Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống điều trị y tế tại Việt Nam, thuốc kháng sinh là một trong những nhóm dược phẩm được sử dụng phổ biến nhất với chủng loại và số lượng ngày càng đa dạng trên thị trường. Sự mở rộng của mạng lưới phân phối và cung ứng thuốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thuốc. Tuy nhiên, tình trạng một bộ phận cơ sở kinh doanh bán lẻ dược phẩm chạy theo lợi nhuận, vi phạm các quy định chuyên môn và đạo đức hành nghề, sẵn sàng bán thuốc kháng sinh mà không cần đơn thuốc của bác sĩ đã diễn ra phổ biến. Thực trạng này kết hợp với thói quen tự ý dùng thuốc, tham khảo các thông tin không chính thống trên mạng internet hoặc dùng thuốc theo kinh nghiệm truyền miệng đã dẫn đến việc sử dụng kháng sinh sai liều, sai chỉ định và sai phác đồ, thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của vi khuẩn kháng thuốc.

Trước thực trạng đó, đề tài khóa luận "Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại địa bàn huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
  2. Làm rõ thực trạng kiến thức và mức độ hiểu biết của người dân về thuốc kháng sinh tại địa bàn nghiên cứu;
  3. Đưa ra các kết luận thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, kiểm soát và cải thiện việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý trong cộng đồng.
  • Đối tượng nghiên cứu: Những người dân trực tiếp đi mua thuốc kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ thuốc (nhà thuốc/hiệu thuốc).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Thị trấn Phú Hòa và xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (đại diện cho hai khu vực đô thị/thị trấn và nông thôn).
    • Thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế, các lý thuyết dược động học/dược lực học (PK/PD), nguyên tắc MINDME trong sử dụng kháng sinh, các chỉ số sinh khả dụng đường uống, đường bài xuất của thuốc, phân loại phẫu thuật trong sử dụng kháng sinh dự phòng (phẫu thuật sạch, sạch – nhiễm, nhiễm, bẩn), và các báo cáo dịch tễ học về tình hình tiêu thụ kháng sinh toàn cầu cùng dữ liệu giám sát kháng thuốc vi khuẩn từ mạng lưới ANSORP (Asian Network for Surveillance of Resistant Pathogens).

Phương pháp nghiên cứu được thiết kế cụ thể như sau:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể: $$n = \frac{z^2 \cdot p \cdot (1 - p)}{e^2}$$ Với độ tin cậy $95%$ ($z = 1{,}96$), sai số cho phép $e = 0{,}05$, tỷ lệ ước tính chọn $p = 0{,}5$. Cỡ mẫu lý thuyết tính toán được là $n \approx 384$. Trên thực tế, tác giả đã tiến hành khảo sát đủ 384 lượt người mua thuốc kháng sinh (192 lượt tại thị trấn Phú Hòa và 192 lượt tại xã Vĩnh Trạch).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên tại 6 điểm bán lẻ thuốc: 3 điểm tại thị trấn Phú Hòa và 3 điểm tại xã Vĩnh Trạch. Lịch khảo sát được phân bổ xen kẽ giữa các ngày trong tuần (thứ 3, 5, 7 tại thị trấn Phú Hòa và thứ 2, 4, 6 tại xã Vĩnh Trạch, sau đó hoán đổi).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu tại quầy thuốc thông qua bộ phiếu khảo sát in sẵn.
  • Xử lý số liệu: Thu thập, làm sạch dữ liệu thô và phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ trên phần mềm Microsoft Excel và IBM SPSS Statistics 22.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Mở đầu

Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ việc lạm dụng kháng sinh và sự bùng phát kháng thuốc kháng sinh tại Việt Nam; nêu rõ mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi thời gian (tháng 12/2016 đến tháng 4/2017) và không gian (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang), cùng ý nghĩa thực tiễn của khóa luận.

