỳnh Phương cho rằng không gian thiêng không chỉ là nơi chứa đựng các vật thể và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, mà đó còn là những nơi chốn được con người gắn những “tính thiêng” vào [Phạm Quỳnh 13 Phương 2010], còn Đỗ Quang Hưng thì định nghĩa rằng đó là nơi mà có sự lồng ghép của “không gian tâm linh” vào “không gian xã hội bình thường” vốn có [Đỗ Quang Hưng 2010]. Khi phân tích về không gian thiêng của Thăng Long — Ha Nội, Đỗ Quang Hưng đã trình bày cấu trúc của nó với ba vòng chặt chẽ: vòng ngoài là vùng không gian ven sông Hồng (hay vùng ngoại thành), vòng giữa là cấu trúc “Thăng Long tứ tran” và vòng trong là “vòng xoáy tâm linh” của Khu phố cổ và Hoàng thành Thăng Long.
Tác giả cũng nhận định răng đặc điểm của không gian thiêng Thăng Long — Hà Nội là không có sự tách biệt tuyệt đối giữa “không gian tôn giáo” và “không gian xã hội”, vì thế nghiên cứu về “không gian tâm linh — tôn giáo — tín ngưỡng” của Thăng Long — Hà Nội sẽ khiến chúng ta hiểu rõ bối cảnh sông cũng như vẻ đẹp của người Tràng An. Lê Việt Liên cũng nghiên cứu về không gian thiêng Hà Nội nhưng lại quan tâm nhiều đến việc tái tạo loại hình không gian này trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra ở Hà Nội. Cụ thẻ, tác giả mô tả việc xây dựng lại miếu thờ Linh Lang Đại Vương trong khu đô thị Đặng Xá - huyện Gia Lâm trên nền đất cũ thuộc thôn Kim Âu (xã Đặng Xá) đã diễn ra như thế nào, sau đó đưa ra nhận định về mối liên kết giữa tính nông thôn và thành thị trong đời sống của một bộ phận cư dân tại Hà Nội đương đại [Lê Việt Liên 2018]. Không gian văn hóa là một phạm trù cũng trừu tượng như khái niệm “không gian” vậy, do đó, trong những nghiên cứu về phạm trù này, các tác giả thường bỏ qua việc định nghĩa về khái niệm.
Khi nhìn nhận Hà Nội như một “không gian lịch sử - văn hóa”, Vũ Văn Quân đã gợi ý cách phân chia thành các “lớp Hà Nội” để phân tích. Thông qua việc xem xét về lich sử của các lớp như: lớp “Hà Nội — Thăng Long”, lớp “Hà Nội - địa phương” và lớp “Hà Nội — vùng”, tác giả đã cho thấy rang văn hóa đặc trưng của một vùng được hình thành dựa trên quá trình lịch sử lâu dài. Do đó, văn hóa của lớp có bề dày lịch sử nhất (lớp Hà Nội — Thăng Long) sẽ trở thành văn hóa đặc trưng của Hà Nội, đóng vai trò trung tâm và lan tỏa ra các vùng xung quanh [Vũ Văn Quân 2008].