Chương 1: Lý luận về hành vi tự hủy hoại của vị thành niên; Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng hành vi tự hủy hoại bản thân của vị thành niên ở đô thị phía Nam, Việt Nam; Chương 4: Biện pháp phòng ngừa hành vi tự hủy hoại bản thân của vị thành niên ở đô thị phía Nam, Việt Nam. LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ HỦY HOẠI BẢN THÂN CỦA VỊ THÀNH NIÊN Chương này sẽ trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu về hành vi tự huỷ hoại trong và ngoài nước, trình bày cơ sở lý luận về hành vi tự huỷ hoại bản thân bao gồm khái niệm, phân loại, biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này, đặc điểm tâm lý ở VTN và biểu hiện hành vi tự huỷ hoại bản thân ở VTN. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành vi tự huỷ hoại Trong 20 năm qua, vấn đề nghiên cứu về tự hủy hoại được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm, nhiều công trình được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn có thể khái quát lại 3 nhóm nghiên cứu chính: 1. Các nghiên cứu về biểu hiện và mức độ hành vi tự hủy hoại của vị thành niên Trong vấn đề nghiên cứu về biểu hiện hành vi tự hủy hoại, tiếp cận đầu tiên là các nhà nghiên cứu phân tích rõ các biểu hiện có liên quan và cố gắng phân biệt giữa hành vi tự sát và hành vi tự hủy hoại.
Vào cuối những năm 1930, Karl Menninger đầu tiên đã mô tả một hiện tượng được gọi là “Hội chứng cắt cổ tay”. Năm 1952, Erwin Stengel đã giới thiệu khái niệm “cố gắng tự tử” nhưng phân biệt với “hành vi tự sát”, “có chủ ý tự đầu độc” và “cố ý tự gây thương tích”. Các quan điểm ban đầu cho thấy tự làm hại bản thân và cố gắng tự tử thường là được sử dụng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, phần lớn của nghiên cứu cho thấy rằng tự hủy hoại trong hầu hết các trường hợp thường có không liên quan gì đến ý định tự tử.
Một số tác giả phân biệt tự hủy hoại (Self - harm) với tự gây thương tích hay tự làm tổn thương (Non - suicidal self - injury), cho rằng bản thân tự gây thương tích là một danh mục con rời rạc về tự hủy hoại (Sebree và Popkess - Vawter, 1991). Trước đây, hành vi tự gây tổn thương thường được xem như một phần của Rối loạn nhân cách ranh giới, nhưng các nghiên cứu gần đây đã cho thấy tự làm tổn thương đi cùng nhiều vấn đề tâm lý khác bao gồm lo âu, trầm cảm, ý tưởng tự sát, cũng như nhiều rối loạn nhân cách (In - Albon, Ruf, và Schmid, 2013). Nói cách khác, bản thân tự làm tổn thương cần được xem xét như một vấn đề sức khỏe tâm thần độc lập. Vì lí do đó, Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các 8 rối loạn tâm thần DSM - 5 của APA đã đưa ra phân loại cùng các tiêu chuẩn chẩn đoán riêng biệt cho tự làm tổn thương.
Trong phần tổng quan các nghiên cứu trên thế giới này, luận án sẽ chủ yếu tập trung vào tự hủy hoại (Self - harm) hoặc cố ý tự hủy hoại (Deliberate self - harm). Nghiên cứu về biểu hiện hành vi tự hủy hoại của vị thành niên Trên thế giới, nghiên cứu về biểu hiện hành vi tự hủy hoại thường được nghiên cứu song hành với mục tiêu xác định mức độ tự hủy hoại bản thân. De Leo và Heller (2004) tiến hành một cuộc khảo sát trường học ở Úc cho thấy các phương pháp chính là tự cắt (59,2%) và dùng thuốc quá liều (29,6%). Khoảng 80% các vụ tự hủy hoại liên quan đến việc tự đầu độc.
Phương pháp phổ biến nhất là dùng quá liều paracetamol, phổ biến ở nhóm tuổi trẻ hơn; thuốc chống trầm cảm ở nhóm tuổi trung niên; benzodiazepine và thuốc an thần ở các nhóm tuổi lớn hơn. Nghiên cứu này cũng góp phần làm rõ hơn vấn đề tự hủy hoại có nguy cơ xuất hiện nhiều hơn ở lứa tuổi VTN (Hawton, Bergen, Casey, Simkin, Palmer, Cooper, J. Hawton, Bergen, Kapur, Cooper, Steeg, Ness, và Waters (2012) cho thấy rằng sự lặp lại có liên quan đến tuổi tác, hành vi tự cắt, tự gây hại trước đó và điều trị tâm thần. Trong số 51 trường hợp tử vong ở những người xuất hiện từ năm 2000 đến năm 2007 và được theo dõi cho đến năm 2010) một nửa (49,0%) là tự tử.
Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu kết luận tự cắt tóc như một phương pháp tự gây hại ở trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ tự tử (và lặp lại) cao hơn so với việc tự đầu độc mặc dù các phương pháp khác nhau thường được sử dụng để tự sát. Người bệnh luôn có khuynh hướng làm chính bản thân mình bị đau. Họ sẵn sàng dùng dao cắt vào tay chân, bứt tóc, đốt da hoặc cào cấu cơ thể, đấm tay vào tường… Kendall nhận định: “Khi một người với nhiều vết cắt, vết đốt trên cơ thể hay tóc của họ ngày một ít đi, rất có thể người đó đã bị mắc bệnh Self harm” (Kendall và cộng sự, 2011). Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cũng đề cập đến các biểu hiện tự hủy hoại như cố tình đánh bản thân, tự cắn mình, giựt tóc, cắt da, làm bỏng da, làm trầy xước da (Huỳnh Văn Sơn và cs, 2017; Thái Thành Trúc và cs, 2021).