Chương 2. Lược khảo tài liệu

Chương 2 tổng hợp các cơ sở lý luận chuyên ngành Dược học:

  • Định nghĩa và nguyên tắc: Định nghĩa kháng sinh nguồn gốc tự nhiên và tổng hợp (sulfonamide, quinolone); các nguyên tắc lựa chọn thuốc theo cá thể người bệnh (tuổi tác, tiền sử dị ứng, chức năng gan - thận, phụ nữ có thai/cho con bú) và vi khuẩn gây bệnh; chỉ định giám sát nồng độ thuốc trong máu (TDM) cho nhóm có phạm vi điều trị hẹp (aminoglycosid, polypeptide); chỉ định và thời điểm dùng kháng sinh dự phòng (trong vòng 60 phút trước rạch da); nguyên tắc điều trị theo kinh nghiệm và điều trị khi có bằng chứng vi sinh.
  • Dược động học và nguyên tắc MINDME: Tổng hợp bảng sinh khả dụng một số kháng sinh đường uống và ảnh hưởng của thức ăn (Amoxicillin: 90%, Clindamycin: 90%, Doxycyclin: 90%, Ofloxacin: 80% ít bị ảnh hưởng; Ampicillin: 40%, Lincomycin: 30%, Erythromycin: 50%, Tetracyclin: 50% bị giảm hấp thu); phân loại cơ quan bài xuất (Thận: Cefotaxim, Tetracyclin, Ofloxacin; Gan: Cefoperazol, Lincomycin, Clindamycin, Erythromycin, Azithromycin, Doxycyclin, Pefloxacin); tóm tắt nguyên tắc MINDME (Microbiology, Indication, Narrowest spectrum, Dosage, Minimum duration, Ensure monotherapy).
  • Dữ liệu tiêu thụ và đề kháng kháng sinh: Giai đoạn 2000–2010, tổng tiêu thụ kháng sinh toàn cầu tăng hơn 30% (từ 50 tỷ lên 70 tỷ SU), Penicillin và Cephalosporin chiếm gần 60% (2010); tỷ lệ gia tăng tại Việt Nam nằm trong khoảng 1–10%; số liệu ANSORP (2000–2001) cho thấy phế cầu tại Việt Nam kháng penicillin 71,4%, kháng erythromycin 92,1%; 57% cầu trực khuẩn ở bệnh nhi Hà Nội kháng ampicillin; năm 2009 có 42% chủng gram âm kháng ceftazidim, 63% kháng gentamicin, 74% kháng acid nalidixic.

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương pháp mô tả cắt ngang, địa bàn nghiên cứu (thị trấn Phú Hòa và xã Vĩnh Trạch), công thức xác định cỡ mẫu $n = 384$, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên 6 điểm bán thuốc với lịch trình khảo sát luân phiên, quy trình phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu câu hỏi in sẵn và quy trình phân tích số liệu bằng Excel kết hợp SPSS 22.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát 384 đối tượng tại hai địa bàn thông qua 23 bảng số liệu và 10 biểu đồ:

Nhóm chỉ số khảo sát Dữ liệu tổng hợp ($n = 384$) Phân bố theo địa bàn
Độ tuổi 18–60 tuổi: 85,9% ($n=330$)
<18 tuổi: 8,3% ($n=32$)
>60 tuổi: 5,7% ($n=22$)
Phú Hòa: 18–60 tuổi chiếm 84,9%
Vĩnh Trạch: 18–60 tuổi chiếm 87,0%
Giới tính Nữ: 56,0% ($n=215$)
Nam: 44,0% ($n=169$)
Phú Hòa: Nữ 52,1%, Nam 47,9%
Vĩnh Trạch: Nữ 59,9%, Nam 40,1%
Nghề nghiệp chính Nông dân: 29,2% ($n=112$)
Mua bán: 20,6% ($n=79$)
Công nhân: 15,1% ($n=58$)
Nội trợ: 11,2% ($n=43$)
Nông dân tại Vĩnh Trạch: 41,7%
Mua bán tại Phú Hòa: 27,6%
Trình độ văn hóa Cấp 3: 47,1% ($n=181$)
Cấp 2: 17,2% ($n=66$)
Đại học: 13,0% ($n=50$)
Trung cấp - CĐ: 12,5% ($n=48$)
Cấp 1: 9,4% ($n=36$)
Sau đại học: 0,8% ($n=3$)
Cấp 3 tại Phú Hòa: 50,5%
Cấp 3 tại Vĩnh Trạch: 43,8%
Tỷ lệ mua KS trên tổng người mua thuốc 37,61% (384 người mua KS / 1.021 tổng người mua thuốc) Phú Hòa: 45,82% (192/419)
Vĩnh Trạch: 31,90% (192/602)
Tình trạng đơn thuốc Không có đơn: 83,6% ($n=321$)
Có đơn bác sĩ: 16,4% ($n=63$)
Không đơn tại Vĩnh Trạch: 88,54%
Không đơn tại Phú Hòa: 78,65%
Mục đích dùng thuốc Nhiễm trùng: 51,8% ($n=199$)
Ho: 21,9% ($n=84$)
Cảm cúm, sổ mũi: 21,4% ($n=82$)
Nhức đầu: 4,9% ($n=19$)
Đúng bệnh nhiễm trùng tại Phú Hòa (61,4%) cao hơn Vĩnh Trạch (42,2%)
Nhận biết thuốc đang mua là KS Biết là kháng sinh: 47,1% ($n=181$)
Cho rằng không phải KS: 52,9% ($n=203$)
Không nhận biết là KS tại Vĩnh Trạch chiếm 64,06%, Phú Hòa chiếm 41,67%

Bên cạnh đó, chương 4 đi sâu phân tích các nhóm hành vi và nhận thức:

  • Tương quan giữa học vấn và nhận biết kháng sinh: Tỷ lệ nhận biết thuốc đang mua là kháng sinh tăng dần theo học vấn: Cấp 1 (5,56%), Cấp 2 (18,18%), Cấp 3 (49,72%), Trung cấp - Cao đẳng (72,92%), Đại học (78,0%), Sau đại học (100,0%).
  • Thói quen của nhóm mua không đơn ($n=321$): Nguồn dẫn dắt chủ yếu là do đến hiệu thuốc kể bệnh rồi mua (47,0%), từng sử dụng thuốc này trước đó (28,0%), người quen mách bảo (14,6%), tìm hiểu trên internet (10,4%). Có 82,6% cho rằng việc mua không đơn "không ảnh hưởng gì", và 23,7% tự ý điều chỉnh liều (bệnh nhẹ giảm liều, bệnh nặng tăng liều). Về thời điểm uống, 80,4% người mua cho rằng phải uống sau ăn, chỉ có 4,0% trả lời đúng là tùy từng loại thuốc.
  • Mức độ tuân thủ của nhóm mua có đơn ($n=62$): 69,4% tuân thủ theo đơn, nhưng vẫn còn 14,5% tự tăng liều để nhanh khỏi và 12,9% tự giảm liều vì sợ ảnh hưởng sức khỏe.
  • Thói quen xử lý tình huống ($n=384$): 90,88% dùng nước lọc, 2,35% dùng nước trà; 8,3% tăng liều gấp đôi khi quên thuốc; khi dùng thuốc không hiệu quả sau 1–2 ngày: 67,7% đến bác sĩ khám lại, 14,1% chuyển sang thuốc đông y, 11,2% đổi thuốc đắt tiền hơn, 7,0% tự ý tăng liều.
  • Thực trạng kiến thức ($n=384$ và $n=235$ người đã nghe về KS): Có 38,8% đối tượng chưa từng nghe nói về kháng sinh. Trong nhóm đã nghe ($n=235$), nguồn tiếp nhận thông tin là sách báo/tivi/internet (33,2%), dược sĩ (25,1%), trạm y tế (21,7%), bác sĩ (13,6%). Khả năng phân biệt thuốc còn sai lệch: 72,3% nhận biết Ampicillin, 51,1% nhận biết Amoxicillin, nhưng có 25,1% nhầm Paracetamol, 12,8% nhầm Terpin-Codein và 12,3% nhầm Decolgen là thuốc kháng sinh. Tỷ lệ chưa từng nghe về kháng thuốc vi khuẩn chiếm tới 62,1% ($n=146/235$). Về dấu hiệu nhiễm trùng, 25,1% nhầm triệu chứng ho thông thường là bệnh nhiễm khuẩn.

