CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG ỦY QUYEN 1. Khái niệm ủy quyền Dé hiểu được thé nào là ủy quyền, trước tiên phải hiểu rõ nguồn gốc của ủy quyền xuất phat từ đâu. Nhiều lý do khiến cho các chủ thé không thé tự mình xác lập giao dịch hoặc thực hiện công việc như: Om đau, bệnh tật, bận công việc, hay chủ thé đó là người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, v. Vì vậy, người ta đã sáng tạo ra một chế định pháp lý đó là chế định đại diện để trợ giúp xã hội nói chung.
Nhờ chế định đại diện mà người ta có thé sử dụng khả năng, tri thức, kinh nghiệm của người đại diện dé tham gia vào quan hệ pháp luật, giao dich dân sự và tiếp nhận kết quả từ hành vi pháp lý của người đó. Có hai hình thức đại diện cùng ton tại song song hiện nay, đó là: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyên. Đại diện theo pháp luật là việc đại diện được xác lập và thực hiện theo các quy định mà pháp luật đã quy định sẵn hay theo các Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể xuất phát từ quan hệ đặc biệt giữa người được đại diện và người đại diện mà phát sinh quan hệ đại diện theo pháp luật đương nhiên như quan hệ đại diện giữa cha, mẹ và con, quan hệ đại diện giữa vợ và chồng.
Cũng có thể việc đại điện do cơ quan nhà nước quyết định khi sự đại diện là cần thiết như trong trường hợp người bị hạn chế, bị mắt năng lực hành vi dân sự thì Tòa án có thê ra quyết định cử người đại diện theo pháp luật cho họ. Tất cả các căn cứ làm phát sinh quan hệ đại diện theo pháp luật như: Quy định của pháp luật, Quyết định của Tòa án như một mệnh lệnh theo đó, bên nhận ủy quyền phải phục tùng mệnh lệnh để thực hiện các công việc được giao. Căn cứ dé làm phát sinh đại điện theo pháp luật là ý chí đơn phương từ một bên (chính là Nhà nước) giao cho bên đại diện (là cá nhân 10 hoặc tô chức). Một đặc thù nữa của loại đại diện này đó là bên cạnh việc thực hiện hành vi đại diện, người đại diện còn thực hiện các chức năng khác được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người được đại diện.
Người đại diện theo pháp luật có thể ủy quyền đại diện cho người khác thực hiện một hoặc một số hành vi pháp lý cụ thể trong một thời hạn nhất định mà không có quyén giao toàn bộ quyền đại điện cho người khác. Trong trường hop này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm trước người được đại diện và các cơ quan nhà nước về việc thực hiện đúng nghĩa vụ đại diện. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự thỏa thuận giữa bên đại diện và bên được đại diện thông qua một hợp đồng, người ta gọi đó là hợp đồng ủy quyên. Đó phải là sự thỏa thuận giữa các bên về nội dung ủy quyên, hay cụ thé hơn là sự thỏa thuận của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyên về việc bên ủy quyền giao cho bên nhận ủy quyền thay minh thực hiện một, một số công việc.
Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định về việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Tùy theo tính chất của việc đại diện mà hình thức hợp đồng có thé đơn giản hoặc phức tạp. Chủ thê trong quan hệ pháp luật hay trong các giao dịch dân sự có quyền ủy quyền cho người khác có năng lực hành vi dân sự nhân danh mình và vì lợi ích của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự, trừ những trường hợp pháp luật quy định phải do chính chủ thể trong quan hệ phải thực hiện. Phạm vi ủy quyền được xác định trong hợp đồng ủy quyền.
Dé hiểu được khái niệm ủy quyền một các toàn diện va day đủ nhất, nên nhìn từ cách hiểu về ủy quyền của hai hệ thống pháp luật lớn nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đó là hệ thong Common law hay còn gọi là hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và hệ thống Civil law hay còn gọi là hệ thống pháp luật Pháp - Đức. Hai hệ thống 11 này có những đặc trưng pháp lý riêng, vì vậy mà cách tiếp cận về vấn đề ủy quyền của hai hệ thống này cũng có những điểm khác biệt. Hệ thống Civil law là hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, được xây dựng trên nền tảng đi sản của Luật La Mã (ius civile), phát triển ở các nước Pháp, Đức và một số nước lục địa Châu Âu. Trong đó pháp luật của Pháp, Đức là quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật của các nước khác trong hệ thống pháp luật này.
Theo hệ thong Civil law thì có ba điều cần thiết để tạo ra một sự ủy quyên, đó là: Phải tồn tại một công việc hay hành động là đối tượng của hợp đồng: Phải thực hiện băng hành vi; Các bên tự nguyện có ý định tham gia vào hợp đồng [9]. Hệ thống Common law là hệ thống pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mỹ và những nước là thuộc địa của Anh, Mỹ trước đây. Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ tập quán, coi trọng tiền lệ. Ủy quyền theo hệ thống pháp luật Common law là một người cử một người khác đại diện cho mình và giao cho người đó quyền hành động thay mặt mình thực hiện một hay một số hành động trong vấn đề pháp lý hoặc kinh doanh [55].