Riêng với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn và cs (2017), còn nghiên cứu các biểu hiện tự hủy hoại theo nghĩa rộng hơn bao gồm cả những suy nghĩ bi quan, tự hạ thấp bản thân và cho phép người khác làm tổn thương CX của mình… Đây là một tiếp cận mang tính tiếp cận từ góc độ sức khỏe tâm thần và góp phần trong việc 9 để xuất các chiến lược ứng phó với hành vi này từ góc độ nâng đỡ CX và giáo dục kỹ năng sống để điều chỉnh tư duy tiêu cực và các niềm tin phi lí ở bản thân VTN. Trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến sức khỏe tâm thần cho HS thì hướng tiếp cận này ý nghĩa và đề tài tiếp tục kế thừa tiếp cận này. Nghiên cứu về mức độ hành vi tự hủy hoại của vị thành niên Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc khái quát tỉ lệ % và có khá ít các công trình đề cập đến các mức độ cụ thể. Vì vậy, trong phần tổng quan này sẽ khái quát các nghiên cứu về mức độ VTN tự hủy hoại bản thân qua các số liệu %.
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy mức độ VTN tự hủy hoại có mức độ từ 6% trở lên, mức độ thể hiện khác nhau trong các nghiên cứu trên nhiều quốc gia. Khảo sát tự báo cáo tại các trường học ở Anh được tiến tại Anh với 6020 HS từ 15 đến 16 tuổi có 398 (6,9%) tự hủy hoại (Hawton, Rodham, Evans và Weatherall, 2002). De Leo và Heller (2004) tiến hành một cuộc khảo sát trường học ở Úc về thực trạng tự hủy hoại. Cùng năm, một nghiên cứu khác khảo sát trên 3757 trong số 4097 HS lớp 10 và lớp 11 (91,7%) từ 14 trường trung học ở Gold Coast, Queensland cho thấy 233 HS (6,2%) đáp ứng các tiêu chí về hành vi tự làm hại mình 12 tháng trước.
Một nghiên cứu vào năm 2003 của Klonsky, Oltmanns và Turkheimer (2003) nghiên cứu trên 1.986 người cho thấy có khoảng 4% người tham gia nghiên cứu có tiền sử tự hủy hoại. Đến năm 2005, Laye - Gindhu và Schonert - Reichl (2005) tiến hành khảo sát trên 424 thanh thiếu niên cho thấy có 15% thanh thiếu niên cho biết đã tham gia vào hành vi tự hủy hoại. McMahon, Reulbach, Corcoran, Keeley, Perry và Arensman (2010) với nghiên cứu thực hiện trên 3.881 thanh thiếu niên ở 39 trường học, có 53,1% HS 16 tuổi. Dựa trên các phân tích đa dạng, các yếu tố quan trọng liên quan đến tự hủy hoại ở cả hai giới là việc sử dụng ma túy và biết một người bạn đã tự làm hại bản thân.
Sau 2005, một số nghiên cứu trên thế giới vấn tập trung vào mục tiêu chỉ rõ thực trạng của hành vi này. Các nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ tự hủy hoại bản thân cao hơn dần so với những năm trước đó và mức độ thể hiện đa dạng trong những nền văn hóa khác nhau. Hawton, Bergen, Casey, Simkin, Palmer, Cooper, J. và Owens (2007) tiến hành nghiên cứu “Tự hủy hoại ở 3 Tp.
tại nước Anh” cho thấy 57,0% tự 10 hủy hoại xuất hiện trên nữ giới và 2/3 (62,9%) dưới 35 tuổi được khảo sát trên 2008 HS từ 15 - 16 tuổi cho thấy 13,8% số người được hỏi cho biết đã tự hủy hoại. Khảo sát tại một số nước Châu Âu vào năm 2008, nghiên cứu tiến hành trên 30.000 người ở độ tuổi 15 và 16, tại trường học ở Úc, Bỉ, Anh, Hungary, Ireland, Hà Lan và Na Uy cho thấy việc ở nữ nhiều gấp đôi so với nam. Ở bốn trong số bảy quốc gia, ít nhất 1/10 phụ nữ đã tự làm hại mình trong năm trước (Madge, Hewitt, Hawton, Wilde, Corcoran, Fekete,. Một đánh giá có hệ thống về các nghiên cứu được thực hiện trên các mẫu cộng đồng thanh thiếu niên từ năm 2005 đến năm 2011 đã báo cáo tỷ lệ mắc tự làm tổn thương tổng thể trên toàn thế giới là 17,2% (Swannell SV, Martin GE, Trang A, Hasking P, St John NJ, 2014).
Đặc biệt, khi nghiên cứu về mức độ hành vi tự hủy hoại, các nhà nghiên cứu trên thế giới còn quan tâm đến việc chỉ ra mức độ tái diễn hành vi này ở VTN trong nhiều năm. Trong khía cạnh này, có thể đề cập đến một số nghiên cứu như: Hawton, Bergen, Kapur, Cooper, Steeg, Ness, và Waters (2012) phát hiện từ nghiên cứu đa trung tâm về tự hủy hoại ở Anh đã cho thấy sự lặp lại tự hủy hoại xảy ra ở 27,3% cá nhân (N = 3920), những người đã trình bày từ năm 2000 đến 2005 và được theo dõi cho đến năm 2007. Phân tích đa biến cho thấy rằng sự lặp lại có liên quan đến tuổi tác, hành vi tự cắt, tự gây hại trước đó và điều trị tâm thần. Trong số 51 trường hợp tử vong ở những người xuất hiện từ năm 2000 đến năm 2007 và được theo dõi cho đến năm 2010 (N = 5133) một nửa (49,0%) là tự tử.