Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 2 triệu ca phẫu thuật được tiến hành tại các cơ sở y tế, trong đó tỷ lệ người bệnh mắc nhiễm khuẩn vết mổ dao động từ 5% đến 10%, với hơn 90% trường hợp là nhiễm khuẩn vết mổ nông và sâu. Tỷ lệ nhiễm khuẩn ngoại khoa tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thường cao hơn từ 2 đến 3 lần so với các nước phát triển, làm kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng chi phí điều trị và nâng cao tỷ lệ tử vong.

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam là cơ sở khám chữa bệnh hạng II trực thuộc Bộ Y tế với quy mô tăng trưởng từ 450 giường năm 2011 lên 660 giường năm 2021. Đi cùng sự phát triển về năng lực can thiệp ngoại khoa, vấn đề quản lý sử dụng thuốc kháng sinh tại khoa Ngoại Tổng hợp đối mặt với nhiều thách thức lớn. Việc chưa ban hành phác đồ kháng sinh dự phòng thống nhất dẫn đến nguy cơ lạm dụng thuốc, phát sinh tác dụng không mong muốn và gia tăng áp lực chọn lọc vi khuẩn đa kháng thuốc.

Được thực hiện bởi học viên Lương Thu Hiền dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư Nguyễn Hoàng Anh và Tiến sĩ Phan Tấn Quang tại Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2024, luận văn thạc sĩ Dược học chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng đã tập trung giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: phân tích mức độ tiêu thụ kháng sinh tại khoa Ngoại Tổng hợp giai đoạn 2020 - 2023 và đánh giá đặc điểm sử dụng kháng sinh trên 143 bệnh nhân phẫu thuật sạch, sạch - nhiễm trong 6 tháng đầu năm 2023. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng thiết yếu nhằm tối ưu hóa chỉ số tiêu thụ kháng sinh và thúc đẩy chương trình quản lý kháng sinh bệnh viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống lý thuyết và hướng dẫn thực hành y dược chuẩn mực quốc tế và quốc gia:

  • Hệ thống Giám sát Quốc gia về Nhiễm khuẩn Bệnh viện của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ: Ứng dụng chỉ số nguy cơ gồm 3 biến số thành phần là điểm tình trạng người bệnh theo Hội Gây mê Hoa Kỳ (thang điểm ASA từ 1 đến 5), phân loại vết mổ theo nguy cơ nhiễm khuẩn và thời gian phẫu thuật vượt ngưỡng tứ phân vị 75%.
  • Phân loại phẫu thuật theo Altemeier: Xác định nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ qua 4 mức độ gồm phẫu thuật sạch (tỷ lệ nhiễm 1% đến 5%), sạch - nhiễm (5% đến 10%), nhiễm (10% đến 15%) và bẩn (trên 25%). Kháng sinh dự phòng được chỉ định tuyệt đối cho nhóm sạch - nhiễm và có chọn lọc cho nhóm sạch.
  • Hướng dẫn của Hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ năm 2013 và Tổ chức Y tế Thế giới năm 2016: Chuẩn hóa các tiêu chí chỉ định, hoạt chất ưu tiên, liều lượng, đường dùng tĩnh mạch, thời điểm đưa liều đầu trong vòng 120 phút trước rạch da và thời gian duy trì dưới 24 giờ sau mổ.
  • Công cụ phân loại kháng sinh AWaRe của Tổ chức Y tế Thế giới: Phân chia thuốc thành 3 nhóm Tiếp cận (Access), Theo dõi (Watch) và Dự trữ (Reserve) nhằm hướng tới mục tiêu tối thiểu 60% lượng thuốc tiêu thụ thuộc nhóm Tiếp cận.
  • Khái niệm cốt lõi: Kháng sinh dự phòng là việc đưa thuốc trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm đạt nồng độ mô vượt nồng độ ức chế tối thiểu tại thời điểm rạch da. Nhiễm khuẩn vết mổ là nhiễm trùng xuất hiện trong vòng 30 đến 90 ngày chu phẫu. Đơn vị đo lường liều xác định hàng ngày trên 1000 ngày nằm viện là thước đo định lượng chuẩn hóa mức tiêu thụ thuốc.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu: Cơ sở dữ liệu xuất nhập kháng sinh truy xuất từ phần mềm quản lý Khoa Dược, thống kê ngày điều trị nội trú từ Phòng Kế hoạch tổng hợp và hồ sơ bệnh án lưu trữ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phân tích hồi cứu định lượng mức tiêu thụ kháng sinh thông qua chỉ số liều xác định hàng ngày trên 1000 ngày nằm viện trong 4 năm (giai đoạn 2020 - 2023) và nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu đánh giá tính phù hợp theo tiêu chí chuẩn trong 6 tháng (từ ngày 01/01/2023 đến 30/06/2023).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Thu thập toàn bộ 143 hồ sơ bệnh án đạt tiêu chuẩn từ tổng số 322 bệnh nhân xuất viện sau khi loại trừ 9 bệnh án không tiếp cận được và 39 bệnh nhân dưới 18 tuổi. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao, tập trung chính xác vào đối tượng bệnh nhân phẫu thuật sạch và sạch - nhiễm có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng.
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, biểu thị dưới dạng tỷ lệ phần trăm, trung vị và khoảng tứ phân vị cho các biến số không tuân theo phân phối chuẩn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tiêu thụ kháng sinh tại khoa Ngoại Tổng hợp luôn duy trì ở mức cao, gấp khoảng 2 lần so với mức trung bình toàn viện trong suốt giai đoạn 2020 - 2023. Điển hình trong năm 2022, suất tiêu thụ tại khoa đạt 787 đơn vị liều trên 1000 ngày nằm viện so với mức 359 đơn vị của toàn viện. Nhóm Cephalosporin thế hệ 3, nhóm Penicillin kết hợp chất ức chế men và dẫn xuất Imidazol chiếm tỷ trọng chi phối.