Một số tài liệu của Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về ủy quyền khá cụ thé. Theo Từ điển Tiếng Việt, ủy quyền là việc một người giao cho một người khác sử dụng một số quyền mà mình có [50. Theo định nghĩa trên thì chủ thể của quan hệ ủy quyền chỉ là “một người” và nội dung ủy quyền chỉ là “một số quyền” mà bên ủy quyền có chứ không bao gồm việc giao cho bên nhận ủy quyên việc thực hiện nghĩa vụ của bên ủy quyền. Và “một số quyền” ở đây cũng có thê hiểu rộng ra rằng không phải tất cả các quyền mà bên ủy quyên có đều có thé giao cho bên nhận ủy quyên làm thay mình.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì: Ủy quyền là giao cho người khác sử dụng quyền mà pháp luật đã giao cho mình. Ủy quyền được thực hiện băng văn bản ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền, Quyết định ủy quyền) 12 [43]. Không giống như cách định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã bó hẹp các quyền của bên ủy quyên, thay vì nội dung ủy quyền là các quyền chung chung của bên ủy quyên, thì định nghĩa này lại ghi nhận “quyền mà pháp luật giao cho” của bên ủy quyền. Và cũng như định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt, định nghĩa này cũng không đề cập đến nghĩa vụ của bên ủy quyền có được ủy quyền cho bên nhận ủy quyền hay không.
Hình thức của vấn đề ủy quyền được nhắc tới trong định nghĩa đó là: Ủy quyền bằng văn bản ủy quyền, cụ thể là Hợp đồng ủy quyền hoặc Quyết định ủy quyên. Từ những tìm hiểu và phân tích trên, tác giả xin đưa ra ý kiến về khái niệm ủy quyền như sau: Ủy quyên là việc một bên giao cho một bên khác quyền được thay mặt mình dé thực hiện một hoặc một số quyền và nghĩa vụ mà pháp luật cho phép. Khái quát chung về hợp đồng ủy quyền 1. Khái niệm hợp đồng ủy quyền Theo quy định tại Điều 1984 Bộ luật dân sự Pháp năm 1804: “Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng theo đó, một người trao cho người khác quyền thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền.
Hợp đồng ủy quyền chỉ được giao kết khi có sự đồng ý của người được ủy quyền” [52. Khái niệm về hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật Pháp khang định hợp đồng ủy quyền là “hợp đồng”. Nghia là một hop đồng ủy quyền hình thành chỉ khi có sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên tham gia hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền trước tiên mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của một hợp đồng nói chung.
Đối tượng của hợp đồng ủy quyên theo khái niệm này rất rộng, đó là công việc chung chung mà không bị giới hạn bởi điều kiện. Khi thực hiện công việc được ủy quyền, bên nhận ủy quyên chỉ “nhân danh” bên ủy quyên và vì lợi ích của bên ủy quyên. 13 Hợp đồng ủy quyền như một công cụ để xác lập quyền đại diện của bên nhận ủy quyền. Khái niệm về hợp đồng ủy quyền mà pháp luật Pháp đưa ra ngắn gọn, dễ hiểu và đã thé hiện được ban chất, đối tượng cũng như mục đích của hợp đồng ủy quyên.
Điều 662 Bộ luật dân sự Đức năm 1900 quy định về hợp đồng ủy quyền như sau: Bằng cách chấp nhận một nhiệm vụ, người được ủy quyền đồng ý thực hiện một hành động hay giao dịch cho người ủy quyền [53]. Khái niệm về hợp đồng ủy quyền của Đức khá đơn giản. Tuy không nêu rõ hợp đồng ủy quyên là hợp đồng như trong định nghĩa của pháp luật Pháp, nhưng cách định nghĩa này cũng thé hiện được nội dung: Hợp đồng ủy quyền chỉ được xác lập khi có sự thống nhất ý chí của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền, đó là bên nhận ủy quyền phải đồng ý, chấp nhận thực hiện công việc của bên ủy quyên. Đối tượng của hợp đồng ủy quyền được nêu trong khái niệm này là “hành động” hay “giao dịch”.
Cách chỉ ra hai loại đối tượng trong hợp đồng ủy quyền của pháp luật Đức được đánh giá là cụ thể hơn so với cách giới hạn đối tượng của hợp đồng ủy quyền trong định nghĩa về hợp đồng ủy quyên của nhiều nước khác. Điều 2130 Bộ luật dân sự Quebec-Canada quy định: Ủy quyền là hop đồng mà theo đó người ủy quyền trao quyền cho người được ủy quyền để đại diện cho mình trong việc thực hiện một hành động pháp lý với người thứ ba, và bằng cách thực hiện quyền lực của bên ủy quyền thì bên nhận ủy quyền đã chấp nhận việc ủy quyền đó [54]. Cấu trúc của khái niệm này khá giống VỚI khái niệm hợp đồng ủy quyền của Bộ luật dân sự Pháp.