Chương 5. Kết luận và đề xuất

Chương 5 đúc kết các kết luận tổng thể về thực trạng lạm dụng, nhận thức sai lệch của người dân và đưa ra hệ thống kiến nghị, giải pháp đồng bộ cho 4 nhóm đối tượng: công tác phòng ngừa bệnh dịch, chiến dịch truyền thông giáo dục, đội ngũ nhân viên y tế (bác sĩ, dược sĩ nhà thuốc), và người dân tại cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Phản ánh tỷ lệ mua kháng sinh không đơn ở mức nghiêm trọng: Tỷ lệ người dân mua kháng sinh không có đơn thuốc của bác sĩ lên tới 83,6% (trong đó xã Vĩnh Trạch là 88,54%, thị trấn Phú Hòa là 78,65%).
  2. Chỉ ra tỷ lệ thiếu hụt nhận thức về dược phẩm: Có đến 52,9% người đang trực tiếp mua và sử dụng kháng sinh nhưng không hề biết đó là thuốc kháng sinh; 38,8% người dân chưa từng nghe về thuật ngữ thuốc kháng sinh; 62,1% người từng nghe về kháng sinh không biết đến hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
  3. Phát hiện những sai lầm nguy cơ cao trong hành vi sử dụng: 23,7% người mua không đơn tự ý tăng/giảm liều theo mức độ bệnh; 8,3% người tự tăng liều gấp đôi khi quên thuốc; 82,6% người mua không đơn cho rằng hành vi này hoàn toàn không có tác hại; 25,1% người nhầm lẫn thuốc hạ sốt Paracetamol là thuốc kháng sinh.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Nâng cao phòng ngừa bệnh truyền nhiễm: Phát triển hệ thống xét nghiệm chẩn đoán, đảm bảo vệ sinh môi trường, nước sạch và kiểm soát nhiễm khuẩn cộng đồng.
  • Phát triển chiến dịch truyền thông nhận thức: Tổ chức các buổi hướng dẫn dùng thuốc tại trạm y tế, phát thanh qua đài truyền thanh xã/thị trấn, in phát tờ rơi nhận diện thuốc tại quầy thuốc, chuẩn hóa nhãn thuốc cảnh báo nguy hiểm.
  • Đối với bác sĩ, dược sĩ và cơ quan quản lý: Tổ chức các khóa đào tạo lại chuyên môn và y đức; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm minh hành vi bán thuốc kê đơn không có đơn tại các cơ sở bán lẻ.
  • Đối với người dân: Tuân thủ quyền chỉ định của thầy thuốc; không dùng thuốc theo kinh nghiệm truyền miệng hoặc đơn cũ; tuyệt đối không tự ý dùng các kháng sinh thế hệ mới (Fluoroquinolon, Cephalosporin thế hệ 3, 4); dùng đủ liều và đủ thời gian điều trị.

Đóng góp của luận văn

  • Khóa luận làm sáng tỏ một cách có hệ thống thực trạng sử dụng và kiến thức về thuốc kháng sinh tại một địa bàn cấp huyện đặc trưng của tỉnh An Giang (kết hợp cả khu vực thị trấn và nông thôn).
  • Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu dịch tễ dược học và quản lý sử dụng thuốc tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát mô tả cắt ngang tại 2 đơn vị hành chính (thị trấn Phú Hòa và xã Vĩnh Trạch) với 6 điểm bán lẻ thuốc trên địa bàn huyện Thoại Sơn; chưa bao quát toàn bộ các xã trong huyện cũng như chưa khảo sát phân tích sâu vào từng đơn thuốc hoặc nhóm hoạt chất kháng sinh cụ thể được bán ra.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ tỉnh An Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; tiến hành can thiệp giáo dục truyền thông và đánh giá hiệu quả thay đổi hành vi trước - sau can thiệp của người dân và người bán thuốc; nghiên cứu chuyên sâu về các chủng vi khuẩn đề kháng thực tế tại bệnh viện tuyến huyện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Dược học, Y học và Y tế công cộng: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách xây dựng công thức tính cỡ mẫu điều tra xã hội học dược học, bộ câu hỏi phỏng vấn thực địa và kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS.
  • Cơ quan quản lý y tế địa phương (Sở Y tế An Giang, Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn): Sử dụng các số liệu thực tế về tỷ lệ mua thuốc không đơn (83,6%), nguồn thông tin người dân tiếp cận (chủ yếu qua dược sĩ nhà thuốc 47,0%) để xây dựng kế hoạch thanh tra nhà thuốc và thiết kế các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ người dân mua thuốc kháng sinh không có đơn thuốc của bác sĩ trong nghiên cứu là bao nhiêu? Tỷ lệ mua thuốc kháng sinh không có đơn thuốc chiếm 83,6% trên tổng số 384 đối tượng khảo sát (trong đó xã Vĩnh Trạch là 88,54% và thị trấn Phú Hòa là 78,65%).

2. Trình độ văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến việc nhận biết thuốc đang sử dụng là kháng sinh? Trình độ văn hóa tỷ lệ thuận rõ rệt với khả năng nhận biết: ở trình độ Cấp 1 chỉ có 5,56% người nhận biết đúng; Cấp 2 đạt 18,18%; Cấp 3 đạt 49,72%; Trung cấp – Cao đẳng đạt 72,92%; Đại học đạt 78,0% và Sau đại học đạt 100,0%.

3. Người dân mua thuốc không đơn chủ yếu dựa vào nguồn thông tin nào để quyết định dùng kháng sinh? Nguồn thông tin chủ yếu dẫn dắt người mua không đơn là trực tiếp đến hiệu thuốc kể bệnh để người bán đưa thuốc (chiếm 47,0%), tiếp theo là dựa vào việc đã từng sử dụng thuốc này trước đó (chiếm 28,0%), người quen mách bảo (14,6%) và tự tìm hiểu qua internet (10,4%).

4. Khảo sát ghi nhận những loại thuốc không phải kháng sinh nào bị người dân nhầm lẫn là kháng sinh? Trong số những người cho biết đã nghe về kháng sinh ($n=235$), có 25,1% người nhầm Paracetamol (thuốc giảm đau, hạ sốt), 12,8% người nhầm Terpin-Codein (thuốc trị ho) và 12,3% người nhầm Decolgen (thuốc điều trị cảm cúm) là thuốc kháng sinh.

5. Người dân thường xử lý như thế nào khi uống kháng sinh 1–2 ngày mà chưa thấy hiệu quả? Khi dùng thuốc không hiệu quả sau 1–2 ngày, có 67,7% người chọn đi khám bác sĩ để xác định lại bệnh; 14,1% chuyển sang dùng thuốc đông y; 11,2% đổi sang loại thuốc khác đắt tiền hơn và 7,0% tự ý tăng liều lượng thuốc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đặng Ngọc Nhi đã phản ánh toàn diện thực trạng lạm dụng và mức độ thiếu hụt kiến thức về thuốc kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang với tỷ lệ mua thuốc không đơn lên tới 83,6% và hơn 52% không nhận biết được loại thuốc mình đang sử dụng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa trình độ học vấn, vai trò tư vấn của người bán lẻ dược phẩm với thói quen sử dụng thuốc trong cộng đồng. Những số liệu thực chứng này là căn cứ thực tiễn có giá trị để ngành y tế địa phương tăng cường quản lý quy chế kê đơn, siết chặt hoạt động bán lẻ thuốc và triển khai các giải pháp truyền thông nhằm ngăn chặn nguy cơ kháng kháng sinh.