Thứ hai, cơ cấu tiêu thụ theo công cụ AWaRe bị mất cân đối nghiêm trọng. Nhóm Theo dõi (Watch) luôn chiếm tỷ trọng tiêu thụ áp đảo so với nhóm Tiếp cận (Access), đi ngược lại khuyến cáo duy trì tối thiểu 60% nhóm Tiếp cận của Tổ chức Y tế Thế giới. Nhóm Dự trữ (Reserve) chỉ xuất hiện với tỷ lệ nhỏ trong năm 2021.

Thứ ba, khảo sát 143 ca phẫu thuật sạch và sạch - nhiễm ghi nhận độ tuổi trung vị là 49 tuổi, tỷ lệ nam giới chiếm 58,7%, bệnh mắc kèm chiếm 60,1% (chủ yếu là bệnh dạ dày 31,5% và tim mạch 22,4%). Phẫu thuật sạch - nhiễm chiếm 80,4%, phẫu thuật sạch chiếm 19,6%; hình thức mổ nội soi chiếm ưu thế với 71,3% và mổ ruột thừa chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,4%.

Thứ tư, tình trạng lạm dụng kháng sinh phổ rộng diễn ra phổ biến. Ceftriaxon (Cephalosporin thế hệ 3) là hoạt chất được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ 58,3% trước phẫu thuật, 61,7% trước rạch da và 61,5% sau phẫu thuật. Trong khi đó, kháng sinh Cephalosporin thế hệ 2 đúng khuyến cáo như Cefoxitin chỉ chiếm 27,7% ở thời điểm trước rạch da. Hầu hết các ca bệnh đều duy trì kháng sinh nhiều ngày sau mổ thay vì dừng trong vòng 24 giờ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này xuất phát từ thói quen kê đơn theo kinh nghiệm, tâm lý lo ngại rủi ro nhiễm trùng của phẫu thuật viên, sự thiếu vắng phác đồ kháng sinh dự phòng được phê duyệt nội bộ và thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa khoa Gây mê Hồi sức, khoa Ngoại và Dược lâm sàng.

So sánh với các nghiên cứu can thiệp cho thấy hiệu quả rõ rệt của chương trình quản lý kháng sinh: tại Bệnh viện Bình Dân, can thiệp giám sát đã nâng tỷ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng hợp lý từ 27,5% lên 63,8%; tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ tuân thủ toàn bộ tiêu chí đạt 77,2%; một nghiên cứu tại Pakistan ghi nhận tỷ lệ tuân thủ tăng từ 1,3% lên 12,4% sau can thiệp đào tạo.

Để phục vụ quản trị bệnh viện, toàn bộ dữ liệu tiêu thụ có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột đa trục biểu diễn biến động chỉ số liều tiêu thụ theo thời gian, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu các nhóm thuốc theo phân loại AWaRe và bảng nhiệt phân tầng nguy cơ theo thang điểm NNIS. Cách tiếp cận trực quan này giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị dễ dàng nhận diện điểm nóng lạm dụng kháng sinh và ban hành can thiệp đích.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng và ban hành hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng chuẩn hóa: Hội đồng Thuốc và Điều trị chủ trì phối hợp với Khoa Ngoại Tổng hợp và Dược sĩ lâm sàng ban hành danh mục chỉ định và lựa chọn hoạt chất ưu tiên cho từng nhóm phẫu thuật. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ kê đơn Cephalosporin thế hệ 3 trong phẫu thuật sạch và sạch - nhiễm xuống dưới 10%, đồng thời nâng tỷ lệ lựa chọn kháng sinh đúng phác đồ đạt trên 75% trong giai đoạn Quý I và Quý II năm 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình tiêm kháng sinh chu phẫu và thời điểm dừng thuốc: Khoa Gây mê Hồi sức cùng Khoa Dược triển khai bảng kiểm an toàn phẫu thuật, bảo đảm 100% liều kháng sinh đầu tiên được truyền tĩnh mạch trong vòng 30 đến 120 phút trước khi rạch da. Thiết lập quy định ngừng kháng sinh dự phòng trong vòng 24 giờ sau mổ, hướng tới mục tiêu đạt trên 80% ca phẫu thuật sạch và sạch - nhiễm không dùng kháng sinh kéo dài, áp dụng từ Quý III năm 2025.

Thứ ba, nâng cao năng lực giám sát vi sinh và ứng dụng công nghệ thông tin: Khoa Vi sinh định kỳ 6 tháng một lần cung cấp dữ liệu kháng sinh đồ cho toàn viện. Phòng Công nghệ thông tin tích hợp phần mềm cảnh báo đơn thuốc tự động trên hệ thống bệnh án điện tử, phấn đấu đưa tỷ trọng tiêu thụ kháng sinh nhóm Tiếp cận (Access) đạt trên 60% tổng lượng thuốc sử dụng theo chuẩn quốc tế trong giai đoạn 2025 - 2026.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác đào tạo liên tục và phản hồi lâm sàng: Ban Quản lý sử dụng kháng sinh tổ chức tập huấn thường niên cho 100% nhân viên y tế khối ngoại khoa, thực hiện đánh giá định kỳ việc tuân thủ kê đơn hàng tháng và gửi báo cáo phản hồi trực tiếp cho phẫu thuật viên từ năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Dược sĩ lâm sàng và thành viên Hội đồng Thuốc & Điều trị: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh trong việc phân tích mức độ tiêu thụ thuốc thông qua chỉ số DDD/1000 ngày nằm viện và bộ tiêu chuẩn đánh giá tính hợp lý của kháng sinh dự phòng theo hướng dẫn quốc tế, làm căn cứ xây dựng danh mục thuốc bệnh viện tối ưu.

Thứ hai, Bác sĩ phẫu thuật ngoại khoa và bác sĩ gây mê hồi sức: Cung cấp các bằng chứng lâm sàng xác thực về việc tối ưu hóa thời điểm dùng thuốc trước rạch da và thời gian dừng kháng sinh trong 24 giờ, giúp thay đổi thói quen dùng kháng sinh bao vây kéo dài trên 143 ca phẫu thuật thực tế.

Thứ ba, Lãnh đạo bệnh viện và cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn: Cung cấp mô hình khảo sát thực trạng 2 giai đoạn kết hợp giữa dữ liệu tiêu thụ vĩ mô 4 năm và phân tích bệnh án vi mô 6 tháng, hỗ trợ hoạch định chính sách quản lý kháng sinh và giảm thiểu chi phí y tế.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng: Là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về thiết kế nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc, cách áp dụng các thang điểm nguy cơ như ASA, NNIS và phân loại AWaRe trong nghiên cứu dược bệnh viện.

Câu hỏi thường gặp

Lợi ích cốt lõi của việc sử dụng kháng sinh dự phòng đúng quy chuẩn trong phẫu thuật là gì? Kháng sinh dự phòng đúng quy chuẩn giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ từ 2 đến 3 lần, rút ngắn thời gian điều trị và tiết kiệm chi phí nằm viện. Mục tiêu của liệu pháp là ức chế vi khuẩn xâm nhiễm tại vị trí rạch da trong thời gian can thiệp chứ không phải để điều trị nhiễm khuẩn toàn thân.

Chỉ số DDD trên 1000 ngày nằm viện phản ánh điều gì trong nghiên cứu? Chỉ số này chuẩn hóa lượng tiêu thụ thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, giúp so sánh chính xác mức độ sử dụng kháng sinh qua các năm 2020 - 2023 mà không bị sai lệch bởi biến động giá thuốc hay quy mô giường bệnh, ví dụ mức tiêu thụ 787 đơn vị tại khoa Ngoại năm 2022.

Tại sao không nên lạm dụng Cephalosporin thế hệ 3 làm kháng sinh dự phòng? Cephalosporin thế hệ 3 thuộc nhóm Theo dõi (Watch) có phổ kháng khuẩn rộng. Việc lạm dụng chiếm trên 58% trước mổ như ghi nhận trong nghiên cứu làm gia tăng vi khuẩn gram âm kháng thuốc, tăng nguy cơ tiêu chảy do Clostridium difficile và gây quá tải ngân sách y tế.

Thời điểm và thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng chuẩn theo khuyến cáo quốc tế là bao lâu? Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ, liều kháng sinh đầu tiên phải đưa trong vòng 120 phút trước khi rạch da (tối ưu từ 30 đến 60 phút) và bắt buộc ngừng sử dụng hoàn toàn trong vòng 24 giờ sau khi kết thúc phẫu thuật.

Công cụ phân loại AWaRe đóng vai trò gì trong quản lý kháng sinh bệnh viện? Công cụ AWaRe phân loại kháng sinh thành ba nhóm Tiếp cận, Theo dõi và Dự trữ. Đây là thước đo chiến lược giúp các nhà quản lý giám sát mức độ ưu tiên sử dụng nhóm Tiếp cận đạt trên 60%, đồng thời kiểm soát chặt chẽ nhóm Theo dõi và bảo tồn nhóm Dự trữ.

Kết luận

  • Mức độ tiêu thụ kháng sinh tại khoa Ngoại Tổng hợp giai đoạn 2020 - 2023 cao gấp khoảng 2 lần mức trung bình toàn viện, với sự áp đảo của nhóm Cephalosporin thế hệ 3.
  • Cơ cấu tiêu thụ theo AWaRe chưa đạt chuẩn khi nhóm Theo dõi (Watch) chiếm ưu thế lớn, đi ngược mục tiêu tối thiểu 60% nhóm Tiếp cận (Access) của Tổ chức Y tế Thế giới.
  • Khảo sát 143 bệnh án cho thấy tỷ lệ phẫu thuật sạch - nhiễm chiếm 80,4%, phẫu thuật nội soi chiếm 71,3% và phẫu thuật ruột thừa chiếm 52,4%.
  • Thực trạng sử dụng kháng sinh dự phòng tồn tại nhiều bất cập: lạm dụng Ceftriaxon chiếm trên 60% ở các thời điểm và thời gian dùng thuốc kéo dài nhiều ngày sau mổ vượt quá 24 giờ.
  • Đạt hiệu quả điều trị với 100% bệnh nhân xuất viện trong tình trạng khỏi hoặc đỡ giảm, không ghi nhận ca nhiễm khuẩn vết mổ lâm sàng trong thời gian nội trú.

Luận văn thạc sĩ của học viên Lương Thu Hiền đã đóng góp nguồn dữ liệu khoa học thực chứng quý giá, phác họa bức tranh toàn cảnh về thực trạng sử dụng kháng sinh ngoại khoa. Đây là tiền đề cấp thiết để Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam xây dựng phác đồ chuẩn hóa từ năm 2025. Ban Giám đốc và các khoa phòng lâm sàng cần nhanh chóng triển khai các giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm tối ưu hóa an toàn điều trị và ngăn chặn sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.