CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP DO CƠ QUAN THUẾ THỰC HIỆN 1. THUẾ TNDN VÀ KIỂM SOÁT THUẾ TNDN 1. Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao, khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp, thuế TNDN còn có một số đặc điểm riêng. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Theo nghĩa thông thường, thuế TNDN được hiểu là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của một tổ chức, một pháp nhân.
Tuy nhiên, trên phương diện luật pháp, loại thuế này cũng có thể được sử dụng để mở rộng diện điều chỉnh đối với thu nhập của những cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh, hợp tác xã, các hình thức hợp danh, liên kết tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của Nhà nước. Trên thế giới, loại thuế này có những tên gọi khác nhau, tuỳ theo quan niệm hoặc quy định pháp luật của mỗi nước, nhiều khi trong các tài liệu khác nhau cũng có tên gọi không giống nhau do việc sử dụng các thuật ngữ qua dịch thuật. Theo đó, thuế TNDN còn được gọi là thuế công ty (corporation tax); thuế thu nhập công ty (corporation income tax); thuế lợi tức (profit tax) hoặc thuế lợi tức công ty (corporation profit tax). Nhiều ý kiến cho rằng “thu nhập doanh nghiệp” được sử dụng nhiều hơn, phổ biến hơn, thực dụng hơn và khi sử dụng nó sẽ dễ đánh thuế hơn so với sử dụng phạm trù “lợi tức”.
Về kỹ thuật lập pháp, các nước trên thế giới cũng có những cách thức không giống nhau trong việc ban hành các đạo luật thuế đánh vào thu nhập của pháp nhân. Có nước ban hành luật thuế TNDN (Việt Luan van 7 Nam là một thí dụ), cũng có nước ban hành đạo luật thuế thu nhập chung, trong đó có các chương, mục quy định về thuế TNDN. Ở Việt Nam, phạm trù “thu nhập doanh nghiệp” được biết đến kể từ khi triển khai công tác nghiên cứu và ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997, thi hành từ 1999 để thay thế cho Luật thuế lợi tức trước đây. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, trực tiếp điều chỉnh vào thu nhập của các tổ chức, thời gian đầu (1999 đến 2008) Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn áp dụng đối với cả thu nhập của cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, từ năm 2009 thu nhập của cá nhân, hộ gia đình được điều chỉnh theo Luật thuế thu nhập cá nhân.vn › Bộ tài chính › tài liệu thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề năm 2012, Quyển 1, chuyên đề 3 [8, tr 267]).
Theo nội dung của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 được Quốc hội Khoá XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 thì “Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế”. Từ khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp có thể thấy rằng các nội dung cơ bản cấu thành của thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thuế suất áp dụng. Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định theo công thức sau: Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất b. Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao (được điều chỉnh bởi các Luật thuế và pháp luật có liên quan), là khoản đóng góp bắt buộc không mang tính hoàn trả trực tiếp và tính chi tiêu cho lợi ích công cộng thì thuế thu nhập doanh nghiệp còn có một số đặc điểm riêng.
Luan van 8 - Đặc điểm của thuế trực thu là tính chất luỹ tiến do việc đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp, tuy nhiên thuế thu nhập doanh nghiệp thường không sử dụng thuế suất luỹ tiến mà sử dụng thuế suất đồng nhất. Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách. - Thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doanh và thường được coi như là một loại thuế đánh vào vốn (tư bản), bởi vốn của một tổ chức được hình thành từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân sở hữu nó. Trên giác độ kinh tế, thuế thu nhập doanh nghiệp được xem như một loại thuế “thu trước” hoặc “thu gộp” của thuế thu nhập cá nhân.
Thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, các chính phủ có thể giảm bớt được chi phí quản lý thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thu thuế thu nhập cá nhân. - Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế, tức là không có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế. - Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Đặc biệt, các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của nhiều nước.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh Luan van 9 nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn sẽ phải nộp thuế ít, thậm chí được giảm thuế, miễn thuế.
Kết quả thu thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần quan trọng trong nguồn thu ngân sách và điều tiết thu nhập, kết quả thu thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đánh giá “sức khỏe”, hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp, sự ổn định, suy giảm hay tăng trưởng của nền kinh tế. Khái niệm, vai trò và đặc điểm kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp Để tìm hiểu về kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp, trước hết ta tìm hiểu về vai trò và đặc điểm kiểm soát thuế. Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, với sự thay đổi phương thức can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế, kiểm soát thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của kiểm soát thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Kiểm soát thuế để đảm bảo nguồn thu đúng, thu đủ và kịp thời số thuế phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
Các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước. Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện kiểm soát pháp luật Luan van 10 thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng. - Kiểm soát thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là một công cụ quan trọng để góp phần tạo sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. - Kiểm soát thuế khi nhà nước thực hiện các công cụ điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế (ví dụ: kiểm soát giá bán, giá thành sản xuất) và đời sống xã hội. Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
Ðiều 26 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Thông qua ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế.
Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật về kiểm tra thuế, Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội.
Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu.đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó. - Kiểm soát thuế khi nhà nước thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến Luan van 11 khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa.